Tiểu sử Tổ Thạch Sương – Sở Viên Thiền Sư (Thất Tổ tông Lâm Tế – Thiền Tông Trung Hoa)

 

 

TIỂU SỬ

TỔ THẠCH SƯƠNG – SỞ VIÊN (TỪ VIÊN MINH)
石 霜 楚 圓
(988-1041)

Thất Tổ tông Lâm Tế – Thiền Tông Trung Hoa

oOo

Tổ họ Lý, sinh năm Mậu Tý (988) tại Thạch Sương, Đàm Châu (Quảng Tây), Trung Quốc. Năm 22 tuổi xuất gia tại chùa Ẩn Tịnh ở Tương Sơn, Thành Nam với hiệu là Từ Minh. Mẹ Ngài là người có hạnh hiền đức, khuyến khích Ngài du phương học đạo.

Được sự khuyến khích của từ mẫu, Ngài đến khoảnh Nhượng Miện, kết bạn cùng Thủ Chi, Cốc Tuyền cùng vào Lạc Dương. Nghe danh Thiền Sư Thiện Chiêu ở Phần Dương là bậc đại tri thức, Ngài quyết chí lặn lội tìm đến học đạo. Lúc ấy nhằm lúc triều đình cử đại binh đến hỏi tội Hà Đông Lộ Trạch, nhiều người khuyên Ngài đừng đi nhưng Ngài bất chấp, một mình vượt sông leo núi đi đến Phần Dương.

Phần Dương trông thấy Ngài đã thầm chấp nhận; nhưng Ngài ở đây đã hai năm mà chưa được nhập thất (tức là đã thấy Tánh, được gọi vào trượng thất dạy riêng). Mỗi khi Ngài vào thưa hỏi, chỉ bị Phần Dương mắng chửi thậm tệ, hoặc nghe chê bai những vị khác; nếu có dạy bảo lại toàn dùng những lời thế tục thô bỉ. Một hôm Ngài trách:

– Từ ngày đến pháp tịch này đã qua mất hai năm mà chẳng được dạy bảo, chỉ làm tăng trưởng niệm thế tục trần lao. Năm tháng qua nhanh, việc mình chẳng sáng, mất cái lợi của kẻ xuất gia.

Ngài nói chưa dứt, Phần Dương nhìn thẳng vào Ngài mắng:

– Đây là ác tri thức, dám chê trách ta.

Phần Dương nổi nóng cầm gậy đuổi đánh. Ngài toan la cầu cứu, Phần Dương liền bụm miệng Ngài. Ngài chợt đại ngộ, nói:

– Mới biết đạo của Lâm Tế vượt ngoài thường tình!

Sau khi đắc pháp tại pháp hội này, Ngài ở lại đây hầu hạ bảy năm.

oOo

Ngài đến Thiền Sư Tụng ở Đường Minh, dừng lại đây, Tụng bảo:

– Dương Đại Niên tri kiến cao minh, vào đạo chân thật, ngươi nên đến ra mắt.

Ngài đến ra mắt Đại Niên. Đại Niên hỏi:

– Đối diện chẳng biết nhau, muôn dặm lại đồng phong.

Ngài nói:

– Gần đây vâng lời thỉnh của Sơn Môn.

Đại Niên nói:

– Thật cái thoát không.

Ngài nói:

– Tháng trước rời Đường Minh.

Đại Niên nói:

– Vừa rồi ăn năn đã hỏi nhau.

Ngài nói:

– Tác gia (chân thiện tri thức).

Đại Niên bèn hét! Ngài nói:

– Gần phải.

Đại Niên lại hét! Ngài lấy tay vẽ một lằn.

Đại Niên le lưỡi nói:

– Thật là long tượng.

Ngài nói:

– Ấy là lời gì?

Đại Niên gọi:

– Khách ty đem trà lại! Vốn là người trong nhà.

Ngài nói:

– Cũng chẳng tiêu được.

Uống trà xong, Đại Niên lại hỏi:

– Thế nào là một câu Thượng Tọa vì người?

Ngài đáp:

– Thiết!

Đại Niên nói:

– Thế ấy thì cô gái mặc quần dài chạy trong bùn.

Ngài nói:

– Ai được giống Đại Niên.

Đại Niên nói:

– Tác gia, tác gia.

Ngài nói:

– Tha ông hai mươi gậy.

Đại Niên vỗ trên đầu nói:

– Trong ấy là còn cái gì?

Ngài vỗ tay nói:

– Cũng chẳng đặng bỏ qua.

Đại Niên cười to. Lại hỏi:

– Nhớ được nhân duyên Đường Minh đương thời ngộ đạo chăng?

Ngài nói:

– Đường Minh hỏi Thủ Sơn: Thế nào là đại ý Phật Pháp?

Thủ Sơn đáp:

– Bên thành vua Sở, sông Nhữ chảy về Đông.

Đại Niên hỏi:

– Nói như thế ý chỉ thế nào?

Ngài đáp:

– Trên nước thả lồng đèn.

Đại Niên nói:

– Thế ấy là cô phụ người xưa rồi.

Ngài nói:

– Đại Niên nghi thì tham vấn nơi khác.

Đại Niên nói:

– Ba chân con ếch nhảy lên trời.

Ngài nói:

– Một mặc tình nhảy.

Đại Niên cười to. Ngài dừng lại nơi khách xá, sớm chiều cùng Đại Niên bàn luận.

oOo

Đại Niên vào triều nói với Đô úy Lý Tôn Úc:

– Tôi gần được một đạo nhân thật là sư tử Tây Hà.

Lý nói:

– Tôi bận việc không thể đến ra mắt thì sao?

Đại Niên im lặng, trở về thưa với Ngài:

– Lý công là người trong Phật Pháp, nghe đạo phong của Thầy từ xa đến có tâm mong gặp, vì bận việc quốc chánh không thể cùng theo tôi đến đây.

Ngài đến Lê Minh ra mắt Lý công. Lý công sai đứa bé ra thưa:

– Nói được thì cùng Thượng Tọa thấy nhau.

Ngài bảo:

– Ngày nay đặc biệt đến xem nhau.

Đứa bé vào. Lý Công bảo ra nói:

– Văn bia khắc chữ trắng, giữa đường trồng tùng xanh.

Ngài đáp:

– Chẳng bởi tiết ngày nay, hôm khác định khó gặp.

Đứa bé vào thưa lại, trở ra bạch:

– Đô úy nói: Thế ấy cùng Thượng Tọa thấy nhau rồi.

Lý công ra tiếp Ngài, mời ngồi xong, Lý công hỏi:

– Tôi nghe ở Tây Hà có con sư tử lông vàng phải chăng?

Ngài đáp:

– Ở chỗ nào được tin tức ấy?

Lý Công liền hét! Ngài bảo:

– Tiếng dã can.

Lý công lại hét! Ngài nói:

– Vừa phải.

Lý công cười to. Ngài tạm biệt, Lý công hỏi:

– Thế nào là một câu Thượng Tọa sắp đi?

Ngài nói:

– Khéo sắp dứt.

Lý công nói:

– Đâu khác các nơi.

Ngài hỏi:

– Đô úy lại làm sao?

Lý công nói:

– Tha Thượng Tọa hai mươi gậy.

Ngài nói:

– Toàn là lưu thông.

Lý công hét! Ngài nói:

– Mù!

Lý công nói:

– Đi vui vẻ.

Ngài ứng:

– Dạ! Dạ!

Từ đây, Ngài qua lại nhà họ Dương, họ Lý kết làm bạn pháp.

oOo

Lúc Ngài còn ở Phần Dương, nghe Phần Dương nói: Ta tham vấn khắp hết con cháu Vân Môn, còn hận chưa được yết kiến Thiền Sư Hiểu Thông. Ngài tìm đến Động Sơn chỗ Thiền Sư Hiểu Thông ở lại ba năm, làm thủ chúng.

oOo

Ngài đến Ngưỡng Sơn, Dương Đại Niên gởi thơ cho thái thú Nghi Xuân là Huỳnh Tông Đán thỉnh Ngài trụ trì giáo hóa. Thái thú thỉnh Ngài trụ tại chùa Nam Nguyên. Sau khi trụ, Ngài thượng đường dạy chúng:

– Tất cả Chư Phật và pháp A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề của Chư Phật đều từ kinh (Kim Cang) này ra.

Ngài dựng đứng cây gậy, nói:

– Cái này là cây gậy của Nam Nguyên, cái gì là kinh?

Ngài im lặng giây lâu, nói:

– Về sau văn dài trao lại ngày khác.

Sư hét một tiếng bước xuống tòa.

oOo

Tăng hỏi:

– Thế nào là Phật?

Ngài đáp:

– Nước chảy ở cao nguyên.

– Thế nào là cảnh Nam Nguyên?

– Sông Hoàng Hà chín khúc xuất phát từ Côn Lôn.

– Thế nào là người trong cảnh?

– Theo dòng người chẳng đoái, chặt tay trông Phù Tang (Nhật Bản).

oOo

Ngài trụ trì Nam Nguyên ba năm, giao chùa đi du phương. Đến yết kiến Thiền Sư Chân ở Thần Đảnh. Thần Đảnh là cao đệ của Thủ Sơn Niệm. Các thiền sinh ít ai dám lên núi này vì đạo phong cao vút của Ngài. Ngài ở núi ba mươi năm, môn đệ đều ăn đứt hết các nơi.

Ngài để tóc dài chẳng cạo, mặc y rách, nói tiếng Sở, xin vào yết kiến xưng là cháu trong Phật Pháp. Toàn chúng trông thấy Ngài đều cười vang.

Thần Đảnh sai đồng tử ra hỏi:

– Trưởng lão nối pháp ai?

Ngài ngước nhìn lên nói:

– Chính thấy Phần Dương đến.

Thần Đảnh ra xem thấy ái ngại hỏi:

– Phần Dương có sư tử Tây Hà phải chăng?

Ngài chỉ lại sau kêu to:

– Thất ngã!

Đồng tử chạy hoảng. Thần Đảnh xây đầu ngó lại ngơ ngác, Ngài ngồi xuống đất cởi chiếc dép ra  xem. Thần Đảnh quên lời hỏi, cũng không nhớ Ngài đang ở đó. Ngài từ từ đứng dậy sửa y phục ra đi, nói:

– Nghe danh chẳng bằng thấy mặt.

Thần Đảnh sai người theo tìm mà chẳng gặp, bèn than:

– Phần Dương lại có đứa con này sao!

oOo

Sa-môn Bôn Diên cùng quận thú thỉnh Ngài trụ trì Đạo Ngô. Ngài thượng đường dạy:

– Bảo Ứng nói: Câu thứ nhất tiến được kham cùng Phật Tổ làm thầy; câu thứ hai tiến được kham cùng Người, Trời làm thầy; câu thứ ba tiến được tự cứu chẳng xong? Đạo Ngô thì chẳng thế, câu thứ nhất tiến được hòa bùn hợp nước; câu thứ hai tiến được không dây tự trói; câu thứ ba tiến được bốn góc dính đất. Do đó nói, ra đi thì sông trong biển lặng, bộ hành tránh đường; đứng lại thì càn khôn thất sắc mặt trời mặt trăng không sáng. Các ông nhằm chỗ nào hà hơi. Hiện nay có người nào hà hơi chăng? Nếu có, bước ra đối chúng hà hơi xem? Nếu không, Đạo Ngô sẽ vì các ông hà hơi.

Ngài bèn “hư” một tiếng, cầm gậy bước xuống tòa.

oOo

Ngài thượng đường dạy:

– Đạo Ngô đánh trống, bốn đại bộ châu đồng tham. Cây gậy nằm ngang, khêu động cả càn khôn đại địa. Úp bát xuống, che đậy hằng sa thế giới. Thử hỏi, các ông nhằm chỗ nào an thân lập mạng. Nếu là biết được nhằm Bắc Câu-lô Châu ăn cơm ăn cháo. Nếu là chẳng biết thì nằm dài trên giường ăn cơm ăn cháo.

oOo

Sau, Ngài trụ ở Thạch Sương. Nhân ngày giải hạ Ngài dạy Chúng:

– Ngày xưa làm trẻ con, hôm nay tuổi đã già, chưa rõ ba tám chín, khó đạp đường cổ hoàng. Tay quét Hoàng Hà khô, chân đạp Tu Di ngã, phù sanh thân mộng huyễn, mạng người đêm khó giữ. Thiên đường cùng địa ngục đều do tâm tạo ra, núi nam tùng ngọn bắc, ngọn bắc cỏ núi nam. Một giọt thấm vô biên, gốc mầm mạnh khô kháo, tham học vào năm hồ, chỉ hỏi hư không thảo. Chết cởi áo trời hạ, sanh đắp mền trăng đông, rõ ràng người vô sự, đầy đất sanh phiền não.

Ngài hét một tiếng, bước xuống tòa.

oOo

Sau nhiều năm giáo hóa khắp nơi, cuối cùng Ngài trụ tại Sở Viên ở Thạch Sương. Ngài thượng đường dạy Chúng:

– Một hét phân chủ khách, chiếu dụng đồng thời hành, cần hội ý trong ấy, giữa trưa là canh ba.

Ngài hét một tiếng, nói:

– Hãy nói là khách là chủ. Lại có người phân rành được chăng? Nếu có người phân rành được thì sáng đánh ba ngàn, chiều đánh tám trăm. Nếu chưa có người phân rành được thì lão tăng mất lợi.

oOo

Tăng hỏi:

– Tổ Đạt-ma khi chưa đến thì thế nào?

Ngài đáp:

– Trường An đêm đêm nhà nhà trăng.

– Sau khi đến thì thế nào?

– Bao chỗ nhịp ca bao chỗ buồn.

oOo

Ngài thượng đường dạy:

– Ta có một lời, bặt nghĩ quên duyên, khéo nói chẳng được, chỉ cốt tâm truyền. Lại có một câu không lỗi thẳng nêu. Thế nào là một câu thẳng nêu?

Ngài lặng thinh giây lâu, cầm gậy vẽ một đường, hét một tiếng!

oOo

Ngài thượng đường dạy:

– Thuốc nhiều bệnh lắm, lưới dày cá đặc.

Rồi liền bước xuống tòa.

oOo

Ngài dạy Chúng, lấy gậy gõ giường thiền một tiếng, hỏi:

– Đại chúng hội chăng? Đâu chẳng nghe nói:

Nhất kích vong sở tri
Cánh bất giả tu trì
Chư phương đạt đạo giả
Hàm ngôn thượng thượng ky.

Dịch:

Tiếng gõ quên sở tri
Lại chẳng nhờ tu trì
Các nơi người đạt Đạo
Đều gọi thượng thượng cơ.

Hương Nghiêm ngộ thế ấy là rõ ràng ngộ Như Lai Thiền, Tổ Sư Thiền còn chưa thấy được. Hãy nói Tổ Sư Thiền có cái gì đặc biệt? Nếu nhằm trong lời nói mà nhận thì lừa bịp người sau. Dù cho dưới gậy lãnh lấy vẫn còn cô phụ Thánh trước. Muôn pháp vốn yên lặng chỉ tự người ồn náo. Do đó, sơn tăng ở Phước Nghiêm chỉ thấy cảnh giới Phước Nghiêm, sáng dậy sớm, tối đi ngủ. Mây nổi trên ngọn xanh, trăng lặn dưới đầm lạnh, tiếng chim kêu hót ở trước đài Bát-nhã, hương hoa sa-la rơi khấn vái bên sườn núi. Cầm cây gậy tre ngồi trên bàn thạch, cùng thiền sinh ngũ hồ nói lời huyền vi.

Thay đầu đổi mặt đến trụ Hưng Hóa, chỉ thấy gia phong Hưng Hóa, đón đến đưa đi, cửa liền với thành thị xe ngựa rộn ràng, ca hát tiêu tương, vượn ca nhạc lộc, tiếng đờn ca ngâm vịnh luôn luôn vào tai; lại cùng bậc cao nhân trong tứ hải mỗi ngày bàn thiền đạo, năm tháng quên mất. Hãy nói ở núi sâu, trụ đô thành, lại có ưu liệt hay không? Thử nói xem!

Ngài im lặng giây lâu, nói:

– Chỗ chỗ đều Từ Thị, cửa cửa thảy Thiện Tài.

oOo

Niên hiệu Bảo Nguyên (1040) Lý đô úy sai sứ đến thỉnh Ngài, thơ viết: “Bạn pháp trong nước chỉ có Thầy cùng Dương Đại Niên. Đại Niên đã bỏ tôi đi trước, năm nay tôi thấy già suy đến gấp, cái chết chực sẵn, mong được cùng Thầy hội kiến lần chót.”

Ngài xót thương cùng thị giả xuống thuyền đến kinh đô. Thuyền đi trên sông, Ngài làm kệ:

Trường giang hành bất tận
Đế lý đáo hà thời
Ký đắc lương phong tiện
Hưu tương lỗ trạo thi.

Dịch:

Sông dài đi chẳng tột
Đế đô đến bao giờ?
Đã gặp gió lành tốt
Thôi thì gác chèo chơi.

Đến kinh đô, Ngài cùng Lý đô úy hội kiến, luận bàn đạo lý. Hơn tháng sau, quả nhiên đô úy sắp tịch. Giờ phút chót, đô úy vẽ hình tròn, và làm bài thơ tặng Ngài:

Thế giới vô y
Sơn hà phỉ ngại
Đại hải vi trần
Tu-di nạp giới.

Niệm khởi phốc đầu
Giải hạ yêu đời
Nhược mít tử sanh
Vấn thủ bì đại.

Dịch:

Thế giới không nương
Núi sông chẳng ngại
Đại hải vi trần
Tu-di hạt cải.

Gỡ phắt chiếc khăn
Cởi bỏ lưng thắt
Nếu tìm tử sanh
Hỏi lấy cái đãy.

Ngài hỏi:

– Thế nào là Phật Tánh xưa nay?

Lý đáp:

– Ngày nay nóng như ngày hôm qua.

Liền đó, Lý hỏi lại Ngài:

– Một câu sắp đi thế nào?

Ngài đáp:

– Xưa nay không ngăn ngại, tùy chỗ mặc vuông tròn.

Lý nói:

– Chiều đến mỏi mệt không đáp thoại.

Ngài bảo:

– Chỗ không Phật làm Phật.

Lý công vui vẻ thị tịch.

oOo

Ngài trở về, vua Tống Nhân Tông cho thuyền đưa Ngài. Đi giữa đường, Ngài bảo thị giả:

– Ta vừa bị bệnh phong.

Nhìn thấy Ngài miệng bị phong giật méo qua một bên. Thị giả dậm chân xuống thuyền nói:

– Tại làm sao lúc bình thường quở Phật mắng Tổ, hôm nay lại thế ấy?

Ngài bảo:

– Đừng lo, ta sẽ vì ngươi sửa ngay lại.

Ngài lấy tay sửa lại, miệng ngay như cũ, nói:

– Từ nay về sau chẳng nhọc đến ngươi.

Năm Tân Tỵ (1041), niên hiệu Khang Định triều vua Tống Nhân Tông, Ngài đến Hưng Hóa. Ngày mùng năm tháng Giêng, Ngài tắm gội xong, ngồi kiết già từ biệt đại chúng rồi thị tịch, thọ 54 tuổi, 32 tuổi hạ. Nhục thân được an trú trong bảo tháp tại Thạch Sương. Đệ tử nối pháp Ngài có Thiền Sư Phương Hội và Huệ Nam về sau lập thành pháp phái Lâm Tế Dương Kỳ và Lâm Tế Hoàng Long.

 

digg delicious stumbleupon technorati Google live facebook Sphinn Mixx newsvine reddit yahoomyweb