Đón năm Ngọ – Tìm ngựa trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt

0

Ngựa là con vật rất quen thuộc được sử dụng nhiều trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt Nam. Nhân dịp tết Nhâm Ngọ, hãy thử tìm lại một số câu thường được ví von, ám chỉ trong lối nói chuyện của người Việt:

  • Lên xe, xuống ngựa.
  • Cỡi ngựa xem hoa.
  • Hàm chó vó ngựa.
  • Mặt dài như ngựa.
  • Có mặt nào dài hơn mặt ngựa.
  • Ngựa về ngược.
  • Voi dày ngựa xé.
  • Tứ mã phân thây.
  • Làm thân trâu ngựa.
  • Kiếp trâu ngựa.
  • Thiên binh vạn mã.
  • Chiêu binh mãi mã.
  • Khuyển mã chí tình.
  • Ra sức khuyển mã.
  • Công lao hãn mã.
  • Ngựa chạy có bầy, chim bay có bạn.
  • Thiếu voi phải dùng ngựa.
  • Mã đáo thành công: Câu chúc may mắn, thành công.
  • Ngựa non háu đá: Chỉ những người trẻ tuổi thường có tính cách hung hăng, thiếu chín chắn.
  • Được đầu voi đòi đầu ngựa: Nói về người có lòng tham không đáy.
  • Ngựa quen đường cũ: Chứng nào tật ấy.
  • Ngưu tầm ngưu mã tầm mã: Chỉ việc những người giống nhau thường tập hợp lại với nhau, tìm đến nhau.
  • Đầu trâu mặt ngựa: Câu này dùng để chỉ những kẻ vô lại, kẻ đại bất lương.
  • Ngựa lồng cóc cũng lồng: Chỉ sự đua đòi bắt chước một cách lố bịch.
  • Thẳng như ruột ngựa: Chỉ về việc nói không úp mở, thẳng thắn.
  • Ngựa chứng là ngựa hay: nói những người có tài thường có những tật xấu.
  • Ngựa hay lắm tật: Ý tương tự câu trên.
  • Chạy như ngựa vía: ý nói chạy rất nhanh.
  • Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ: Nói về tình đoàn kết.
  • Ngựa xe như nước, áo quần như nêm: Câu này dùng để chỉ việc có nhiều người qua lại.
  • Da ngựa bọc thây: Câu này thời xưa dùng để nói về người lính đã ngã xuống trên chiến trường.
  • Đơn thương, độc mã: Chỉ người một mình chống lại khó khăn, không có sự trợ giúp của ai.
  • Một mình một ngựa: Chỉ sự đơn độc.
  • Một lời nói ra bốn ngựa khó tìm (Nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy): Câu này có nghĩa là một lời nói vô ý khi ra khỏi miệng rất khó có thể lấy lại được.
  • Tái ông mất ngựa: Nói về việc trong cái rủi có cái may, trong cái may lại ẩn tàng cái rủi…
  • Bóng ngựa qua cửa sổ: Bóng ngựa hay bóng câu (Bạch câu có nghĩa là con ngựa non sắc trắng) lướt qua khe cửa là chỉ sự trôi nhanh của thời gian.
  • Đường dài mới hay sức ngựa: Câu này ý nói, cùng với thời gian, hoặc là khi ở với nhau thường xuyên mới hiểu được sự kiên trì, sức chịu đựng hay phẩm chất v.v… một người nào đó.
  • Thay ngựa đổi chủ: Câu ngày dùng để chỉ một người rời bỏ một phe phái để đi theo một phe phái khác.
  • Thay ngựa giữa dòng: Chỉ vào các sự kiện đảo chính, truất phế một nhân vật thủ lảnh nào đó do sự đồng tình của kẻ mạnh bảo trợ.
  • Ngựa nào gác được hai yên: Chỉ việc người ta không thể đồng thời phụng sự hai sự nghiệp lớn. Câu này tương đương với “ Một gáo, hai chĩnh”.
  • Hồ Mã tê Bắc phong: Ngựa Hồ hí gió bấc.
  • Bạch Mã phi Mã (Chữ Hán: Ngựa trắng không phải là ngựa), một câu nói mang tính triết học của Công Tôn Long.

 QUANG MAI

 

Đọc thêm:

Ngựa trong ca dao – tục ngữ

Từ lâu, hình ảnh con ngựa đã là nguồn cảm hứng sáng tác của các nhà thơ, nhà văn, họa sĩ, nhạc sĩ, điêu khắc… Trong kho tàng văn học dân gian của Việt Nam và thế giới có rất nhiều câu nói hay nói về ngựa, nhưng thực ra là nói về con người và cuộc sống.

Tục ngữ Nga có câu: “Ngựa bốn vó vn cứ bị vấp ngã” để chỉ rằng ở đời không có sự việc nào, con người nào là hoàn chỉnh tuyệt đối. Hoặc một câu tục ngữ của Nhật Bản: “Biết ngựa qua bước đi, biết người qua giao thiệp”. Tương tự như vậy ở Việt Nam có câu ca dao:

Ngựa hay chẳng qun đường dài
Nước kiệu mới biết tài trai anh hùng”.

Qua các kiểu đi của ngựa: “nước kiệu” (đi chậm), “nước trung” (đi vừa), “nước đại” (phi nhanh)… nó sẽ bộc lộ những mặt mạnh hay yếu của con ngựa. Người ta cũng vậy, qua giao thiệp những mặt ưu và khuyết sẽ hiện ra rõ hơn. Dân ca quan họ Bắc Ninh có câu: “Bây giờ kẻ Bắc người Nam/Ngựa Hồ chim Việt biết làm sao đây”, là một lời than thân trách phận trong sự xa cách, ở đây người bình dân đã mượn điển tích “ngựa Hồ chim Việt” của Trung Quốc để biểu đạt sự nhớ nhau. Khi người con gái có chồng rồi, đã yên bề gia thất được ví như “ngựa có cương”, các chàng trai đừng dòm ngó nữa:

Em có chồng rồi như ngựa có cương
Ngựa em em đứng, đường trường anh đi”.

Và khi người con trai phụ tình, người con gái vẫn dõng dạc tuyên bố, không chịu lép vế:

Sông sâu ngựa lội ngập kiều (kiều là cầu)
Dẫu anh có phụ còn nhiều người thương”.

Nhưng khi tình yêu đôi lứa không cân xứng, “đứa con gái khôn lấy thằng chồng dại” thì người bình dân lại so sánh:

“Tiếc thay con ngựa cao bành
Để cho chú ấy tập tành sao nên?”.

Đây là lời trách của cô gái đối với chàng trai, khi chàng cứ “kén cá chọn canh” để cuối cùng gặp phải người chẳng ra gì:

Ngựa ô chẳng cưỡi, cưỡi bò
Đường ngang không chạy, chạy dò đường quanh”.

Khi tình yêu chung thủy thì dù:

“Đường dài ngựa chạy biệt tăm
Người thương có nghĩa trăm năm cũng chờ”.

Rồi họ ao ước có một ngôi nhà năm gian, chan hòa ánh sáng:

Năm con ngựa bạch sang sông
Năm gian nhà ngói, đèn trong đèn ngoài”.

Để rồi một ngày kia đẹp trời, anh sẽ đón nàng lên “xe hoa” bằng ngựa quý:

“Ngựa ô anh thắng kiệu vàng
Anh tra khớp bạc đưa nàng về dinh”.

Trong chiến đấu, ngựa góp phần lập nên nhiều chiến tích oai hùng. Ta đã từng nghe nói về con ngựa “xích thố” (lông đỏ) của Quan Công, “ngựa truy” của Hạng Vũ, “ngựa sắt” của Thánh Gióng, “ngựa ô” của Ô-đi-xê ở thành Troa, “long mã” của Đường Tam Tạng… Khi quan quân của Lê Lợi đóng trại ở Bồ Đề, mọi người đã thi nhau cắt cỏ về cho ngựa để tỏ lòng yêu mến Đức Ông:

“Nhong nhong ngựa ông đã về
Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn”.

Và chẳng may khi người tướng chết, ngựa cũng buồn rầu và có khi chết theo. Người ta cũng đã từng mổ ngựa để lấy “da bọc thây” các chiến tướng. Trong “Chinh phụ ngâm”, Đặng Trần Côn đã viết:

“Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao”.

Những con ngựa hay, ngựa quý cũng rất kén chủ. Nếu người không đủ tài trí điều khiển, thì nó bất phục, người ta thường bảo “ngựa hay lắm tật” (còn gọi là ngựa chứng). Để chỉ sự nguy hiểm, tục ngữ dạy ta: “Hàm chó vó ngựa”. Ngựa cũng rất có tình với chủ, với bầy: “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, hoặc “ngựa chạy có bầy, chim bay có bạn”. Để phê phán những hiện tượng xấu, trong dân gian có các thành ngữ như “ngựa non háu đá”, “như ngựa bất kham”, “ngựa quen đường cũ”… chỉ sự ghen đua lố bịch thì có “ngựa lồng, cóc cũng lồng”,… ám chỉ kẻ xấu thì dùng “đầu trâu mặt ngựa”, chỉ sự may rủi (họa – phúc) có câu “ngựa Tái Ông” (Tái Ông thất mã), sự thẳng thắn thái quá được ví “thẳng như ruột ngựa”, sự thăng tiến hay hạ bệ có câu “lên voi xuống ngựa”. Công việc chóng vánh, sớm hoàn thành thì có câu “nhanh như ngựa”. Phải bất đắc dĩ dùng một vật nào đấy không tương xứng với việc lớn thì có câu: “thiếu voi phải dùng ngựa”, chỉ sự thay đổi trắng đen của lòng người khó dò, ta thường nói “ngựa hươu thay đổi”. Nhà thơ Cao Bá Nhạ có câu:

Ngựa hươu thay đi như chơi
Giấu gươm đầu lưỡi, thọc dùi trong tay”.

Khi người ta khuyên nhau không nên vội vàng trong công việc, thì hãy nghĩ đến câu “ngựa le te cũng đến bến Giang/Voi đủng đỉnh cũng sang qua đò”. Và dù ngựa có bay đến đâu cũng không thể gác được hai yên. Câu tục ngữ “ngựa nào gác được hai yên” luôn nhắc nhở ta không nên ép người khác làm việc quá giới hạn.

Theo Đại Đoàn Kết

Share.

Leave A Reply

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.