Tiểu sử Tổ Viên Ngộ – Khắc Cần Thiền Sư (Đời thứ 11 tông Lâm Tế – Thiền Tông Trung Hoa)

 

 

TIỂU SỬ

TỔ VIÊN NGỘ – KHẮC CẦN
圓 悟 克 勤
[Thiền sư Phật Quả – Chiêu Giác]
(1063-1135)

Đời thứ 11 tông Lâm Tế – Thiền Tông Trung Hoa

oOo

Tổ họ Lạc, tên Khắc Cần, tự là Vô Trước, sinh năm Quý Mão (1063), niên hiệu Gia Hựu năm đầu, đời vua Anh Tông nhà Tống tại quê hương ở Sùng Ninh, Bành Châu (Tứ Xuyên). Thuở nhỏ theo Nho học, mỗi ngày nhớ được ngàn lời. Một ngày Ngài dạo chơi chùa Diệu Tịch thấy sách Phật, đọc qua 3 lượt thấy cảm khái và buồn bã như được vật cũ. Ngài nói: “Ta ngờ quá khứ làm Sa-môn”, rồi bỏ nhà xin xuất gia, được Thiền Sư Tự Tỉnh thế phát cho. Ngài theo Pháp Sư Văn Chiếu nghe giảng, đến tọa chủ Mẫn Hành học kinh Lăng–nghiêm.

Một hôm bỗng mang bệnh nặng, Ngài than: Con đường Niết-bàn của Chư Phật chẳng ở trong văn cú, tôi muốn do tiếng cầu thấy sắc, nơi kia không tử vậy.

Ngài rời đây tìm đến pháp hội Thiền Sư Thắng ở Chơn Giác. Thiền Sư Thắng chích máu nơi cánh tay chỉ dạy Ngài: Đây là một giọt nước nguồn Tào.

Ngài kinh hãi giây lâu nói: Đạo vẫn như thế ư?

Ngài bèn đi bộ đến đất Thục trước yết kiến Thiền Sư Hạo ở Ngọc Tuyền, kế nương Thiền Sư Tín ở Kim Loan, Thiền Sư Hiệt ở Đại Quy, Thiền Sư Tổ Tâm ở Hoàng Long, Thiền Sư Độ Liễm ở Đông Lâm chỉ vì pháp khí Đại Thừa. Thiền Sư Tổ Tâm khen Ngài rằng: Ngày sau một tông Lâm Tế thuộc ngươi vậy.

Sau hết Ngài yết kiến Thiền Sư Diễn ở Ngũ Tổ. Ngài trình hết cơ dụng của mình mà Thiền Sư Diễn đều không chấp nhận. Ngài nghĩ Thiền Sư Diễn gắng xoay chuyển người, nói lời bừa bãi, tức giận bỏ đi. Thiền Sư Diễn nói: Đợi khi ông mắc bệnh nặng mới nghĩ đến ta.

Ngài đi đến Kim Sơn, mắc bệnh thương hàn rất nặng, dùng chỗ thấy bình thường thử điều trị đều không thuyên giảm. Từ đây mới nhớ lại lời Ngài Pháp Diễn. Ngài tự thệ rằng: Bệnh tôi tạm bớt liền trở lại núi Ngũ Tổ. Khi bệnh thuyên giảm, Ngài liền trở lại núi Ngũ Tổ. Thiền Sư Pháp Diễn trông thấy cười, dạy đến nhà tham thiền.

Ngài vào liêu thị giả mới được nửa tháng, gặp quan bộ sử hưu trí trở về đất Thục đến Pháp Diễn hỏi đạo. Pháp Diễn hỏi: Đề hình thuở thiếu niên từng đọc Tiểu Diễm Thi chăng? Có hai câu hỏi gần nhau “Vừa kêu Tiểu Ngọc nguyên không việc, chỉ cốt đàn lang nhận được thanh”.

Đề Hình ứng: Dạ! Dạ!

Pháp Diễn bảo: Hãy chín chắn.

Ngài vừa đến ứng hầu, thưa: Nghe Hòa Thượng nhắc Tiểu Diễm Thi, đề hình hiểu chăng?

Pháp Diễn bảo: Kia nhận được thanh.

Ngài thưa: Chỉ cốt đàn lang nhận được thanh, kia đã nhận được thanh, vì sao lại chẳng phải?

Pháp Diễn nói: Thế nào là ý Tổ Sư từ Tây sang, cây bá trước sân, ghê?

Ngài chợt có tỉnh! Ngài bước ra, thấy con gà bay đậu trên lan can vỗ cánh gáy, lại tự bảo: Đây há chẳng phải là thanh? Ngài bèn sắm hương đèn vào thất trình kệ:

Sau cùng Ngài đến núi Ngũ Tổ tham vấn Thiền Sư Pháp Diễn. Được Tổ Pháp Diễn điểm đạo, Ngài liền tỉnh ngộ, sắm hương đèn vào thất trình kệ:

金 鴨 香 囊 錦 繡 幃
笙 歌 叢 裏 醉 扶 歸
少 年 一 段 風 流 事
只 許 佳 人 獨 自 知

Âm:

Kim áp hương nang cẩm tú vi
Sảnh ca tùng lý túy phù quy
Thiếu niên nhất đoạn phong lưu sự
Chỉ hứa giai nhân độc tự tri.

Dịch:

Quạ vàng hương kín túi gấm thêu
Nhịp ca tùng rậm say dìu về
Một đoạn phong lưu thuở niên thiếu
Chỉ nhận giai nhân riêng tự hay.

Pháp Diễn bảo: Phật Tổ đại sự chẳng phải căn nhỏ cơ hèn hay đến được, tôi giúp ông vậy.

Pháp Diễn liền bảo khắp cho hàng kỳ cựu trong núi rằng: Thị giả của tôi tham được thiền.

Do đây, Ngài đi đến đâu cũng được đưa lên làm thủ tọa.

Mặc dù đã được Pháp Diễn ấn khả cho Ngài kế thừa Tổ nghiệp nhưng Ngài vẫn ở lại hầu đến lúc thầy viên tịch. Cùng với hai vị Thanh Viễn – Phật Nhãn và Huệ Cần – Phật Giám, Ngài (với danh hiệu khác là Phật Quả) được xem là bậc thượng thủ trong thiền lâm thời bấy giờ.

Khoảng niên hiệu Sùng Ninh (1102-1107), Ngài về quê thăm cha mẹ, tứ chúng nghênh đón lễ bái. Nguyên soái ở thành đô là hàn lâm Quách Công Tri Chương thỉnh Ngài khai pháp ở chùa Lục Tổ, kế đến trú trì chùa Chiêu Giác.

Khoảng niên hiệu Chánh Hòa (1111-1118), Ngài xin nghỉ việc, lại ra núi đi dạo phương Nam.

Bấy giờ cư sĩ Trương Vô Tận đang ngụ ở Kinh Nam, dùng đạo học tự ở, ít tiếp xúc với người. Ngài dừng thuyền đến ra mắt ông. Luận về chỉ yếu kinh Hoa Nghiêm, Ngài nói: Cảnh giới hiện lượng kinh Hoa Nghiêm lý sự toàn chân, ban đầu không nhờ pháp. Sở dĩ tức một là muôn, rõ muôn là một. Một lại một, muôn lại muôn, thênh thang không cùng, Tâm Phật chúng sanh ba không sai biệt, co duỗi tự tại viên dung không ngại. Đây tuy lý tột trọn là không gió sóng ầm ầm.

Khi ấy Vô Tận bất chợt nhớm khỏi giường. Ngài hỏi: Đến đây cùng ý Tổ Sư tây sang là đồng, là khác?

Vô Tận đáp: Đồng.

Ngài bảo: Chẳng được! Không dính dáng.

Vô Tận đổi sắc. Ngài bảo: Chẳng thấy Vân Môn nói “Núi sông đất liền không một mảy tơ lỗi lầm vẫn là chuyển cú, thật được chẳng thấy một sắc mới là bán đề, lại phải biết có hướng thượng mới là thời tiết toàn đề”. Đức Sơn, Lâm Tế há chẳng phải toàn đề ư?

Vô Tận bèn gật đầu.

Hôm sau lại nói về sự pháp giới, lý pháp giới. Đến lý sự vô ngại pháp giới, Ngài lại hỏi: Đây đáng gọi là thiền chưa?

Vô Tận đáp: Chính là nói thiền.

Ngài cười bảo: Chẳng phải! Chính là còn trong lượng pháp giới, bởi lượng pháp giới chưa diệt, nếu đến sự sự vô ngại pháp giới thì lượng pháp giới diệt, mới là nói thiền. Thế nào là Phật? – Cục cứt khô. Thế nào là Phật? – Ba cân gai. Thế nên Chơn Tịnh có bài kệ nói:

Sự sự vô ngại
Như ý tự tại
Tay cầm đầu heo
Miệng tụng tịnh giới
Đẩy ra phòng dâm
Tiền rượu chưa trả
Chữ thập đầu đường
Cởi mở túi vải.

Vô Tận nói: Luận hay thay! Đâu dễ được nghe!

Khi ấy Vô Tận lễ Ngài làm thầy, mời ở Bích Nham.

oOo

Ngài lại đến Đạo Lâm. Khu mật Đặng Công Tử Thường tâu về triều xin ban tử y và hiệu. Chiếu vua mời Ngài trụ Tương Sơn ở Kim Lăng, học giả tụ họp không còn chỗ để dung. Lại sắc mời trụ chùa Vạn Thọ ở Thiên Ninh.

Niên hiệu Kiến Viêm năm đầu (1127) vua lại mời Ngài trụ Kim Sơn. Nhà vua đến Duy Dương mời Ngài vào hỏi đạo, vua ban hiệu là Viên Ngộ Thiền Sư và mời trụ Vân Cư. Về sau lại mời Ngài trụ Chiêu Giác.

oOo

Có vị Tăng hỏi: Vân Môn nói “núi Tu-di” ý chỉ thế nào?

Ngài đáp: Đẩy chẳng đến trước, kéo chẳng lùi sau.

Tăng thưa: Chưa biết lại có lỗi hay không?

Ngài đáp: Ngồi ở đầu lưỡi.

Có vị Tăng hỏi: Pháp chẳng riêng khởi nương cảnh mới sanh.

Liền đưa tọa cụ lên nói: Cái này là cảnh, cái nào là pháp?

Ngài đáp: Lại bị Xà-lê cướp mất thương.

oOo

Ngài thượng đường dạy: Khắp thân là mắt thấy chẳng đến; khắp thân là tai nghe chẳng thấu; khắp thân là miệng nói chẳng được; khắp thân là tâm xem xét chẳng ra. Dù cho cả đại địa rõ được không sai sót một mảy tơ vẫn còn ở giữa đường, cứ lệnh toàn đề, hãy nói diễn bày thế nào? Trong không nhật nguyệt dọc ngang chống, một buổi trời trong vạn cổ xuân.

oOo

Ngài thượng đường dạy: Chót núi sóng vỗ đáy giếng bụi bay, mắt nghe dường vang sấm nổ, tai thấy tợ bày gấm vẽ, ba trăm sáu mươi lóng xương mỗi lóng hiện vô biên diệu thân, tám mươi bốn ngàn đầu sợi lông mỗi đầu lông bày biển Bảo Vương sát, chẳng phải thần thông diệu dụng, cũng phi pháp nhĩ như nhiên, dù hay ngàn mắt chóng mở, hẳn là mười phương ngồi đoạn, vả lại một câu siêu nhiên độc thoát làm sao nói. Thử ngọc cần trải qua lửa mà biết, châu chẳng rời bùn.

oOo

Ngài thượng đường dạy: Ngày mười lăm về trước ngàn trâu lôi chẳng lại, ngày mười lăm về sau chim cưu mạnh đuổi chẳng đến, chính ngày mười lăm trời bình đất bình, đồng sáng đồng tối, đại thiên sa giới chẳng ngoài ngay đây. Khả dĩ ngậm nhổ mười phương, tiến một bước siêu việt bất khả thuyết biển Hương Thủy, lùi một bước ngồi đoạn ngàn lớp muôn dặm mây trắng, chẳng tiến chẳng lùi chớ nói là Xà-lê mà lão tăng cũng không có chỗ mở miệng.

Ngài đưa cây phất tử nói: Chính hiện nay thì thế nào? Có khi để ở trên ngàn đảnh, cắt đứt mây thu chẳng phóng cao.

oOo

Ngài thượng đường dạy: Mười phương đồng tụ hội, thân xưa nay không muội, mỗi mỗi học vô vi, trên đảnh dùng kềm búa, đây là trường thi Phật, sâu rộng khó hay lường, tâm không thi đậu về, kiếm bén chẳng bằng chùy. Bàng cư sĩ lưỡi chỏi đến Phạm Thiên miệng trùm bốn biển, có khi đem cọng cỏ làm thân vàng trượng sáu, có khi đem thân vàng trượng sáu làm cọng cỏ, rất là kỳ đặc. Tuy nhiên như thế, cốt chẳng từng động đến cổng hướng thượng. Thế nào là cổng hướng thượng? Đúc ấn để đàn cao.

oOo

Ngài thượng đường dạy: “Câu có câu không, siêu tông việt cách, như bìm nương cây, núi bạc vách sắt.” Đến khi cây ngã bìm khô, bao nhiêu người mất đi lỗ mũi. Dù cho lượm được lại, đã là ngàn dặm muôn dặm. Chỉ như khi chưa có tin tức thế ấy là thế nào? Lại thấu được chăng? Gió ấm tiếng chim hát, nhật lên bóng hoa chồng.

Ngài dạy Chúng: Một lời cắt đứt tiếng ngàn thánh, một kiếm ngay đầu thây nằm ngàn dặm. Vì thế nói, có khi câu đến ý chẳng đến, có khi ý đến câu chẳng đến, câu hay cắt ý, ý hay cắt câu, câu ý lẫn đuổi lỗ mũi thiền tăng. Nếu hay thế ấy chuyển đi, trời trong cũng phải ăn gậy. Hãy nói y cứ cái gì? Đáng thương vô hạn người đùa sóng, rốt cục lại là sóng chết chìm.

Ngài dạy Chúng: Bờ cao muôn nhẫn buông thõng tay, cần phải người ấy, cây nỏ ngàn quân khi ấn máy há vì chuột thỏ, Vân Môn, Mục Châu, ngay mặt lầm qua, Đức Sơn, Lâm Tế nói đùa ngoài cổng, ngoài ra lập cảnh lập cơ làm hang làm ổ, thế là diệt chủng tộc nhà Phật, một câu độc thoát phải nói làm sao? Muôn duyên thay đổi nào còn việc, tháng năm phòng núi lạnh như băng.

oOo

Niên hiệu Thiệu Hưng thứ 5, năm Ất Mão (1135), tháng 8, Ngài có chút bệnh, gọi Chúng vào từ biệt và viết kệ:

Đã triệt không công
Bất tất lưu kệ
Hãy để ứng duyên
Trân trọng! Trân trọng!
(Hân Mẫn dịch).

Viết xong ném bút ngồi kiết già thị tịch. Khi trà tỳ, lưỡi và răng không cháy hết. Tháp tại chùa Chiêu Giác. Vua sắc phong thụy hiệu là Chân Giác Thiền Sư.

Ngài đã để lại những tác phẩm nổi tiếng như: Bích Nham Lục, Ngữ Lục, Viên Ngộ Tâm Yếu, Kích Tiết Lục. Ngài nổi danh nhờ biên soạn tập công án Bích Nham Lục vừa kể, một kiệt tác mà ngày nay vẫn còn được rất nhiều người hâm mộ.

Nối pháp Ngài có Thiền Sư Thiệu Long./.

Một bút tích thư pháp của Thiền Sư Viên Ngộ – Khắc Cẩn.

 

digg delicious stumbleupon technorati Google live facebook Sphinn Mixx newsvine reddit yahoomyweb