Thủ Huồng – Chuyện cổ tích, lịch sử, mà cũng là chuyện Nhân Quả Luân Hồi

Thủ Huồng theo vợ xuống địa ngục “thăm chơi”. (Minh họa).

Thủ Huồng tên thật Võ Hữu Hoằng, theo chuyện kể thì ông là người châu Đại Phố (tức Cù Lao Phố), huyện Phước Chính, phủ Phước Long, nước Đại Nam (nay là Biên Hòa, Việt Nam). Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, ông có tên Võ Hữu Hoằng. Nhưng dân chúng đọc trại Hữu thành ThủHoằng thành Huồng, nên tên thật bị biến thành Võ Thủ Huồng, gọi tắt là Thủ Huồng, có nơi ghi là Thủ Huồn, Thử Huờn, Thủ Hoằng, Võ Thủ Hoằng.

Chuyện Võ Hữu Hoằng sơ lược như sau:

Chiếc gông to ở địa ngục dành cho Thủ Huồng. (Minh họa).

Khoảng năm 1755, ở châu Đại Phố có một người tên là Võ Hữu Hoằng, xuất thân làm thơ lại. Trong hai mươi năm làm việc trong nha môn, ông đã thu tóm được nhiều tiền của. Sau khi vợ mất sớm lại không con, mà tiền bạc thì quá thừa thải, Thủ Huồng cáo quan về nhà.

Thủ Huồng rất yêu vợ, cho nên khi nghe người mách rằng ở chợ Mãnh Ma (Quảng Yên) là chỗ người sống và người chết có thể gặp nhau, ông quyết đi tìm vợ. Gặp nhau, trong lúc trò chuyện, Thủ Huồng ngỏ ý muốn xuống âm phủ chơi và được vợ đồng ý dắt đi.

Ở cõi âm, ông tận mắt nhìn thấy những cực hình dành cho những kẻ phạm nhiều tội ác khi còn sống. Và ông cũng đã nhìn thấy một cái gông to, mà cai ngục cho biết là để dành cho ông sau khi ông qua đời…

Khi trở lại cõi dương, Thủ Huồng đem toàn bộ tài sản dùng vào việc bố thí, xây dựng những công trình phúc lợi, đặc biệt là làm nhà để giúp dân nghèo dừng chờ nước triều ở ngã ba sông.

Lần thứ 2 xuống địa ngục, gông đã nhỏ đi nhiều. (Minh họa).

Sách Gia Định Thành Thông Chí chép:

“Thuở ấy, dân cư còn thưa thớt, ghe đò hẹp nhỏ, hành khách nấu cơm, đun trà rất khổ, vì vậy có người phú hộ ở tổng Tân Chánh là Võ Thủ Hoằng kết tre lại làm bè, trên che lợp phòng ốc, sắm đủ bếp núc, gạo, củi, và đồ ăn để dưới bè cho hành khách tùy ý dùng mà không bắt phải trả tiền. Sau đó khách buôn cũng kết bè nổi bán đồ ăn nhiều đến 20, 30 chiếc, nhóm thành chợ trên sông, nên mới gọi xứ ấy là Nhà Bè. Sau này đường thủy, đường bộ lưu thông, dân cư đông đúc, người qua lại đều dùng ghe nhà nên đò dọc phải dẹp bỏ…”. Vì kỵ húy tên vua Hoằng Lịch – tức vua Càn Long – nhà Đại Thanh (Trung Hoa) nên phải đọc trại đi là Võ Thủ Huồng. Cầu Thủ Huồng giữa Tân Vạn và chợ Đồn (Biên Hòa) tương truyền do Võ Thủ Huồng kiến tạo đến nay vẫn còn.

Sau, Thủ Huồng được vợ đưa xuống cõi âm lần nữa, và thấy cái gông ngày cũ đã nhỏ lại rất nhiều. Từ đó, ông tiếp tục làm việc thiện, việc nghĩa cho đến khi mất.

Khá lâu sau, có ông vua nhà Thanh (Trung Hoa) tên là Đạo Quang (1782-1850) lúc mới lên ngôi (1820) có cho sứ sang Việt Nam hỏi lai lịch một người ở Gia Định. Nguyên lai là khi mới sanh, trong lòng bàn tay vua đã có mấy chữ “Đại Nam, Gia Định, Thủ Hoằng”. Khi rõ chuyện, nhà vua có gởi cúng chùa Chúc Thọ (bấy giờ gọi là chùa Thủ Huồng) ở Biên Hòa một bộ tượng Tam Thế Phật bằng gỗ trầm hương. Do việc này, mà người ta bảo rằng: Nhờ thành thật hối lỗi, Thủ Huồng chẳng những làm tiêu mất cái gông đang chờ ông ở cõi âm, mà còn được đầu thai làm vua ở Trung Hoa.

Đạo Quang hoàng đế (Trung Hoa).

Di tích:

Ngày nay, ở Cù Lao Phố (Biên Hòa) còn có một ngôi chùa liên quan đến Thủ Huồng. Chùa này ban đầu có tên là chùa Chúc Đảo, sau đổi là Chúc Thọ (vì chữ “Thọ” tự dạng giống chữ “Đảo” mà lại có ý nghĩa hơn) tọa lạc ở số 542A2, phường Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Chùa được dựng vào thế kỷ XIX, còn có tên là chùa Thủ Huồng, do tích ông Thủ Huồng sau khi được người vợ quá cố dẫn đi thăm âm phủ, đã thấy tội lỗi của mình nên đã bán cả gia sản để làm phước, xây chùa. Chùa đã được trùng tu nhiều lần. Hiện nay trong chùa còn bảo tồn 3 pho tượng Phật cổ bằng gỗ và bộ tượng A-la-hán cao 0,74m bằng đất nung từ thế kỷ XIX .

Một góc chùa Chúc Thọ (Chúc Đảo Tự; chùa Thủ Huồng).

Con rạch chạy ngang qua đường Tân Vạn (từ thành phố Biên Hòa vòng qua quốc lộ 1A đi Sài Gòn) do Thủ Huồng sai vét nên gọi là rạch Thủ Huồng. Chiếc cầu đá trên đường gần sông Đồng Nai đi Tân Vạn cũng gọi cầu Thủ Huồng, vì nhờ ông mới có. Còn chỗ ngã ba sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, nơi mà Thủ Huồng cho kết bè nổi để cho khách thương hồ có nơi ăn nghỉ đợi chờ con nước, sau biến thành cả một khu chợ trên sông. Do đó cái tên bến Nhà Bè, sông Nhà Bè, huyện Nhà Bè… chính là để ghi dấu cái “nhà bè” do Thủ Huồng lập ra trên khúc sông vừa kể.

(Trong tập “Liêu Trai Chí Dị” của Bồ Tùng Linh, một cuốn sách khá quen thuộc với người đọc Việt Nam cũng có truyện “Thủ Huờn tìm vợ”).

Quang Mai sưu tầm & biên tập.

digg delicious stumbleupon technorati Google live facebook Sphinn Mixx newsvine reddit yahoomyweb