Tiểu sử Cư Sỹ Hồng Tai ĐOÀN TRUNG CÒN

 

 

TIỂU SỬ

CỐ CƯ SỸ PHẬT GIÁO HỮU CÔNG

HỒNG TAI – ĐOÀN TRUNG CÒN
(1908 – 1988)

 

Cư Sỹ Đoàn Trung Còn pháp danh Hồng Tai, sinh năm Mậu Thân (1908) tại làng Thắng Nhì, thị xã Vũng Tàu (nay là phường Thắng Nhì, thành phố Vũng Tàu thuộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu). Ông lập gia đình với bà Lê Thị Tàu, quê ở An Giang, sinh được 2 người con, một trai, một gái. Bà mất năm 1985.

Lúc nhỏ ông theo học trường Pháp-Việt tại Vũng Tàu, sau lên học ở Sài Gòn và tốt nghiệp với bằng Thành Chung (Diplomat), do đó ông rất thông thạo tiếng Pháp. Sau khi thi đỗ Thành Chung, ông ra làm tư chức và lập nghiệp tại Sài Gòn.

Xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học và tín ngưỡng Phật Giáo, nên sau khi thôi học ở trường, ông chuyên tâm tự học chữ Hán để có kiến thức cần thiết cho việc nghiên cứu tam tạng kinh điển nhà Phật.

Vốn là người sinh sống ở miền Nam, ông tiếp xúc với các bậc sư sãi người Khmer và Phật Giáo Nam Tông rất thường xuyên. Kinh sách ở đây chép bằng chữ Bắc Phạn (Sanscrit) hoặc Nam Phạn (Pàli) nên thôi thúc ông để tâm nghiên cứu, học hỏi hai loại văn tự này. Chính vì vậy mà ông có một căn bản khá vững chắc về Hán học và Phạn học, đủ giúp ông nghiên cứu sâu hơn kinh điển Phật Giáo.

Ngoài việc nghiên cứu giáo lý của Đức Phật để tu hành, ông còn để tâm truyền bá Chánh Pháp đến các tầng lớp dân chúng như bổn phận một vị xuất gia, góp công rất lớn cho sự nghiệp chấn hưng Phật Giáo và phổ biến Phật học vào giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX.

Ông bắt đầu viết và xuất bản các tác phẩm về Phật Giáo vào năm 1931, cho xuất bản các sách Chuyện Phật Đời Xưa, Văn Minh Nhà Phật Qua Tàu, Triết Lý Nhà Phật do nhà xuất bản Agence Saigonnaise de Publicité ấn hành.

Năm 1932, ông sáng lập Phật Học Tòng Thơ để xuất bản các sách ông biên khảo về Phật Giáo và các bộ kinh căn bản do ông phiên âm và dịch nghĩa. Song song đó, ông sáng lập thêm Trí Đức Tùng Thư để xuất bản các bộ sách quan trọng của Nho Giáo cũng do ông phiên dịch. Mục đích tôn chỉ của hai tùng thư này đã được ông minh thị trong lời bố cáo như sau:

“Những kinh sách của bổn quán xuất bản, hoặc in có chữ Hán, hoặc in toàn chữ Việt, đều được nghiên cứu và nhuận sắc rất kỹ lưỡng, vì mục đích của bổn quán là muốn truyền bá Phật Pháp, cho nên chẳng ngại công cán và thì giờ. Vậy mong rằng kinh sách ấy sẽ bổ ích cho độc giả thiện tâm trên đường tu học.

Vì sau này giấy đắt công cao, vậy bổn quán yêu cầu những vị đã thỉnh kinh sách, khi coi rồi thì nên cho bà con quen biết mượn coi, đó là quý vị phụ lực với bổn quán mà truyền bá đạo lý vậy. Và bổn quán cũng yêu cầu những vị hằng tâm hằng sản nên thỉnh kinh sách Phật mà ấn tống, thì phước đức vô lượng. Những nhà từ tâm bố thí có lẽ cũng dư biết rằng, trong các việc bố thí, chỉ có việc thí Pháp là có công đức hơn hết”.

Những năm tiếp sau đó, ông cho xuất bản tiếp các sách như: Truyện Phật Thích Ca (1932) Tăng Đồ Nhà Phật (1934), Các Tông Phái Đạo Phật ở Viễn Đông (1935). Ngoài ra, ông còn xuất bản một số kinh sách do các tăng sĩ, cư sĩ khác biên soạn dưới danh nghĩa Phật Học Thơ Xã.

Từ đó cho đến ngày ông qua đời, ông đã làm việc tất lực và in được gần 40 tác phẩm trong Phật Học Tùng Thư và 12 cuốn trong Trí Đức Tùng Thư. Các sách của Phật Học Tùng Thư đã xuất bản là:

1. Truyện Phật Thích Ca.
2. Du lịch xứ Phật.
3. Đạo lý nhà Phật.
4. Chuyện Phật đời xưa.
5. Văn minh nhà Phật.
6. Triết lý nhà Phật.
7. Lịch sử nhà Phật.
8. Pháp giáo nhà Phật.
9. Tăng đồ nhà Phật.
10. Các tông phái đạo Phật.
11. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh.
12. Một trăm bài kinh Phật.
13. Na Tiên Tỳ Kheo Kinh.
14. Mấy thầy tu huyền bí.
15. Tam Bảo văn chương.
16. Pháp Bảo Đàn Kinh.
17. Vô Lượng Thọ Kinh.
18. Quán Vô Lượng Thọ Kinh.
19. Địa Tạng Kinh.
20. Di Lặc Kinh (thượng sanh hạ sanh).
21. Bồ Tát Giới Kinh.
22. Quy Nguyên trực chỉ.
23. Sự tích Phật A Di Đà.
24. 48 lời nguyện của Phật A Di Đà.
25. A Di Đà Kinh.
26. Kinh Tam Bảo (Di Đà – Hồng Danh – Vu Lan – Phổ Môn – Kim Cang và pháp nghi Tịnh Độ).
27. Phật Pháp vỡ lòng.
28. Khuyên tu Tịnh Độ.
29. Thành đạo.
30. Học Phật chánh pháp.
31. Quan Âm Thị Kính.
32. Nước Ấn Độ trước hồi Phật giáng.
33. Kim Cang Kinh (âm chữ Hán và giảng nghĩa).
34. Yếng sáng Á Châu.
35. Đại Bát Niết Bàn Kinh.
36. Duy Ma Cật Kinh.
37. Sách nấu đồ chay.

Các sách do Trí Đức Tùng Thư đã xuất bản gồm có:

1. Truyện Đức Khổng Tử.
2. Nhị thập tứ hiếu (Hán và Việt).
3. Hiếu Kinh (Đức Khổng Tử giảng về đạo hiếu – Phụ trương: Khổng Tử lược sử).
4. Tam Tự Kinh (Hán và Việt: âm và nghĩa).
5. Đại học (Hán và Việt: âm và nghĩa).
6. Trung dung (Hán và Việt: âm và nghĩa).
7. Luận ngữ (Hán và Việt: âm và nghĩa).
8. Tam thiên tự (3 cuốn: 1 cuốn Hán và Việt, 1 cuốn theo lối tự điển Việt-Hán-Pháp, 1 cuốn Pháp-Việt-Hán).
9. Minh Đạo gia huấn (Hán và Việt: âm và nghĩa).
10. Ngũ thiên tự (Hán và Việt: âm và nghĩa).
11. Mạnh Tử (Hán và Việt: âm và nghĩa).
12. Học chữ Hán một mình.

Sách của ông được viết với lối hành văn mộc mạc, dùng từ ngữ bình dân, đọc lên ai cũng hiểu, không chỉ được phổ biến khắp Nam Kỳ lục tỉnh, mà còn đưa ra cả ngoài miền Trung, miền Bắc. Thư quán phát hành vốn là nhà riêng của ông làm thành hiệu sách ở số 143 đường Đề Thám (đường Dixmude cũ), quận Nhứt (quận 1), Sài Gòn.

Trong công việc trước tác và dịch thuật của ông, công trình to lớn nhất đóng góp cho kho tàng sách Phật Giáo là bộ Phật Học Từ Điển gồm 3 cuốn với một số lượng từ ngữ chưa có sách nào sánh kịp lúc bấy giờ. Sách được biên soạn rất công phu, xếp theo mẫu tự La-tinh. Mỗi mục từ được chú thích thêm các thứ tiếng Pháp, Hán, Tạng, Sanscrit, Pàli rất rõ, giúp độc giả có điều kiện tham khảo từ các sách được viết bằng các ngoại ngữ trên.

Ngoài việc biên soạn và xuất bản sách, vào năm 1955 ông cùng với các nhà sư và các thân hữu thuộc phái Lục Hòa Tăng thành lập một tông phái mới gọi là Tịnh Độ Tông Việt Nam với mục đích khuyến giáo Phật Tử tu theo pháp môn Tịnh Độ. Lúc mới thành lập, trụ sở của Hội đặt tại chùa Giác Hải ở Phú Lâm, Chợ Lớn; ông được bầu giữ chức vụ Trị Sự Trưởng Ban Chấp Sự Trung Ương. Năm 1959, xây cất chùa Liên Tông tại số 145 Đề Thám, Sài Gòn và Hội Tịnh Độ Tông dời trụ sở về hoạt động tại đây.

Cư Sỹ Đoàn Trung Còn là người có công lớn đối với công việc hoằng dương Chánh Pháp. Vào thời điểm mà kinh sách về Phật Giáo viết bằng chữ quốc ngữ phổ thông còn rất hiếm hoi, trình độ hiểu biết về giáo lý đạo Phật trong đại đa số quần chúng Phật Tử còn mờ mịt; thì ông là người cư sĩ không chỉ biết tu hành hướng thiện cho bản thân, mà còn đem cả tâm huyết nghiên cứu, học hỏi để viết sách, dịch kinh phổ biến cho mọi người cùng tu học; chúng ta có thể nói rằng những Phật Tử sống vào nửa đầu thế kỷ XX nâng cao sự hiểu biết Phật Pháp của mình, ngoài những buổi nghe các bậc Giảng Sư thuyết pháp ở chùa, một phần khác cũng đã nhờ đọc những cuốn sách của ông.

Đầu thập niên 1970, ông xuất gia, thọ giới, trở thành tu sĩ Thích Hồng Tại. Mặc dù trải qua nhiều biến động, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu, biên soạn và sáng tác cho đến khi qua đời vào ngày 28 tháng Giêng năm Mậu Thìn (nhằm ngày 15 tháng 3 năm 1988) hưởng thọ 80 tuổi với trên 50 năm cống hiến cho sự nghiệp truyền bá Phật Giáo. Hội Tịnh Độ Tông Việt Nam tổ chức tang lễ của ông tại chùa Liên Tông, sau đó di quan đến nơi hỏa táng ở đồi khuynh diệp của Bác Sỹ Tín ở miệt xa lộ Biên Hòa.

Trở thành tu sỹ Thích Hồng Tại.

—=oOo=—

NGUỒN GỐC & XUẤT XỨ TÀI LIỆU:
Trích và chỉnh lý từ sách “Tiểu Sử Danh Tăng Việt Nam Thế Kỷ XX” – Thích Đồng Bổn chủ biên.

 

digg delicious stumbleupon technorati Google live facebook Sphinn Mixx newsvine reddit yahoomyweb