Tiếng gọi tâm linh

0

Phát tâm Bồ-tát, trên cầu Phật đạo, dưới độ chúng sanh, tư độ cho mình, sau độ cho người, tu đạo xuất thế gian mà không rời thế gian pháp.

Thiền Sư DUNG CẢNH.

Lời nói đầu

Chẳng mấy ai thấy được tiếng gọi tâm linh. Số người có tiếng gọi tâm linh gọi đến: “Con hãy đi tầm sư học đạo, hãy kiên quyết, chớ nản lòng…” rất ít. Nhưng một khi nghe thấy tiếng gọi tâm linh rồi, người hành giả tự nhiên cảm thấy – như ngài Bạch Ẩn Huệ Hạc (Hakuin ZenJi), vị Thiền Sư lỗi lạc dòng Lâm Tế Nhật Bản đã nói – một Đại Tín Căn (một lòng tin vững chắc) và một Đaị Phấn Chí (một chí dũng cảm, kiên trì) trên đường tìm đạo và học đạo.

Ngày xưa vào thời vua Lương Võ Đế, Thần Quang, một người thông kinh bác cổ, nghe tiếng gọi tâm linh đã trèo đèo vượt núi đến chùa Thiếu Lâm – Tung Sơn bái yết Tổ Sư Đạt-ma mong được khai thị. Đạt-ma ngồi yên lặng xoay mặt vào vách không thèm ngó ngàng đến. Do đó, Thần Quang phải đứng đợi ngoài cửa, gặp lúc tuyết rơi đầy trời, đến nỗi ngập tới đầu gối.

Đạt-ma thấy Sư đúng là người thành kính cầu pháp, mới mở miệng hỏi:

– Ông đứng lâu trong tuyết, mong cầu việc gì?

Thần Quang thưa:

– Xin Hòa Thượng mở cửa Cam Lồ, rộng độ chúng sanh.

Đạo vi diệu, đạo vô thượng của Phật chỉ có thể đạt được qua những nỗ lực vô tận, qua sự hành trì cái không thể hành được, chịu đựng điều không thể chịu đựng được. Nay ngươi chỉ có một chút đạo hạnh, một ít trí tuệ nhỏ nhoi, với một tâm nông cạn và đầy ngã mạn, làm sao có thể mong đạt tới chân pháp được?”

Thần Quang nghe nói như thế, liền lấy dao chặt đứt cánh tay trước mặt Đạt-ma.

Đạt-ma chấp nhận, hứa khả cho làm đệ tử, đặt tên là Huệ Khả, để trở thành Đệ Nhị Tổ của Thiền Tông Trung Hoa.

Ngày nay, một thanh niên người Pháp, James Christopher, tốt nghiệp đại học, đang làm Giám Đốc điều hành cho một công ty về máy tính với số lương đến vài trăm ngàn đô-la Mỹ một năm, nghe tiếng gọi tâm linh Thiền Tông Trúc Lâm Yên Tử đã quyết định âm thầm học tiếng Việt, bỏ việc sang Việt Nam, mặc dầu là con một trong một gia đình Thiên Chúa Giáo. Vừa đến Việt Nam anh liền đến Thiền Viện Trúc Lâm Phượng Hoàng – Đà Lạt xin xuống tóc làm Sa-di – Pháp hiệu Thích Trúc Thái Hội – với thầy trụ trì Thích Thông Phương.

Cũng tại Pháp Quốc, một thanh niên trong khi học đại học, môn Sinh Vật Phân Tử Học (Molecular Biologie), nghe theo tiếng gọi tâm linh, cho nên mỗi kỳ nghỉ hè đã sang Ấn Độ, tìm đến một ông thầy Mật Tông người Tây Tạng, ngài Kangyur Rinpoché. Anh ngồi nghe thầy nói mà chẳng hiểu gì cả, vì trò không biết tiếng Tây tang, thầy không biết Pháp ngữ hay Anh ngữ. Năm 1972, khi vừa tốt nghiệp Tiến Sĩ xong, chàng trai đã tuyên bố với song thân, thầy dạy học và các họ hàng bạn bè, từ nay anh sẽ rũ bỏ áo trắng của một nhà khoa học để mặc áo nâu đỏ của một tu sĩ Mật Tông Tây Tạng. Mathieu Ricard đã trở thành một Thị Giả thông dịch viên cho Ngài Đạt-lai Lạt-ma thứ 14. Anh đã từ một nhà khoa học đến một Tỳ-kheo.

Bên Nhật, một vị tu sĩ Phật Giáo, ngài Soko Morinaga, đã mô tả lại những khó khăn, trở ngại khi ngài dấn thân vào con đường ít ai đi trong cuốn “Novice to Master” rất được người Âu Châu ưa chuộng một thời.

Dưới đây là tự truyện của một thanh niên người Trung Quốc nói lên ý chí cương quyết muốn đi tu của mình mặc dầu gặp biết bao khó khăn cản trở. Ngay khi còn nhỏ, mới 13 tuổi, vừa nghe kinh Phật, đã thấy – như chàng ta nói “vui mừng khôn xiết như người mê chợt tỉnh“. Kể từ ngày ấy người thanh niên này theo đuổi việc tu hành miên mật, bất kể mọi trờ ngại, để trở nên sau này một Thiền Sư lỗi lạc ít ai bằng.

Chúng ta hãy xem 23 năm đầu cuộc đời tu hành của chàng thanh niên này

— oOo —

Thuở nhỏ

Ta tên tục là Trai, xuất thân từ Lang Lăng, vốn thuộc dòng dõi vua Lương Võ Đế ngày trước. Cha ta là Ngọc Đường, mẹ ta tên là Nhan Thị, cư ngụ tại tỉnh Hồ Nam thuộc huyện Tương Lương. Cha ta làm quan tại châu Vĩnh Xuân, tỉnh Phúc Kiến. Mặc dù lập gia đình đã lâu nhưng cha mẹ ta vẫn chưa có con nên mẹ ta thường ra ngoài thành nơi chùa Quan Âm cầu tự. Bà thấy nóc chùa bị hư hoại, không ai sửa chữa nên phát nguyện trùng tu lại.

Đêm nọ, cả cha mẹ ta đều năm mơ thấy một vị áo xanh, tóc dài, trên đỉnh đầu có tượng Bồ-tát Quan Thế Âm, cưỡi hổ đến rồi nhảy lên trên giường. Mẹ ta kinh sợ giật mình tỉnh dậy, liền thọ thai. Cuối năm Đạo Quang thứ 20 (1840), cha ta được bổ đi nhậm chức tại phủ Nguyên Châu. Tháng Bảy, ngày 20, giờ Dần, ta ra đời nhưng lúc ấy toàn thân được bao bọc bởi một bọc thịt. Mẹ ta thấy vậy kinh hãi, nghĩ từ đây về sau chắc không còn hy vọng sanh con được nữa nên buồn uất khí mà chết. Hôm sau có ông lão bán thuốc đến cắt bọc thịt mang ta ra. Từ đó ta được bà kế mẫu là Vương Thị chăm sóc nuôi nấng.

Ngay từ nhỏ ta không ăn thịt, nếu nhà bắt ăn liền bị nôn mửa ra, nên cả nhà cho là điều lạ. Năm ta được 11 tuổi thì cha ta được bổ nhiệm đi trông coi phủ Tuyền Châu nên ta được gửi cho người chú trông coi. Vào lúc đó, tục tảo hôn rất thịnh hành, bà nội ta đã làm lễ đính hôn cho ta với 2 người con gái, Điền Thị và Đàm Thị. Cả hai đều thuộc dòng dõi nhà quan tại Phúc Kiến, đã từng là bạn thông giao với dòng họ ta từ lâu.

Năm ta được 13 tuổi thì bà nội qua đời. Ta theo cha đưa linh cữu về quê an táng. Trong nhà thỉnh Chư Tăng đến tụng kinh cầu siêu rất trọng thể. Đây là lần đầu tiên ta được nghe kinh Phật và thấy pháp khí Tam Bảo, tự tâm vui mừng khôn xiết như người mê chợt tỉnh. Từ đó ta chuyên tâm nghiên cứu kinh Phật, đọc tụng những bộ kinh như A Di Đà, Phổ Môn. Ta xem chuyện Hương Sơn nói về sự tích thành đạo của đức Bồ Tát Quan Thế Âm, liền thâm nhiễm vào tâm.

Ít lâu sau ta cùng cha đi Đài Loan, lên thuyền từ cửa Hạ Môn xuất phát. Đang lênh đênh trên biển bỗng nhiên có một quái vật lớn như núi, cao hơn mặt biển cả vài chục thước xuất hiện. Mọi người đều sợ hãi. Ta nhớ đến công hạnh tầm thanh cứu khổ của Bố-tát Quan Thế Âm nên yêu cầu tất cả mọi người trên thuyền hãy niệm danh hiệu Bồ-tát Quan Thế Âm. Thuyền chạy khoảng nửa giờ sau thì thấy đuôi cá khổng lồ dài cả mấy trăm thước nhô lên nhưng thuyền được bình an vô sự.

Tháng 8 năm đó ta theo chú đi hành hương lễ bái khắp chùa tại Nam Ngạc. Dường như có duyên xưa hay sao mà ta cứ quyến luyến cảnh chùa không muốn trở về nhà nữa. Hiềm vì chú ta quá nghiêm khắc nên ta không dám làm trái ý, đành miễn cưỡng trở về nhà.

Có chí xuất gia

Chú ta biết ta muốn chí xuất trần nên muốn dùng lợi lạc thế gian mà lưu giữ lại. Chú mời một Đạo Sĩ tên là Vương Tiên Sinh đến nhà dạy ta cách tu hành. Vị này dạy ta đọc sách Lão cùng dạy ta luyện nội ngoại khí công. Tuy tâm ta không muốn học, nhưng sợ chú không dám cãi. Ta học sách Đạo Giáo tại nhà suốt 3 năm, chịu nhẫn nhục hết sức. Bên ngoài dường như không có gì nhưng bên trong cứ như ngồi bàn đinh. Ngày nọ thừa lúc chú đi vắng, ta nghĩ thời điểm rời nhà đã đến, nên xách quần áo trốn đi Nam Ngạc. Hiềm vì đường xa khó đi nhanh nên giữa đường người nhà tìm bắt được, đưa trở về Tuyền Châu.

Biết ta có ý xuất gia, cha ta vội cho rước hai cô họ Điền và Đàm để cử hành hôn lễ, mong rằng ta sẽ lụy vì tình riêng mà quên đi việc xuất gia tìm đạo. Trong thời gian trước hôn lễ ta bị giữ chặt tại nhà không cho đi đâu sợ ta lại trốn. Tuy nhiên ý ta đã quyết nên đêm tân hôn, ta vào phòng riêng nói rõ ý định muốn xuất gia cho hai cô vợ nghe nên họ cũng hiểu. Từ đó ta bắt đầu giảng giải Phật pháp cho hai vợ cùng nghe. Tuy ở chung nhà nhưng chúng ta không nhiễm tình dục, dù nơi phòng riêng hay nhà khách, chúng ta đều là bạn đạo thanh tịnh. Người em họ con chú ta tên là Phú Quốc cũng có chí xuất tục nên đồng học Phật pháp với ta.

Năm 19 tuổi ta quyết chí ly tục. Phú Quốc cũng đồng chung chí hướng nên chúng ta bí mật xem xét lộ trình đến Cổ Sơn ở Phước Châu. Ta làm bài ca “Túi Da” (Bao Bì Ca) để lưu biệt hai cô họ Điền và họ Đàm rồi sau đó cùng Phú Quốc trốn nhà đến chùa Dõng Tuyền, núi Cổ Sơn, tỉnh Phước Châu xin Hòa Thượng Thường Khải làm lễ xuống tóc cho. Ta theo Hòa Thượng Diệu Liên ở Cổ Sơn làm lễ Cụ Túc, pháp danh là Cổ Nham cùng Diễn Triệt, tự Đức Thanh. Sau khi thọ giới Cụ Túc, Phú Quốc hành cước tha phương tìm thầy học đạo, từ đó không còn biết tông tích chi nữa.

Hay tin ta trốn nhà ra đi, chú ta sai người đi khắp nơi tìm. Quan quân được lệnh lùng xét các chùa chiền trong vùng nên ta phải trốn ở nơi hang động sau núi không dám lộ diện. Lúc ấy ta chuyên hành lễ sám hối. Tuy trong núi có nhiều hổ sói nhưng ta không hề sợ sệt. Sau 3 năm chuyên tâm lễ sám, ngày nọ một vị Sư ở Cổ Sơn đến cho ta hay rằng cha ta đã từ quan về hưu, quan quân thôi việc lùng bắt ta nên ta không cần phải trốn lánh nữa. Ta bèn trở về chùa nhập Chúng làm việc.

Năm ta được 25 tuổi, có người đến cho ta hay rằng cha ta bị bệnh nên đã qua đời tại huyện Tương Lương. Sau khi cha ta mất, kế mẫu Vương Thị dẫn hai cô con dâu đi xuất gia làm Ni Sư. Bà Vương Thị với pháp danh Diệu Tịnh; cô Điền Thị pháp danh là Chân Khiết; cô Đàm Thị pháp danh là Thanh Khiết. Từ đó ta không còn biết tin tức gia đình nữa.

Nhập chúng tu tập

Ta nhập Chúng tại Cổ Sơn hơn 4 năm. Công việc của ta lúc ấy là nấu cơm, làm vườn, hành đường, điển tọa. Tất cả đều là cực nhọc nhưng ta không hề phiền lòng. Lúc đó trên núi có Thiền Sư Cổ Nguyệt, là vị Sư tu khổ hạnh bậc nhất trong Chúng nên ta thường đến đàm đạo học hỏi với Ngài. Ta theo Ngài sống “tam thường bất túc”(1) nên những khi Pháp Đồ cúng dường cho Chư Tăng trong chùa ta đều không nhận. Mỗi ngày ta chỉ ăn một chén cơm mà sức khỏe vẫn tráng kiện.

Một hôm ta nghĩ ta đã nhập Chúng mấy năm mà việc tu hành vẫn chưa tiến bộ bao nhiêu. Lại nhớ khi xưa Pháp Sư Huyền Trang 10 năm trước khi qua Ấn Độ thỉnh kinh đã tự học ngôn ngữ xứ này, ngài tập mỗi ngày đi trăm dặm và nhịn ăn. Mới đầu một ngày, rồi lần lần đến 10 ngày để chuẩn bị sau này phải đi qua những bãi sa mạc hoang vu, tuyệt không có nước. Việc tu hành khổ hạnh của các bậc Cổ Đức là như thế. Tại sao ta lại không hành theo gương người xưa? Nghĩ thế, ta xin từ chức công việc trong chùa, chia hết vật dụng tư nhân cho Chư Tăng, chỉ mang theo mình một y, một bát, một đôi vớ, một tấm bồ đoàn, một cái nón lá rồi trở lại hang động trong núi mà tu hành.

Trong ba năm đó ta sống rất đơn giản. Đói ăn đọt tùng lá dại, khát uống nước suối sương. Giày vớ ngày càng rách nát chỉ còn lại một chiếc áo tràng che thân. Đầu tóc mọc dài cả mấy thước, đôi mắt sáng rực, người ở xa nhìn thấy tưởng yêu quái đều bỏ chạy. Ta cũng chẳng muốn cùng người nói chuyện, chỉ im lặng tu hành. Ta không nhận sự thương hại hay thức ăn nấu chín của người thế gian, chỉ ăn lá cây dại. Nơi rừng sâu núi thẳm, hổ sói rắn trùng không hại. Trong 3 năm liền, ta một lòng quán chiếu cùng niệm Phật. Ngửa mặt nhìn trời, muôn sự đều nằm trong tâm, ta sống an lạc như vị Trời ở cõi Tứ Thiền và nghiệm biết tai họa của thế nhân đều do thân, khẩu, ý gây ra. Cổ nhân đã nói âm thanh của một bình bát còn vang xa hơn cả muôn vàn tiếng chuông. Riêng ta bình bát cũng chẳng có nên ta ung dung tự tại không ngại.

Càng tu sức khỏe của ta càng tráng kiện, tai mắt càng tinh thông và có thể chạy nhanh như bay. Từ đó ta vân du khắp nơi tùy ý thích, có núi thì ở, có lá dại thì ăn, từ nơi này qua nơi khác, qua một năm mà chẳng biết ngày tháng…

Theo Tông Thiên Thai

Ngày nọ khi dừng chân nơi một ngọn núi ở Ôn Châu thì có một vị Sư đi đến đảnh lễ và hỏi:

– Lâu nay nghe hạnh cao của thầy nên đến cầu xin chỉ dạy.

Nghe thế ta cảm thấy vô cùng xấu hổ liền đáp:

– Kẻ này tri thức ngu muội thiếu sự tham học đâu dám chỉ dạy cho ai.

Vị sư kia ngạc nhiên hỏi:

– Thầy hành hạnh này bao nhiêu năm rồi?

Ta liền thuật lại những việc đã xảy ra trong những năm sống trong rừng núi. Vị ấy nghe xong liền bảo:

– Tôi cũng chỉ tham học đôi chút không biết gì nhiều, nhưng tôi nghe nói trên núi Thiên Thai, Hoa Đảnh, am Long Tuyền có Lão Pháp Sư Dung Cảnh là người đạo cao chức trọng, thầy nên đến đó mà cầu đạo.

Nghe thế ta liền cảm tạ vị Tăng kia rồi đi thẳng đến núi Thiên Thai.

Khi đến núi Thiên Thai, ta gặp một vị Tăng nên hỏi thăm chỗ ở của Pháp Sư Dung Cảnh. Vị Tăng đó đáp.

– Vị sư mặc áo vá, ngồi thiền đằng kia chính là Ngài đó.

Ta bèn đi thẳng đến cúi đầu đảnh lễ nhưng Lão Pháp Sư chẳng màng quay đầu lại. Ta liền bạch:

– Con từ xa đến đây xin được thân cận học hỏi, mong Ngài vì lòng từ bi mà chỉ dạy cho.

Pháp Sư xoay mình lại nhìn ta hồi lâu rồi nói:

– Ngươi là Tăng, là Đạo Sĩ hay là người thế tục?

– Con là Tăng Sĩ.

– Thế đã thọ Cụ Túc chưa?

– Bạch Pháp Sư, con đã thọ giới rồi.

– Ngươi đã tu hành với hình dạng này bao lâu rồi?

Ta liền lược thuật lại sự tu hành của mình trong những năm vừa qua. Pháp Sư lắc đầu nói:

Ai dạy ngươi tu như thế?

– Bạch Pháp Sư, con thấy người xưa ai nấy đều tu hành khổ hạnh mới đắc đạo, nên con cố học theo.

Pháp sư nói ngay:

– Ngươi chỉ biết người xưa tu thân. Vậy có biết người xưa tu tâm như thế nào không?

Nghe vậy ta vội giật mình như vừa bị ai dội gáo nước lạnh lên người, không biết phải nói gì. Pháp Sư nói tiếp:

– Hình thể tu hành của ngươi như thế này chẳng khác chi ngoại đạo, thật uổng công phu tu hành cả 10 năm ở rừng sâu núi thẳm, ăn đọt tùng, uống nước suối. Thọ mạng được trăm năm bất quá chỉ là một trong 12 thiên nhân như trong kinh Lăng Nghiêm đã nói thôi, cách đạo giải thoát rất xa. Có tiến lên thêm một bước nữa cũng chỉ giải thoát cho mình chứ chẳng cứu được ai. Nếu biết phát tâm Bồ-tát, trên cầu Phật đạo, dưới độ chúng sanh, tự độ cho mình, sau độ cho người, tu đạo xuất thế gian mà không rời thế gian pháp. Đó mới chính là con đường Đức Thế Tôn đã chỉ dạy. Nay ngươi miễn cưỡng không ăn cơm nấu chín, mặc quần áo rách rưới, chưa nói là làm bộ dạng khác thường, công phu quái dị, như vậy mà đòi giải thoát được sao?

Ta bị Lão Pháp Sư cảnh tỉnh cho như thế, toàn thân chấn động, đau nhói nhức xương, nên đảnh lễ xin Ngài chỉ dạy cho. Pháp Sư nói:

– Ta dạy ngươi, nếu ngươi nghe thì ở, nếu không thì nên đi ngay nơi khác.

– Bạch Pháp Sư, con đến đây chỉ mong được học hỏi với Ngài. Sao lại dám không nghe lời chỉ dạy?

Lão Pháp Sư liền cho ta quần áo, bảo đi cạo đầu tắm gội sạch sẽ rồi phân công ta làm việc trong chùa. Ngài dạy ta khán câu Thoại Đầu: “Ai là người mang thây chết này?“. Từ đó ta ở lại am Long Tuyền hầu cận Pháp Sư Dung Cảnh, học giáo quán của Tông Thiên Thai, tâm được khai mở nhiều. Pháp Sư tuổi ngoài 80, giới luật tinh nghiêm, Tông-Giáo đều thông. Học với Ngài được ít lâu thì ta được gởi đến chùa Quốc Thanh học thêm quy chế thiền môn, chùa Phương Quảng học kinh Pháp Hoa. Ta rất siêng năng tu học nên được Pháp Sư khen ngợi, nhiều lần bảo ta lên tòa giảng kinh cho những vị Khách Tăng đến am tham học.

Hạ sơn – Vân du

Năm ta được 36 tuổi Pháp Sư cho phép ta hạ sơn. Ta lưu luyến đàm thoại cùng ngài suốt mấy đêm rồi trân trọng từ biệt xuống núi. Ta đi ngang Tuyết Đậu, đến chùa Ngạc Lâm nghe giảng kinh A Di Đà rồi vượt biển đi núi Phồ Đà tham bái các am, tự viện trong vùng. Sau đó ta trở lại huyện Ninh Ba đến chùa A Dục Vương lạy xá-lợi Phật trong 2 năm để hồi hường công đức báo ân sanh thành dưỡng dục của cha mẹ. Năm sau ta đến chùa Thiên Đồng nghe giảng Tông Thông Kinh Thủ Lăng Nghiêm rồi đi Hàng Châu triều bái Tam Thiên Trúc cùng các thánh cảnh khác.

Trên đường từ Ninh Ba đến Hàng Châu thời tiết rất nóng nực. Vì thuyền nhỏ mà người đông nên thanh niên cùng phụ nữ đều nằm la liệt. Nửa đêm khi mọi người đang say giấc, ta cảm thấy như có ai đụng chạm vào thân mình. Tỉnh dậy ta thấy bên cạnh mình một cô gái trần truồng. Ta không dám nói gí vội ngồi dậy nghiêm trang kiết già, trì chú. Cô ấy cũng chẳng dám động đậy. Nếu lúc ấy ngu muội thí chắc chắn phạm giới rồi. Vì việc này ta có lời khuyên các vị tu hành rằng không thể thiếu cẩn trọng trong những trường hợp như trên.

— oOo —

Lời nói cuối

Trên đây mới chỉ là 23 năm tu hành của Sư Cổ Nham. Sư càng tu càng thấy Đại Tín Căn và Đại Phấn Chí tăng trưởng.

Năm được 43 tuổi, tự nghĩ đã xuất gia tu đạo hơn 20 năm mà đạo nghiệp chưa đi đến đâu. Lại nghĩ tới mẹ đã chết vì sanh ra mình, cha chết không được nhìn lần cuối, Sư muốn báo ân sanh thành dưỡng dục của cha mẹ, Sư đã quyết định làm một cuộc lễ lạy, đi ba bước lại lạy một lạy từ Phổ Đà Sơn, tỉnh Chiết Giang đến Ngũ Đài Sơn, tỉnh Sơn Tây cách xa 3.000 dặm. Với bối cảnh chiến tranh, loạn lạc thời xưa, đường sá gập ghềnh, núi đồi ngăn trở, thú dữ khắp nơi, khí hậu nghiệt ngã… một vị Tăng đơn độc, lặng lẽ, cứ bước 3 bước lại quỳ xuống thành tâm lạy 1 lạy suốt non 3.000 dặm gian nan trong 3 năm trường, quả thật là không ai theo nổi.

Sau đó Sư đã đi vân du khắp nơi, trong Trung Hoa lục địa, sang Tây Tạng, vào đất Ấn, đến Miến Điện, vượt biển vào Tích Lan, Nam Dương quần đảo, Hương Cảng… Sư đã sống qua bốn thời đại đầy biến động của Trung Quốc: Từ đời nhà Thanh – Đạo Quang thứ 20, thời Ngũ Hòa Đoàn phù Thanh diệt Dương, thời Trung Hoa Dân Quốc, rồi thời Đảng Cộng Sản thâu tóm quyền bính.

Năm Quang Tự thứ 26, Sư Cổ Nham lên núi Chung Nam kết rơm tu hành, tọa thiền miên mật, đổi tên là Hư Vân. Ngày 13 tháng 9 năm 1959 Hòa Thượng Hư Vân thị tịch trong tư thế kiết già, hưởng thọ 120 tuổi.

Hạnh nghiệp tu hành của Hòa Thượng Hư Vân có thể tóm lược như sau:

1) Hạnh Thanh Tịnh: Lúc thiếu thời, cha cưới hai cô vợ Điền Thị và Đàm Thị nhưng Người không nhiễm sắc dục với họ. Trên thuyền đi từ Ninh Ba đến Hàng Châu, bị nữ sắc cám dỗ, nhưng Người vẫn an nhiên tự tại.

2) Hạnh Khổ Hạnh: Tại hang sâu núi thẳm, Người lạy Vạn Phật Bảo Sám trong 3 năm liền; lại vân du hành cước từ núi này sang núi khác; đói thì ăn đọt tùng lá dại, khát thì uống nước suối.

3) Hạnh Hiếu Thảo: Người thực hành “tam bộ nhất bái” từ núi Phổ Đà (tỉnh Chiết Giang, Thượng Hải) đến núi Ngũ Đài (tỉnh Sơn Tây) trong 3 năm liền để báo đền ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ.

4) Hạnh Nhẫn Nhục: Tại Vân Môn, bị hơn 10 gã Công An lực lưỡng dùng gậy sắt đánh đập tàn nhẫn, chết đi sống lại bao nhiêu lần, Người vẫn chịu đựng kham nhẫn.

5) Hạnh Thiền Định: Một đêm đang ngồi thiền, tâm chợt bừng sáng, thấy rõ sự vật chung quanh ban đêm giống như ban ngày. Trong am thất tại núi Chung Nam, vào mùa đông, đang lúc nấu khoai, đột nhiên vào nhập thiền định gần một tháng; đến khi có nhiều vị Khách Tăng viếng thăm, họ đã đánh khánh làm Người xuất định. Tại thủ đô Thái Lan, lúc đang giảng kinh, chợt nhập định hơn một tuần lể, khiến Quốc Vương, quần thần và dân chúng xừ này đều đến lễ bái.

6) Hạnh Hỷ Xả: Người từ bỏ hết các chức vụ tại chùa núi Cổ Sơn mà vào rừng tu thiền định. Nơi chùa Vân Cư, khi đã trùng tu lại cho khang trang rồi, người vẫn thích ở am tranh nhỏ.

7) Hạnh Từ Bi: Khi Đảng Cộng Sản đã chiếm giữ toàn cõi Trung Hoa năm 1948., lúc ấy Người đang hoằng pháp tại Hương Cảng. Các đệ tử khuyên Người ở lại Hương Cảng để được yên ổn tu hành; Người đã từ chối, muốn trở về Trung Quốc để lo lắng, dạy dỗ và bảo vệ Tăng Ni.

Với hạnh nghiệp của một vị Thánh Tăng, Hòa Thượng Hư Vân đã được suy tôn làm Tổ của nhiều dòng tông phái sợ bị thất truyền. Trung Quốc, từ đời Minh đến thời cận đại, Hòa Thượng Diệu Liên tiếp thừa hai tông Lâm Tế và Tào Động tại núi Cổ Sơn. Hòa Thượng Diệu Liên truyền mạch pháp của hai tông này lại cho Thiền Sư Hư Vân, làm vị Tổ dòng Lâm Tế đời thứ 43 và tổ dòng Tào Động đời thứ 47.

Tông Pháp Nhãn đã bị thất truyền rất lâu. Do hòa Thượng Thanh Trì và Thiền Sư Minh Trạm ở núi Bát Bảo khẩn thỉnh, Thiền Sư Hư Vân tiếp nối mạch pháp của Thiền Sư Lương Khánh, tức làm Tổ Sư dòng Pháp Nhãn đời thứ 8.

Tông Vân Môn cũng bị thất truyền đã lâu. Từ Tổ khai sơn Văn Yển, truyền đến đời thứ 11 là Thiền Sư Kỷ Am Thâm Tịnh. Vì muốn trùng hưng mạch phái Vân Môn, Thiền Sư Hư Vân tiếp thừa tông phái làm Tổ thứ 12, sau Thiền Sư Kỷ Am Thâm Tịnh.

Do Hòa Thượng Bảo Sanh cùng chư sơn Trưởng Lão khẩn thỉnh, Thiền Sư Hư Vân làm vị Tổ thứ 8 của Tông Quy Ngưỡng, tính từ Tổ khai sơn Quy Sơn Linh Hựu.

Năm 1949, khi ấy Lão Hòa Thượng Hư Vân đã 109 tuổi, một vị Sư còn trẻ tuổi, tên là Độ Luân đến xin bái kiến Ngài. Vừa trông thấy vị Sư này, Lão Hòa Thượng liền nhận ra ngay sự chứng ngộ của vị Sư trẻ. Ngài liền nói: “Như thị, như thị!” (Chính đây là chân lý!). Vị Sư trẻ cũng đáp lại: “Như thị! Như thị!”. Hòa Thượng Hư Vân đã thấy ngay đây là một “pháp khí”, người có thể kế thừa mình. Hòa Thượng liền ấn chứng sở đắc của vị Sư trẻ, đặt cho pháp hiệu là Tuyên Hóa để chánh thức trở thành Tổ thứ 9 dòng Quy Ngưỡng Tông.

Hòa Thượng Tuyên Hóa đã sang Hoa Kỳ (vùng San Francisco) năm 1962 để hoằng dương Phật Pháp, lập ra Vạn Phật Thánh Thành. Ngài thị tịch tại đó. Dòng Quy Ngưỡng Tông tại Trung Hoa từ đó không còn kế thừa nữa.

Nguồn: ĐƯỜNG MÂY TRÊN ĐẤT HOA
Thích Hằng Đạt & Nguyên Phong.

________________________________________

(1) Tam thường bất túc có nghĩa là để có hạnh phúc, trong đời có 3 cái mà chúng ta phải sống làm sao để đừng có đủ: Khi giảm đi bớt thì cái đang có vẫn còn giá trị.

  1. Không nên ăn quá no. 
  2. Không nên ngủ quá nhiều.
  3. Không nên mặc quá dư thừa (tức là quá nhiều quần, áo, giầy dép).

ĐÀO VIÊN

Share.

Leave A Reply

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.