Người canh giữ tiếng chuông Phật Học Viện Hải Đức – Nha Trang

0

Gác chuông chùa Hải Đức

 

Tiếng hồng chung Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang nói riêng và các chùa trong thành phố Nha Trang nói chung, sớm khuya ai cũng có thể nghe được, nhưng nghe để “trí tuệ lớn” và “bồ-đề sinh” thì tùy theo “phiền não” của đối tượng nghe có vơi nhẹ hay không

Riêng với nhà văn Võ Hồng, qua tác phẩm “Tiếng Chuông Triêu Mộ” cho thấy trí tuệ và bồ đề của ông sanh trưởng tốt. Nhưng nhân duyên như thế cũng chưa đủ, ông là giáo sư của Phật Học Viện, của trường Bồ Đề, là thiện tri thức của các bậc cao Tăng ở đồi Đông và đồi Tây non Trại Thủy. Có thế mới có truyện ngắn “Cây Khế Lưng Đồi”, có tùy bút “Con Đường Thanh Tịnh”. Thưa thầy Võ Hồng, chừng ấy đủ rồi, đủ cho Phật Học Viện đi vào lịch sử văn học, đủ cho 100 năm sau, 1000 năm sau hay nhiều hơn thế nữa, nhìn thấy Phật Học Viện uy nghi như một Linh Thứu thời Phật và cũng cho thấy các bậc Cao Tăng miền Trung nói riêng xứng đáng là những Sứ Giả Như Lai đầy trách nhiệm đối với sự trường tồn của Phật Giáo Việt Nam.

Tiếng chuông trong hiện thực hay trong văn học đời nào cũng hiện hữu thì Phật Giáo Việt Nam vẫn tồn tại. Chỉ riêng Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang, dù thịnh hay suy, tiếng chuông sớm khuya vẫn không hề gián đoạn hay tắt lịm giữa đêm tối vô minh. Điều ấy chứng tỏ các vị Tăng, những người con kiên định của Phật Học Viện biết phát huy lý tưởng khổ hạnh giải thoát của mình, công phu gióng lên tiếng chuông nhiệm mầu không những cho thế gian này mà đến cả Thiết Vi. Riêng người viết bài này, từ niệm thù ân cội nguồn mà điểm lại một chặng đường lịch sử bể dâu.

Có một thời, không phải riêng tôi mà tất cả đồng môn hành điệu nơi này đã sớm chiều công phu gióng lên tiếng chuông trên đồi cao lộng gió. Nhưng rồi cái thời thánh thiện ấy cũng nhanh chóng qua mau như “nồi kê chưa kịp chín”. Vào thời điểm mở cửa, nên cũng kịp góp vốn xoay xở làm ăn, để cho sự tồn tại không phải đạp xích lô hay làm kẻ gánh thuê ở chợ Đà Lạt như các tri thức lỡ vận của xứ này… Một thời học kinh bằng chữ Hán rồi được nâng lên từ đại học Vạn Hạnh nên cái vốn Hán-Nôm cũng đủ lận lưng để giúp tôi rà soát, chỉnh sửa lại những bản dịch luật của thầy. Cái “bất tu” ấy lại hiện thực tính biện chứng của nó từ đây.

Khoảng những năm cuối của thập niên 70, tôi được ông bà cụ nhà ở gần nhà thờ Tin Lành, Xóm Bóng, là ông bà ngoại của người bạn dạy cùng trường Vĩnh Hải – Đồng Đế cho ở nhờ trong gian phòng nhỏ riêng biệt và cho tôi đóng góp vào hai bữa ăn do cụ bà nấu nướng. Hai cụ có người con rể là mục sư Tin Lành, tất nhiên hai cụ là tín hữu ngoan đạo, thường thuyết giảng giáo lý Tin Lành cho tôi nghe, có lần rủ tôi đi dự lễ Chúa giáng sinh… Tôi lắng nghe và làm theo như một tín hữu từ bi. Hai bữa cơm trưa, tối, trước khi ăn, tôi nghiêm chỉnh lắng lòng nghe hai cụ cầu nguyện và bày tỏ lòng biết ơn Chúa: “Chúa tạo ra sự sống, Chúa đã cho con thức ăn này, thức ăn này từ Chúa mà có… Chúng con biết ơn chúa…” Tôi cung kính lắng nghe và tâm niệm theo kiểu của tôi, hai cụ rất hài lòng.

Ngày nọ cụ bà hỏi tôi:

– Bên Phật có cầu nguyện như thế này không?

– Thưa cụ, còn hơn thế nữa cụ ạ! Tôi đáp lời.

– Thầy có thể nói cho tôi nghe nội dung được không?

Tôi từ tốn thưa rằng:

Có 3 điều nguyện và 5 việc phải xét mình.

Ba nguyện là:
1. Nguyện dứt bỏ điều ác.
2. Nguyện làm các điều thiện.
3. Nguyện cứu giúp mọi người.

Năm xét là:
1. Xét vật thực, công của ít nhiều này từ đâu đến.
2. Xét đo mình có đủ đức hạnh hay khiếm khuyết rồi mới ăn.< 3. Khi ăn phải ngăn chận tâm tham lam tội lỗi. 4. Xem vật thực này là loại thuốc tốt để chữa bệnh khô gầy. 5. Phải thành đạo nghiệp mới nhận thức ăn này.

Thưa hai cụ, các điều nguyện và xét cháu vừa trình bày, quả thật, trừ tu sĩ, phần lớn Phật Tử chỉ niệm Phật, ít ai chú nguyện trước khi ăn như bên hai cụ. Gương hai cụ là bài học cho cháu đấy.

Thời gian đan xen nhiều thứ ác và thiện, rủi ro và may mắn, khổ đau hay sung sướng… Nói khác đi, thời gian của “nhị nguyên”. Sau đó không lâu tôi dời chỗ ở và mãi đến một, hai năm sau. Ngày ấy, khi hay tin bà cụ kéo nước tưới cây, hệ thống ròng rọc bị gãy đổ, bà cụ ngã nhào rơi xuống giếng sâu, phải mất mấy tiếng sau, trong đêm, người nhà mới phát hiện ra khổ nạn đau lòng này. Tôi đến thăm, cả nhà đang cầu nguyện giữa hoa và đèn sáp lung linh. Tôi xin được cùng tham dự.

Trong thời gian tạm ngụ tại nhà hai cụ, khuya nào tôi cũng nghe được tiếng chuông chùa. Sau một thời gian kiểm nghiệm âm thanh vang vọng từ bên này và bên kia sông Cái, rồi nhớ lại độ ngân thuở mình là nhân chứng, tôi vui mà cả quyết rằng âm thanh ấy là từ tiếng chuông Phật Học Viện Hải Đức – Nha Trang. Còn đó dòng sông Cái, một lăng kính khúc xạ âm thanh bàng bạc làm chứng cho điều xác quyết của tôi.

Thời ấy, Phật Học Viện như “tan đàn xẻ nghé”, nhưng lớp sau vẫn canh giữ tiếng chuông đều đặn bất chấp thịnh hay suy. Đến nỗi tại đây chỉ còn lại một hai thầy vẫn kiên trì sớm khuya canh giữ tiếng chuông. Trong Phật pháp luôn nói đến điều nhiệm mầu và chính điều này tác động lên cái tâm thanh tịnh của các vị Tăng: Phước Niệm, Phước An, Tâm Pháp… đã vô ngôn trong hạnh nguyện của mình. Nhưng riêng Tâm Pháp út ít, nguyện làm người canh giữ tiếng chuông Phật Học Viện đến trọn đời. Thời gian còn lại so với mấy mươi năm công phu gióng chuông chẳng là bao, nhất định thầy Phượng tròn hạnh nguyện, và như thế Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang vẫn tồn tại theo tiếng chuông canh giữ của thầy và chắc chắn tiếng chuông sẽ mãi mãi tương tục với thời gian. Công đức ấy là vô lượng, cho nên, việc thiếu thốn cơm, áo, gạo, tiền là chuyện có gì phải đáng quan tâm, nhất định sẽ có Hộ Pháp ủng hộ, và sự khỏe mạnh cùng tiếng chuông tinh tấn của thầy Phượng, suốt thời gian qua là một minh chứng. Hạnh đầu đà thời nào cũng vẫn thế, và như thầy đã biết Thế Tôn ca ngợi, tán dương hạnh đầu đà của Tôn Giả Ca Diếp như thế nào rồi. Hãy soi gương Tôn Giả Ca Diếp mà tự tại trên non Trại Thủy gió lộng bốn mùa này. Còn có cõi về nào hơn thế nữa? Hãy sống tròn hạnh nguyện với nó, hỡi một Phước An, Tâm Pháp còn lại! Ừ! Tâm Pháp là ai nhỉ? Là đệ tử của ngài Trừng San, quê Diên Khánh, tục danh là Nguyễn Dư, thường gọi là thầy Phượng. Thầy vào Phật Học Viện năm 1969 và nguyện canh giữ tiếng chuông Phật Học Viện đến trọn đời. Chỉ cần nghe tiếng chuông của thầy gióng lên từ cội nguồn là đủ cho tôi tự tại đi giữa lòng trần thế mà điều xấu ác nhiều hơn điều thiện như vây bọc kiếp người.

Rồi một ngày tôi quay về chùa Phước Điền để gặp gỡ huynh đệ cựu Tăng. Tôi nghe pháp hữu Giác Tuệ nói như vầy: Hằng khuya tôi ở Xóm Dừa bên kia một “nhánh sông đen” cạnh “phố” Phường Củi, nghe tiếng chuông Phật Học Viện ngân vọng rất ấm lòng. Được biết thầy Tâm Pháp thiếu gạo ăn, chúng ta xin cúng dường phần này được không? Hình như biên bản cuộc họp có ghi rõ sự nhất trí cao ý nguyện cúng dường này. Riêng tôi, từ khi nghe tiếng chuông đến lúc gặp mặt đầu đà Tâm Pháp trên 30 năm… Tôi rất hỗ thẹn nhưng vô cùng hạnh phúc được đóng góp công đức nhỏ nhoi muộn mằn này. Thầy Phượng đã ôm choàng tất cả huynh đệ trong buổi hội ngộ.

Chắc chắn chúng ta sẽ gặp lại trong kiếp luân hồi nào đó, dù dưới hình hài nào đi nữa. Trong đó có thể xác quyết tiếng chuông Phật Học Viện hôm nay là nhân lành của chúng tôi nói riêng và cảnh giới khác nói chung.

PHƯỚC THẮNG.
Chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa.

Chùa Hải Đức – Phật Học Viện Trung Phần – Nha Trang

Share.

Leave A Reply

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.