Các nhà văn xưa với câu đối tết

0

Câu đối là một hình thức văn học độc đáo. Mỗi câu đối là một sáng tạo nghệ thuật, hay về ý đẹp về lời, được mọi người yêu thích và phổ cập trong dân gian. Hầu như nhà văn nào của Việt Nam xưa cũng đều làm câu đối tết.

Nữ sỹ Xuân Hương, người làng Khán Xuân, ven Hồ Tây, Hà Nội, có sức sống mãnh liệt đầy giới tính. Câu đối tết của bà ngoài ý nghĩa đen còn có ý nghĩa bóng thấm đượm tình cảm nam nữ:

– Tối ba mươi khép cánh kiền khôn, ních chặt lại kẻo ma vương bồng quỷ tới.

– Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ bế xuân vào.

Bà Huyện Thanh Quan, người làng Nghi Tàm, huyện Hoàng Long, chồng làm tri huyện Thanh Quan dưới triều Minh Mạng. Văn chương bà hàm súc nghiêm trang, nên câu đối của bà cũng mang tính chất văn chương bác học:

– Duyên với văn chương nên dán chữ.
– Nợ gì trời đất phải trồng nêu?

Nguyễn Công Trứ, người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, 40 tuổi mới thi đỗ Giải Nguyên, làm quan cả văn lẫn võ, tính cách ngang tàng, phóng túng, tuy có công song không được tin dùng, luôn bị thăng giáng nên vẫn sống nghèo túng. Câu đối tết cũng phản ánh cuộc sống đời thường phóng khoáng của ông:

– Chiều ba mươi nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa.
– Sáng mồng một rượu say túy lúy, dang tay bồng ông Phúc vào nhà.

Nhà thơ Nguyễn Khuyến, người làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, Hà Nam, đỗ Giải Nguyên nên thường gọi là Tam Nguyên Yên Đổ. Ông làm quan đến Tổng Đốc. Năm 1884 không muốn hợp tác với Pháp, ông cáo quan về nhà ở ẩn. Câu đối tết sau đây phản ánh tâm trạng của ông:

– Tối ba mươi, nghe pháo nổ, ờ… ờ… Tết!
– Sáng mồng một, chạm nêu đánh cộc, à… à… Xuân!

Nhà thơ đau mắt, bị loà không trông thấy cảnh vui ngày tết mà chỉ cảm nhận thấy tết, thấy xuân qua thính giác và xúc giác. Tuy nhiên ông vẫn nhìn đời bằng con mắt lạc quan tích cực:

– Có là bao? Ba vạn sáu ngàn ngày được trăm bận tết.
– Ước gì nhỉ? Một năm mười hai tháng cả bốn mùa xuân.

Trần Tế Xương, người làng Vị Xuyên, Nam Định, đỗ tú tài năm 1894, nên còn gọi là Tú Xương, giọng văn mỉa mai châm biếm:

– Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo!
– Nhân tình bạc thế lại bôi vôi!

Không thành đạt, ông sống trong cảnh nghèo túng nên câu đối tết của ông cũng phản ánh cuộc sống bần hàn cơ cực:

– Nực cười thay! nêu không, pháo không, vôi bột cũng không, mà tết!
– Thôi cũng được! rượu có, nem có, bánh chưng vẫn có, thừa chơi!

Tết đến với mọi nhà, mọi người. Chùa chiền, Tăng sỹ cũng thấy vui khi chúa xuân về, cũng cảm hứng làm đôi câu đối tết:

– Lá phướn phất ngang trời, bốn bể đều trông nêu Phật.
– Tiếng chuông kêu dậy đất, mười phương cũng tưởng pháo Sư.

Nhà thơ Nguyễn Bính, lúc sinh thời cũng khó khăn về kinh tế. Câu đối sau đây đăng ở báo Phong Hóa, số tết 1934, phản ánh tâm trạng vui mừng của nhà thơ, có một sắc thái riêng:

– Tết tung túng tắng tiền tiêu Tết.
– Xuân xiếc xênh xang sắm sửa Xuân.

Đẹp thay, thú chơi câu đối của các bậc tiền nhân. Ngày nay, thú chơi này vẫn còn gìn giữ được trong các gia đình Việt Nam, vào ngày tết, cũng như trong các số báo xuân vẫn không thể thiếu vắng câu đối tết.

TET2012

Share.

Leave A Reply

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.