Hệ thống các phép Thiền Định – Bài 5: Sự nhận thức điên loạn và sự nhận thức đúng đắn

Vài lời giới thiệu của người chuyển ngữ:

Loạt bài chuyển ngữ dưới đây là cố gắng của một Thiền Sư vô cùng uyên bác và lỗi lạc là Urgyen Sangharakshita, nhằm hệ thống hóa thật mạch lạc và sâu sắc các phép luyện tập thiền định nêu lên trong Giáo huấn của Đức Phật và cả trong các học phái Phật giáo Đại thừa.

Urgyen Sangharakshita (1925-2018) gốc người Anh, tên thật là Dennis Lingwood, có một trí thông minh khác thường, thường được xem là một trong số các nhà sư uyên bác nhất trong thế kỷ XX. Ông viên tịch vào tháng 10 năm 2018 trong sự kín đáo và đã để lại cho chúng ta khoảng 60 quyển sách và hàng trăm bài giảng vô cùng giá trị. Tại Anh quốc, ông khởi sự tu tập theo Phật giáo Theravada, nhưng sau đó thì sang Ấn Độ và lưu lại đây suốt hai mươi năm, trong thời gian này ông từng tiếp xúc và học hỏi với nhiều nhà sư Tây Tạng nổi tiếng. Tại đây ông cũng đã hợp tác với Bhimrao Ramji Ambedkar (1891-1956) bộ trưởng và thủ tướng Ấn, để tổ chức quy y tập thể cho những người tiện dân. Nhà sư Sangharakshita cũng là vị sáng lập “Hiệp Hội Phật Giáo Tam Bảo” (Triratna Buddhist Community) chuyên giảng dạy về thiền định. Hiệp hội này cũng còn mang một tên khác là “Hội Thân Hữu Dòng Tu Phật Giáo Tây Phương” (Friends of the Western Buddhist Order / FWBO), có mặt trên 30 quốc gia trên thế giới.

Loạt bài về thiền định của nhà sư Urgyen Sangharakshita được chuyển ngữ dưới đây được trích ra từ một quyển sách của ông mang tựa: “Hướng dẫn trên đường tu tập Phật Giáo” (A Guide to the Buddhist Path, Windhorse Publications,1990). Trong sách này, nhà sư Urgyen Sangharakshita lựa chọn các phương pháp luyện tập trung thực và quan trọng nhất tạo thành một hệ thống mạch lạc, chính xác và sâu sắc về phép luyện tập cốt lõi này của Phật giáo. Hệ thống thiền định này gồm chung trong mười bài giảng, trích ra từ một chương mang tựa “Hệ thống các phép thiền định” (A system of meditation) của quyển sách. Bản chuyển ngữ tiếng Việt được dựa vào bản dịch tiếng Pháp của Christian Richard 2004. Độc giả có thể tham khảo bản tiếng Pháp này trên trang mạng: http://www.centrebouddhisteparis.org/Meditation/Systeme_de_meditation/systeme_de_meditation.html

Đức Đạt-lai Lạt-ma và nhà sư Sangharakshita
(Ảnh chụp tại Luân Đôn – năm 2008)

 

HỆ THỐNG CÁC PHÉP THIỀN ĐỊNH
Un système de méditation

Urgyen Sangharakshita
Hoang Phong chuyển ngữ

Bài 1: Phép chú tâm dựa vào hơi thở.
Bài 2: Phép thiền định về sáu thành phần.
Bài 3: Bốn giai đoạn trong hệ thống thiền định.
Bài 4: Năm phương pháp thiền định căn bản nhất.
Bài 5: Sự nhận thức điên loạn và sự nhận thức đúng đắn.
Bài 6: Các cấp bậc cảm nhận và phi cảm nhận về cái tôi.
Bài 7: Bốn thể dạng vô biên của tâm thức.
Bài 8: Các cấp bậc dhyana liên quan đến thế giới hình tướng và vô hình tướng.
Bài 9: Cách biểu trưng về năm thành phần trong các bảo tháp.
Bài 10: Năng lực của năm thành phần.

Bài 5
Sự nhận thức điên loạn và sự nhận thức đúng đắn

Vậy sự nhận thức điên loạn (alienated awareness) và sự nhận thức đúng đắn là gì? Sự nhận thức hòa nhập (integrated awareness) là gì? Sự nhận thức này hòa nhập với cái gì? Khi nào chúng ta giải đáp thỏa đáng được các thắc mắc ấy thì bản chất khác biệt giữa “sự nhận thức điên loạn” và “sự nhận thức hòa nhập” sẽ hiện ra rõ rệt hơn.

Một cách vắn tắt, chúng ta có thể bảo rằng sự “nhận thức điên loạn” là sự nhận thức về chính mình, thế nhưng bên trong sự nhận thức đó chúng ta không thật sự cảm nhận được con người của mình, có nghĩa là trong sự nhận thức đó chúng ta không thật sự cảm nhận được các cảm giác và xúc cảm của mình. Ở thể dạng cao nhất của nó, sự nhận thức điên loạn là một sự nhận thức về thể dạng phi-cảm-nhận về con người của mình (our own non-experience of ourselves). Có thể bảo đấy là một sự nhận thức về mình nhưng mình thì lại dường như “không có ở đó”, điều này quả hết sức phi lý (ý thức được là mình, cái tôi của mình, thế nhưng đầu óc thì hoang mang và xao lãng, không cảm nhận được thật sự những gì đang xảy ra trên thân thể mình và trong tâm thần mình). Thật hiển nhiên, rơi vào tình trạng đó thật hết sức nguy hiểm. Sự ý thức điên loạn đó có thể đi kèm với các triệu chứng đủ loại trên thân thể, tất cả các triệu chứng này đều trầm trọng, chẳng hạn như các cơn nhức đầu khủng khiếp. Triệu chứng nhức đầu càng dễ xảy ra hơn khi chúng ta cố tình làm gia tăng sự nhận thức điên loạn của mình bằng cách cho rằng triệu chứng đó là do sự cố gắng luyện tập chú tâm của mình tạo ra (tuy nhiên tôi không có ý nói rằng là tất cả các triệu chứng nhức đầu trong khi thiền định đều là do sự nhận thức điên loạn gây ra).

Sự nhận thức hòa nhập (ntegrated awareness, tức là sự nhận thức ngược lại với sự nhận thức điên loạn/alienated awareness) là một sự nhận thức về mình, thế nhưng đồng thời qua sự nhận thức đó mình cũng cảm nhận được cùng một lúc cả con người của mình. Sự cảm nhận đó về chính mình có thể là tích cực hay tiêu cực, có nghĩa là mình đang ở trong một trạng thái tâm thần mang tính cách tích cực hay tiêu cực. Nếu đang ở trong trạng thái tâm thần tiêu cực thì sự tiêu cực đó cũng sẽ được giải tỏa, bởi vì một khi cứ tự để mình cảm nhận được sự tiêu cực đó của mình thì mình cũng sẽ ý thức được tình trạng đó [để biến cải nó].

(Các phần trên đây là cách định nghĩa về sự “nhận thức” hay “ý thức” về chính mình. Sự nhận thức đó gồm có hai thể dạng. Thể dạng thứ nhất là sự nhận thức điên loạn (alienated awareness), có thể hiểu như là một sự “xao lãng tâm thần”, không ý thức được mình là gì, đang là như thế nào, điều này cũng có nghĩa là “ý thức” được cái tôi của mình, thế nhưng mình không “cảm nhận” được cũng không “nhận thức” được một cách chính xác con người của mình đang là như thế nào, trong trạng thái tâm thần nào. Thể dạng thứ hai là sự nhận thức hòa nhập (integrated awareness) là một sự tập trung tâm thần cao độ, kết hợp cùng lúc cả hai khả năng “cảm nhận” (experience) và “nhận thức” (awareness), mang lại cho mình một sự ý thức sắc bén về thực trạng con người của mình, Sự nhận thức này cũng chính là điều kiện căn bản và tiên khởi nhất trong phép luyện tập về sự chú tâm).

Ba cấp bậc của sự cảm nhận và nhận thức

Tuy nhiên một số người trong chúng ta có thể không phân biệt rõ ràng được sự khác biệt trên đây (giữa hai thể dạng nhận thức điên loạn và nhận thức hòa nhập) qua các kinh nghiệm cảm nhận riêng tư của mình. Vậy chúng ta hãy tìm hiểu thêm về sự khác biệt này qua một góc nhìn khác hơn với một vài thay đổi nhỏ. Đó là cách phân biệt sự cảm nhận của mình theo ba cấp bậc hay mức độ khác nhau. Cấp bậc thứ nhất là cấp bậc cảm-nhận (experience) phi-nhận-thức (without awareness) (cảm nhận nhưng không có một sự nhận thức hay ý thức chính xác nào về sự cảm nhận đó của mình). [Trên thực tế] chúng ta gần như thường xuyên ở trong tình trạng này. Chúng ta cảm thấy hạnh phúc hay buồn khổ, đớn đau hay hân hoan, thương yêu hay hận thù, thế nhưng lại không thực sự hiểu được hay hoàn toàn nhận thức được (ý thức được hay nhận biết được) sự kiện chính con người của mình đang cảm nhận các thứ ấy. [Trong trường hợp này sẽ] không có một sự nhận thức nào cả, mà chỉ đơn giản là các cảm giác hay các cảm tính [hiện ra với mình] mà thôi. Chúng ta hoàn toàn bị lạc hướng trước các sự cảm nhận đó của mình. Chẳng hạn như rơi vào một cơn thịnh nộ mãnh liệt thì chúng ta “không còn biết mình là ai nữa” (chúng ta cảm nhận được sự thịnh nộ, nhưng không nhận biết được vị trí và vai trò của mình trong cơn thịnh nộ đó, mình bị tràn ngập bởi cơn thịnh nộ và không nhận thức được là chính mình đang thịnh nộ, mình “quên mất con người đích thật của chính mình”). Sau khi đã nguôi giận và hồi tỉnh lại, thì khi đó chúng ta mới nhận thấy các điều tai hại do mình gây ra. Chúng ta tự nghĩ: “Tôi không còn nhớ đã làm những gì. Lúc đó tôi không còn là tôi nữa. Tôi quên mất con người của chính tôi.”. Nói một cách khác là khi nào mình vẫn còn nhận diện mình xuyên qua các xúc cảm đó, và vẫn còn bị chúng chi phối, thì khi đó sẽ không có một sự nhận thức nào có thể xảy ra với mình cả. Ở vào cấp bậc thứ nhất này thì chỉ có sự cảm nhận mà thôi – thế nhưng cảm nhận thì nhiều vô kể (luôn dồn dập, tiếp nối và xô đẩy nhau trong cuộc sống) – nhưng không có một sự nhận thức (hay ý thức) nào đi kèm với các sự cảm nhận đó (câu này vô cùng quan trọng cho thấy chúng ta sống trong một tình trạng cảm nhận thường xuyên: vui buồn, đớn đau, giận dữ, thương yêu, ghen tuông, ganh tị, thèm khát, hy vọng, tiếc nuối, sợ hãi, lo âu…, nhưng không có một ý niệm nào về con người của mình phía sau những sự cảm nhận đó, tức là vai trò và vị trí của mình trong cuộc sống thường nhật của chính mình. Nhà sư Sangharakshita gọi đó là cấp bậc tâm thần chỉ gồm toàn các thứ cảm nhận đủ loại, thế nhưng sự nhận thức thì không có, đấy cũng chính là tình trạng xao lãng thường xuyên trong cuộc sống của mỗi cá thể, dưới một một góc nhìn khác thì cũng có thể gọi đó là một cuộc sống “vô minh”).

Cấp bậc thứ hai là sự nhận-thức phi-cảm-nhận (tức là sự nhận thức nhưng trong đó không có sự cảm nhận nào cả có nghĩa là ngược lại với cấp bậc thứ nhất trên đây gồm toàn các sự cảm nhận nhưng bên trong các sự cảm nhận ấy không có một sự nhận thức thật sự nào cả). Sự nhận thức đó gọi là sự nhận thức điên loạn (alienated awareness). Tình trạng đó cũng tương tự như mình lùi lại phía sau trước một sự cảm nhận nào đó đang xảy ra với mình (chỉ nhận thấy mình, ý thức được là mình, thế nhưng hoàn toàn không ý thức được các sự cảm nhận đang xảy ra với mình. Chúng ta không hay biết gì cả về các sự cảm nhận đó ngoài cái tôi đang chi phối mình. Đây cũng lại là một hình thức xao lãng khác). Sự cảm nhận đó dường như không phải là của mình mà là một cái gì đó xảy ra ở “phía đằng kia” (không liên hệ gì đến mình, không phải là trên thân thể mình hay trong tâm thức mình). Trong trường hợp đó chúng ta không hề cảm nhận một cách thực sự, không hề cảm thấy chính xác các cảm tính của mình. Chúng ta yêu thương nhưng không thật sự là yêu thương, chúng ta thù hận nhưng không thật sự là thù hận. [Đó là cách mà] chúng ta tự đứng ra một bên để nhìn vào các cảm nhận của mình, qua sự nhận thức điên loạn của mình (xin mạn phép nhắc lại mục đích tiên khởi và sơ đẳng nhất của phép thiền định là sự chú tâm, đó là cách giúp mình trở về với chính mình… trước khi có thể đi xa hơn. Cả hai thể dạng tâm thần trên đây: cảm-nhận phi-nhận-thức và nhận-thức phi-cảm-nhận đều là các hình thức xao lãng, nhà sư Sangharakshita gọi hai thể dạng tâm thần này là sự nhận thức điên loạn hay bấn loạn).

Cấp bậc thứ ba là cấp bậc của sự “cảm nhận” và cả “nhận thức” (cả hai cùng xảy ra chung với nhau tạo ra cho mình sự ý thức và chú tâm). Đó là sự nhận thức hòa nhập (integrated awareness, sự nhận thức thăng bằng và hợp nhất, có thể hiểu là “chánh niệm” trong kinh sách Hán ngữ). Trong trường hợp này, nhờ vào sự nhận thức hòa nhập đó, các sự cảm nhận về các xúc cảm của chúng ta sẽ có chiều hướng tích cực hơn là tiêu cực. Trong trường hợp này không những chúng ta sẽ tạo được cho mình sự cảm-nhận mà còn bị tràn ngập bởi sự cảm-nhận và trở thành chính sự cảm-nhận đó, và đấy cũng là cách mà mình tạo ra cho mình sự nhận-thức (cấp bậc thứ ba này có thể xem như là một sự chú tâm thật cao độ và hoàn hảo, một thể dạng tâm thức tròn đầy, hoà nhập và thăng bằng. Xin mạn phép nhắc lại là kinh sách Tây phương gọi thể dạng này là mindfulness/pleine conscience, kinh sách Hán ngữ gọi là “chánh niệm” / 正 念). Sự nhận-thức và sự cảm-nhận cả hai cùng kết hợp với nhau. Chúng ta có thể bảo rằng sự nhận thức mang lại sự trong sáng (minh bạch, sáng suốt) cho sự cảm nhận, và sự cảm nhận mang lại chất liệu (đối tượng) cho sự nhận thức. Một sự hợp nhất (coalescence/một sự cô đọng hay hòa đồng) sẽ xảy ra giữa sự nhận thức và sự cảm nhận, không thể nào vạch ra được một ranh giới rõ rệt để phân tách một bên là sự cảm nhận và một bên là sự nhận thức. Khi cảm nhận được một xúc cảm nào đó – tất nhiên là phải đầy đủ ý nghĩa của nó – thì các bạn cũng sẽ hoàn toàn hòa nhập với xúc cảm đó, đồng thời một sự nhận thức hòa nhập cũng sẽ hiện ra cùng lúc với xúc cảm đó, không mảy may khác biệt nào với chính xúc cảm đó (thí dụ phát động lòng từ bi trong khi thiền định và cảm nhận được nó một cách đích thật, thì sự nhận thức của mình về xúc cảm đó, về lòng từ bi đó, cũng sẽ phát lộ và hòa nhập với sự cảm nhận đó của mình, biến mình trở thành một với chính lòng từ bi đó. Chúng ta thường nghe nói đến “chánh niệm” thế nhưng dường như không mấy ai giải thích được “chánh niệm” là gì. Trên đây nhà sư Sangharakshita định nghĩa thật rõ ràng thể dạng “nhận thức” đó trong tâm thần mình). Đó là một thể dạng rất cao, một thể dạng rất khó hình dung, trừ phi chính mình cảm nhận được nó. Thể dạng đó không nhất thiết là một sự nhận thức “về” sự cảm nhận, cũng không phải là một sự nhận thức “với” sự cảm nhận, mà đúng hơn là một sự nhận thức “bên trong” sự cảm nhận, cũng có thể nói là một sự nhận thức nằm ở trung tâm của sự cảm nhận (hãy trở lại với thí dụ trên đây là khi nào phát động được lòng từ bi trong lúc đang hành thiền thì chính con người của mình cũng sẽ trở thành sự cảm nhận từ bi đó, từ bên trong chính nó. Cảm nhận được Hiện Thực và trở thành Hiện Thực từ bên trong chính nó).

Ba cấp bậc của sự cảm nhận và nhận thức là:
1) Sự cảm-nhận phi-nhận-thức, tức là thể dạng [tâm thần] thông thường của chúng ta;
2) Sự nhận-thức “phi-cảm-nhận” hay gần như “phi-cảm-nhận” (gần như “phi-cảm-nhận” có nghĩa là chỉ thoáng nhận biết được các cảm nhận của mình thế nhưng không thật sự ý thức một cách chính xác và rõ rệt về các sự cảm nhận đó, nói một cách khác là không hoàn toàn xao lãng, nhưng cũng không phải là sự chú tâm đúng nghĩa của nó, sự cảm nhận và sự nhận biết có lúc tách rời nhau, mỗi thứ một nơi, nhưng cũng có lúc tạm thời kết hợp với nhau), đó là tình trạng [tâm thần] giúp chúng ta thỉnh thoảng bước theo con đường tâm linh, nhưng cũng có những lúc đi trệch đôi chút ra khỏi con đường đó;
3) Sự nhận-thức đi kèm với sự cảm-nhận hay sự cảm-nhận đi kèm với sự nhận-thức [thì cũng vậy], cả hai cùng kết hợp chung với nhau thật hoàn hảo.

Vậy sự nhận thức điên loạn (sai lầm, bấn loạn, vô minh) hiện ra như thế nào? Vì lý do nào chúng ta lại không tạo được cho mình sự cảm nhận về chính mình? Chúng ta có thể khẳng định rằng điều đó – ít nhất cũng ở một mức độ nào đó – là do nơi bản chất của thời đại mà mình đang sống, nhất là tại các nước Tây phương, Người ta thường nói chúng ta sống trong một thời đại chuyển tiếp, điều này quả rất đúng. Dù đôi khi chúng ta không ý thức được hết triền dốc của sự chuyển tiếp đó thẳng đứng đến đâu và sự hung hãn của nó mãnh liệt đến mức độ nào, thế nhưng nó cũng hàm chứa một tiềm năng thật quý giá (trong sự chuyển tiếp xã hội đôi khi xảy ra những sự biến động thật kinh hoàng, thế nhưng sự chuyển tiếp đó cũng mang lại một niềm hy vọng, một sự đổi mới nào đó). Vô số các giá trị truyền thống đã bị sụp đổ, khiến chúng ta không còn phân biệt được chính xác điều nào là tốt, điều nào là xấu. Chúng ta không còn biết phải sống và phải hành xử như thế nào trong cuộc sống. Ý niệm của chúng ta về cá tính (identity/thể tính, thể chất) con người vì thế cũng trở nên mơ hồ, tạo ra một thứ cảm tính âu lo lan tràn cùng khắp (những gì trên đây không phải là “lạc đề” trong khi đang tìm hiểu các thể dạng tâm thần của một cá thể, mà là một sự mở rộng nhằm nói lên sự xao lãng và mất định hướng của chúng ta trong một xã hội biến đổi quá nhanh, nhất là tại các nước Tây phương. Truyền thống và các tín ngưỡng lâu đời tại các nơi này suy sụp một cách thảm hại, khiến con người không còn biết là phải hành xử như thế nào trong cuộc sống. Tuy nhiên trong các xã hội Tây phương dường như cũng thấy phát triển một tinh thần tự do, dân chủ và nhân bản rất cao, kín đáo hơn là sự ảnh hưởng của tinh thần Phật Giáo ngày càng gia tăng trong các nước Tây phương. Phải chăng đây là “tiềm năng quý giá” mà nhà sư Sangharakshita muốn nêu lên? Trong bài giảng thứ 6 tiếp theo dưới đây, nhà sư này sẽ đề cập trực tiếp hơn về vấn đề trên đây và sẽ phân tích các thể dạng tâm thần của chúng ta khi bước vào con đường Phật Giáo).

Dầu sao tôi cũng không cố ý đặt nặng các yếu tố của thời đại mà chúng ta đang sống (cuộc sống tân tiến ngày nay lôi cuốn chúng ta vào một sự xao lãng khủng khiếp). Tôi chỉ muốn nhìn thật gần vào một vài yếu tố cấp bách hơn, tạo ra cho chúng ta một sự nhận thức điên loạn. Trong phần dưới đây (bài giảng số 6) tôi sẽ nêu lên ba cấp bậc nhận thức về cái tôi là: sự nhận thức về thân thể, sự nhận thức các cảm giác và xúc cảm, và sự nhận thức tư duy. Tiếp theo, và cũng theo cách phân tích như trên đây, chúng ta sẽ đề cập về ba cấp bậc “cảm nhận” và ba cấp bậc “phi-cảm-nhận” về cái tôi.

Bures-Sur-Yvette, 30.11.2019
HOANG PHONG chuyển ngữ

Xem bài 6: Các cấp bậc cảm nhận và phi cảm nhận về cái tôi.

Xem lại từ đầu

digg delicious stumbleupon technorati Google live facebook Sphinn Mixx newsvine reddit yahoomyweb