
Ngày 23 tháng 5 âm lịch hằng năm, các lễ “Tế Âm Hồn”, “Cúng Âm Hồn” – còn gọi là Lễ Truy Niệm Chiến Sĩ Trận Vong & Đồng Bào Nạn Vong Năm Ất Dậu – được dân chúng Huế (và Thừa Thiên) tổ chức khắp nơi trong Cố đô và ngoại thành với nhiều hình thức: Từ tập thể làng xã, xóm ấp tổ chức lễ tế Âm hồn tại đình, miếu, chùa làng hay dựng rạp ở một địa điểm công cộng thuận tiện, hoặc tại một ngã ba, ngã tư…; tập thể tiểu thương cúng Âm hồn tại các chợ họ buôn bán hằng ngày; các chùa chiền cúng ở sân chùa hay một sân đình, sân miếu…; cho đến tư gia đồng bào cúng tại nhà (thường là cúng ngay ngoài vệ đường hay gần cổng trong sân nhà). Tuy nhiên đại đa số đồng bào đều tham gia vào các lễ tế, lễ cúng “hội” của cộng đồng trước hoặc sau khi cúng tại nhà mình, trong đó quy củ nhất là “Đàn tế Âm hồn” tại miếu Âm Hồn, tọa lạc tại góc ngã tư Mai Thúc Loan – Lê Thánh Tôn trong khu vực Thành Nội Huế. Địa chỉ hiện nay là số 73, đường Ông Ích Khiêm, phường Thuận Hòa, thành phố Huế.
“Miếu Âm Hồn” được xây dựng từ năm 1894 dưới triều vua Thành Thái trên nền “Đàn Âm Hồn”, có diện tích 1.500m2, gần cửa Quảng Đức (nay đã không còn dấu tích), nơi mà Phụ chính Đại thần Tôn Thất Thuyết từng chỉ huy quân triều đình đánh đồn Mang Cá. Đàn Âm Hồn được xây nên để tế lễ vong hồn các quân binh và dân chúng tử nạn trong sự biến “Thất thủ Kinh đô”. Trước đây vào ngày 23 tháng 5 âm lịch hằng năm triều đình nhà Nguyễn đều cử hành trọng thể lễ tế tại đây.


Khắp nơi trong thành phố vào các ngày (23, 24.5.ÂL) này mùi trầm hương ngào ngạt, khói trầm hương quyện tỏa không gian, đi qua khu vực nào cũng thấy các rạp, các bàn cúng Âm hồn. Người dân xứ Huế gọi ngày này hằng năm là “Ngày Âm Hồn”, nhằm tưởng nhớ sự kiện “Kinh đô thất thủ” ngày 23 tháng 5 âm lịch năm 1885 – một biến cố lịch sử bi ai trong trận chiến không cân sức giữa quân triều đình Huế với quân Pháp đang trú đóng trong kinh thành. Trận chiến thất bại, hàng ngàn binh sĩ triều Nguyễn và dân chúng kinh thành phải hy sinh. Người Huế cúng Âm hồn để tưởng niệm, bày tỏ lòng thành kính với oai linh những người đã khuất, đã ngã xuống oan nghiệt; để tri ân tinh thần bất khuất của cha ông tiền bối; và thể hiện tinh thần yêu nước thương nòi, không quên lịch sử những tháng năm dân tộc kháng chiến chống ngoại xâm.


Trận đánh không cân sức và sự biến thất thủ kinh thành
Ngược dòng lịch sử nước nhà, theo sách Đại Nam Thực Lục của Quốc Sử Quán triều Nguyễn, vào năm 1883, lợi dụng triều đình nhà Nguyễn rối ren khi vua Tự Đức băng hà, Pháp đưa quân đánh vào cửa biển Thuận An, chiếm lấy Trấn Hải thành. Triều đình Huế lo ngại trước tình thế nguy cấp, liền cử Thượng thư Bộ Lại là Nguyễn Trọng Hợp ra Thuận An điều đình với Pháp.
Giữa bối cảnh bất ổn đó, triều đình Huế lại đang chia thành hai phe: Phe chủ chiến do hai quan Phụ chính Đại thần Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường cầm đầu quyết kháng chiến với Pháp. Phe chủ hòa (còn được sử sách gọi là phe “chủ hàng”) gồm Trần Tiễn Thành, Nguyễn Hữu Độ, Gia Hưng quận vương v.v… ngược lại muốn đàm phán ôn hòa, tránh xung đột.
Ngày 25-8-1883, tại kinh đô Huế, triều đình và Pháp ký hòa ước Quý Mùi (còn gọi là Hòa ước Harmand) gồm 27 điều khoản, với nội dung xác lập quyền “bảo hộ” lâu dài của Pháp trên toàn bộ lãnh thổ nước ta. Quân Pháp còn ép triều đình Huế nhường cho Pháp quyền kiểm soát Trấn Bình đài – là pháo đài thứ 25 trong hệ thống phòng ngự kinh thành Huế.
Ngày 7 tháng 4 năm Giáp Thân (1-5-1884) khi vua Kiến Phúc băng hà, Phụ chánh Đại thần Tôn Thất Thuyết chuyên quyền phò Nguyễn Phúc Ưng Lịch lên ngôi vua, hiệu là Hàm Nghi. Vin vào việc đặt vua Hàm Nghi lên ngôi “không xin phép nước Pháp”, Tổng sứ Trung-Bắc Kỳ Rheinart sai đại tá Guerrier đem 600 quân cùng một pháo đội từ Bắc vào Huế để thị uy, đánh chiếm đồn Mang Cá. Sau đó Rheinart và Guerrier qua làm “lễ phong vương”(!) cho vua Hàm Nghi rồi mới rút quân về Hà Nội. Lúc này phái chủ chiến vì tương quan lực lượng yếu hơn, nên phải chấp nhận.
Ngày 6-6-1884 – tức gần một năm sau Hòa ước Harmand, quân Pháp và triều đình Huế lại ký thêm Hòa ước Paternotre với 19 điều khoản, tiếp tục củng cố sự kiểm soát của Pháp. Lấy lý do “bảo hộ” nước Đại Nam, Pháp sẽ đồn trú bất cứ nơi đâu họ muốn để “giữ gìn lãnh thổ”, điều này khiến họ ngang nhiên đóng quân tại các vị trí chiến lược, trong đó có Trấn Bình đài và đồn Mang Cá trong kinh thành Huế. Pháp còn yêu sách là viên Khâm sứ (với cả các tùy tùng) được yết kiến vua bất cứ lúc nào, khi vào sẽ đi qua Ngọ môn (cửa giữa, chánh môn) chứ không đi hai cửa bên, và vua Hàm Nghi phải đích thân xuống ngai vàng ra tiếp đón. Những yêu sách này khiến phái chủ chiến trong triều đình Huế vô cùng phẩn hận. Lúc bấy giờ (cuối năm 1884) xứ Bắc Kỳ có thể coi là đã bị lọt hết vào tay của quân đội viễn chinh Pháp.
Với tinh thần chủ chiến, lợi dụng sơ hở của hòa ước Harmand không có điều khoản nào đề cập đến vấn đề quân sự của triều đình nhà Nguyễn, Tôn Thất Thuyết nuôi kế hoạch chuẩn bị một cuộc chinh chiến lâu dài với quân Pháp. Ông âm thầm chuẩn bị cho một cuộc tổng tấn công. Một mặt bí mật tuyển mộ binh lính, lập các sơn phòng, xây dựng và củng cố một chiến khu quân sự tại Tân Sở (vùng Cam Lộ, Quảng Trị), vận chuyển khí giới, lương thực tại các kho ra hậu cứ Tân Sở, chôn giấu ở đây đến một nửa ngân khố của triều đình gồm 300.000 lạng vàng, dự bị khả năng chiến đấu dài lâu….; mặt khác, ông điều động binh lính từ các nơi khác về kinh thành, tổ chức và huấn luyện hai đội quân “Phấn Nghĩa” và “Đoàn Kết” do Trần Xuân Soạn chỉ huy; cho binh lính gấp rút đào hào đắp lũy trong thành Huế… Triều đình Huế cùng với việc gởi công hàm cho Pháp yêu cầu rút quân ra khỏi đồn Mang Cá, phản đối việc quan lại bị bắt ở Bắc Kỳ, phản đối việc khám xét tàu thuyền, và đòi trả lại tiền thuế khai thác mỏ và buôn thuốc phiện…; đã cho đặt 300 khẩu thần công trên mặt phòng thành kinh đô (Thượng thành) và ở đài Nam, nhiều khẩu hướng về phía tòa Khâm sứ Pháp bên bờ Nam sông Hương và Trấn Bình đài (đồn Mang Cá) mặc dù Pháp luôn đòi hỏi triều đình hạ súng thần công trên mặt tường thành xuống. Kinh thành Huế bắt đầu được bố phòng và canh gác nghiêm ngặt hơn trước.
Từ chối lời mời của tướng De Courcy (mới được bổ làm Toàn quyền Chính trị – Quân sự tại Bắc-Trung Kỳ) yêu cầu hai ông Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường cùng với phái bộ triều đình qua tòa Khâm sứ hội đàm (về việc súng thần công trên thành và cửa vào yết kiến vua đã nói trên). De Courcy dự tính nhân dịp này sẽ bắt Tôn Thất Thuyết ngay giữa cuộc hội đàm, nhưng ông đoán biết mưu kế này nên cáo bệnh, để hai ông Nguyễn Văn Tường và Phạm Thận Duật qua gặp De Courcy. Khuya 22 rạng sáng ngày 23 tháng 5 âm lịch (tức đêm mùng 4 rạng ngày 5-7-1885), Tôn Thất Thuyết chia quân làm hai hướng bất ngờ phát lệnh tấn công vào đồn Mang Cá và tòa Khâm sứ của quân Pháp.
Lực lượng quân tấn công của triều đình được chia thành hai đạo: Đạo thứ nhất, do Tôn Thất Thuyết trực tiếp chỉ huy, tập kích đồn Mang Cá nhỏ. Đạo thứ hai do Tôn Thất Lệ chỉ huy, vượt sông Hương đánh úp vào tòa Khâm sứ.
Tuy nhiên, quân triều đình do thiếu thông tin liên lạc; vũ khí lại thô sơ, chủ yếu là gươm đao, giáo mác dùng để đánh cận chiến, súng hỏa mai…, đạn đại bác (súng thần công) hỏa lực không đủ mạnh, chỉ làm cháy vài trại lính quanh tòa Khâm, số còn lại rơi xuống sông Hương cả nên không thể áp đảo được hỏa lực rất mạnh mẽ của quân Pháp.
Sau những phút ban đầu hoảng loạn, quân Pháp đánh trả cầm chừng chờ trời sáng rồi bắt đầu phản công quyết liệt với sự hỗ trợ của pháo hạm Javelin. Họ chia thành ba cánh quân tấn công vào kinh thành. Thủy – Lục quân Pháp từ tiểu trấn Bình Đài đánh thẳng lên khu Tam Tòa, Lục Bộ, tiến vào cửa Hiển Nhơn, Thượng Tứ, Đông Ba… Quân binh Pháp từ tòa Khâm vượt sông sang đốt chợ Đông Ba, vào cửa Thượng Tứ, nổ súng bừa bãi vào dân lành đang chạy loạn. Gặp sự kháng cự của quân triều đình, quân Pháp quay sang đánh chiếm cột cờ Ngọ Môn. Đạn đại bác từ pháo hạm thủy quân Pháp bắn vào kinh thành, cung điện và hoàng thành nhiều nơi bị phá hủy, bị cháy sập, quân Pháp xâm nhập và chiếm giữ Đại Nội. Kinh thành Huế nhanh chóng thất thủ rơi vào tay Pháp!
Trước tình thế nguy ngập, thất bại của trận đánh không cân sức, quan Phụ chánh Đại thần Nguyễn Văn Tường lập tức đưa vua Hàm Nghi và hoàng tộc triều Nguyễn qua cửa Hữu rời khỏi kinh thành Huế, rút ra hướng Quảng Trị. Lúc này quân lính Pháp đã lên được kỳ đài Ngọ Môn, hạ cờ Triều đình xuống và treo “cờ tam tài” của Pháp; quan lại triều Nguyễn và dân chúng trong thành tranh nhau tìm cửa chạy ra, chen chúc giẫm đạp, giầy xéo lên nhau, người chết và người bị thương rất nhiều. Quân binh Pháp nổi lửa đốt Bộ Lại, Bộ Binh và khí giới, thuốc đạn các dinh trại; chiếm giữ các cửa thành trong, ngoài và các sở, kho, viện, điện.
Hàng ngàn đồng bào và quân sĩ triều đình thiệt mạng, ước tính có từ 1.200 đến 1.500 người chết trong trận đánh và cuộc cướp phá của lính Pháp. Quân Pháp chỉ mất 16 người, bị thương 80 người. Mọi thứ vũ khí, quân trang quân dụng, lương thực, tài sản, quốc khố triều đình đều bị quân Pháp nắm giữ. Theo một số ghi chép, họ đã chiếm đoạt ước chừng 24 triệu quan tiền, 2,6 tấn vàng, 30 tấn bạc, 228 viên kim cương, 266 món nữ trang nạm ngọc trai, và 271 món đồ bằng vàng trong cung Hoàng thái hậu cùng nhiều báu vật của triều đình nhà Nguyễn. Những ngày tiếp sau đó, họ đắp sửa các trại lính làm nơi trú đóng lâu dài; thu nhặt, chôn và hỏa táng các xác chết của trận đánh.

Trận đánh này được coi là “cuộc chiến cuối cùng của triều nhà Nguyễn”. Triều đình tuy không chịu đầu hàng, vẫn hy vọng khôi phục được quyền hành khi tái chiếm kinh thành phục quốc; nhưng ngoài chuyện quân triều đình dù ở thế chủ động tấn công nhưng vũ khí thiếu thốn, hiệu năng khí giới thua rất xa quân Pháp; lại thêm quá hấp tấp, vội vàng, chưa chuẩn bị kỹ lưỡng thế trận và kế hoạch trận đánh bị bại lộ nên địch quân có thì giờ đề phòng và nhanh chóng phản công; thì việc triều chính lủng củng, tranh chấp nội bộ giữa hai phái chủ chiến – chủ hòa; sự lạm quyền, thiếu đoàn kết, nhu nhược, phản bội ngay trong triều chính v.v… đã dẫn tới cái kết cuộc bại trận đẩm máu được ghi vào trong một trang Việt sử, tuy rằng trận chiến đã tỏ rõ được tinh thần yêu nước, anh dũng chiến đấu để oai hùng bảo vệ chủ quyền, độc lập của quân dân nước Việt.
Theo cuốn “Người Pháp và Người Annam là bạn hay thù?” của Philippe Devillers, thì lúc 11 giờ ngày 5-7-1885, viên chỉ huy đội quân viễn chinh Pháp tại Việt Nam – tướng Roussel de Courcy đánh điện cho chính phủ Pháp: “Ngôi thành đã ở trong tay chúng tôi cùng 1.100 khẩu đại bác. Quân đội chúng ta tuyệt vời. Thương vong không đáng kể”; và một bức điện văn khác ngày 24-7-1885 (về chiến lợi phẩm cướp được), nội dung: “Trị giá phỏng chừng các quý vật bằng vàng hay bạc dấu trong các hầm là 9 triệu quan. Đã khám phá nhiều ấn tín và kim sách đáng giá bạc triệu. Rất khó khăn việc tập trung các kho tàng mỹ thuật. Cần cử qua đây một chiếc tàu với nhiều nhân viên thành thạo để đem về mọi thứ cùng với kho tàng”. Còn về tổn thất nhân mạng phía người Việt, tướng Prudhomme báo cáo: “Thi thể của 1.500 người Annam cho thấy thương vong ít nhất phải gấp đôi, vì theo tập quán, họ đã mang đi rất nhiều và mang tất cả những người bị thương đi vì sợ chúng ta sẽ đối xử tàn nhẫn”.
oOo
Khởi xướng cuộc kháng chiến Cần Vương
Nói về xa giá và đoàn tùy tùng của Tôn Thất Thuyết – Nguyễn Văn Tường đưa vua Hàm Nghi và hoàng tộc rời khỏi kinh thành Huế rút về Quảng Trị, khi đến Kim Long, Nguyễn Văn Tường đã tuân chỉ Hoàng thái hậu Từ Dụ (Từ Dũ), theo lối tắt vào nhà thờ đạo ở Kim Long để mong sau này giảng hòa với Pháp. Lúc bấy giờ tùy giá chỉ có xe loan và lẻ tẻ những lính biền binh hộ giá chừng 100 người, còn lính các dinh vệ, sau khi thua trận đã tìm đường về quê. Ông Tôn Thất Thuyết rút ra sau, gặp lại vua Hàm Nghi, đưa nhà vua đi đến nghỉ ở Trường Thi rồi lên đường ngay ra Quảng Trị, khởi xướng một phong trào chống Pháp, Ông Nguyễn Văn Tường được lệnh ở lại thu xếp mọi việc.
Khi ra được đến Tân Sở (Quảng Trị), ngày 13-7-1885 vua Hàm Nghi ban “hịch Cần Vương”, kêu gọi văn thân, sĩ phu và đồng bào yêu nước đứng lên kháng chiến cứu quốc. Ngày 29-9-1885, tại sơn phòng Ấu Sơn (Hương Khê, Hà Tĩnh), vua Hàm Nghi một lần nữa ban chiếu Cần Vương, khới xướng công cuộc kháng chiến của dân tộc với các Thân hào – Nhân sĩ và Nghĩa binh phong trào Cần Vương, Văn Thân. Cũng từ đó dân Việt bắt đầu phải chịu một cuộc đô hộ Pháp thuộc kéo dài dưới chế độ thực dân!…
Sau biến cố này, mọi việc trong triều đều do Khâm sứ Pháp điều khiển. Chính phủ “bảo hộ” và phe chủ hòa của triều đình nhiều lần cho Nguyễn Văn Tường chiêu dụ vua Hàm Nghi trở lại Huế, nhưng vua từ chối (lúc này Nguyễn Văn Tường đang sử dụng kế sách ngoại giao khéo léo với Pháp để Tôn Thất Thuyết bí mật tổ chức kháng chiến). Hai tháng sau đó vì không thực hiện được yêu cầu của Pháp chiêu hàng vua Hàm Nghi, Nguyễn Văn Tường bị Pháp cách chức đày đi Haiti. Ngày 14-9-1885 Pháp cùng triều đình Huế lập vua Đồng Khánh lên ngôi. Ngày 26-9-1888, vua Hàm Nghi bị Pháp cho người bắt tại căn cứ của phong trào Cần Vương, sau đó bị đày qua Algérie.
oOo
Các nghĩa trang tập thể và truyền thống Lễ tế Âm hồn
Từ thuở xa xưa, khu vực quanh đàn Nam Giao là nơi an táng những người chết vô gia đình không nơi nương tựa, không người hương khói nên cư dân Huế gọi vùng đất này là khu Cô mộ “Ba Đồn” – có sách ghi Ba Bồn hay Ba Bổn, đều được hiểu với nghĩa như nhau – tức là ‘3 trại’ hay ‘3 đồn’, theo nghĩa dân gian được hiểu rộng ra là ‘3 nghĩa địa tập thể’.
Ban đầu, có 3 khu phần mộ tập thể – tức là “bổn” số 1, số 2, và số 3 – nên hình thành tên gọi “Ba Bổn” này, khởi nguyên từ việc di táng các ngôi mộ vô thừa nhận hoặc “vô tự” (tuyệt tự và không còn người hương khói) bị bỏ hoang, khi mở rộng kinh thành vào đầu triều vua Gia Long, và sau đó là khi xây dựng đàn Nam Giao và lăng Gia Long. Tấm bia của bổn thứ nhất ghi lại rằng nơi đây có 3.683 ngôi mộ. Bổn thứ hai có 3.700 ngôi, và bổn thứ ba có 2.250 ngôi mộ.
Sau biến cố thất thủ kinh thành 5-7-1885, số lượng mộ tập thể tăng lên rất nhiều. Thêm 7 khu mộ mới được hình thành, trong đó có 3 khu dành để chôn cất các nạn nhân của trận chiến nạn này gồm: bổn số 4 – an táng binh sĩ trận vong; bổn số 5 – an táng sĩ quan trận vong; bổn số 6 – an táng đồng bào tử nạn trong kinh thành. Cả 3 khu đều không thể rõ số lượng cụ thể, nhưng có thể biết có đến con số hàng ngàn quân binh và thường dân ngã xuống trong sự biến thất thủ kinh thành được chôn cất tại các khu mộ tập thể ở đây, bên cạnh những ngôi cô mộ từ các thời kỳ trước đó. Tưởng cũng nên biết thêm, bên cạnh ba “bổn” đặc biệt an táng binh sĩ và đồng bào chết “trận Kinh thành”, các khu mộ khác là: bổn số 7 – chôn cất đồng bào chết vì thảm họa nạn đói năm Đinh Dậu (1897); bổn số 9 – chôn cất trẻ em chết trong nạn đói cùng năm ấy (1897) và trẻ nhỏ bị bỏ rơi vô thừa nhận; bổn số 10 – các mộ vô chủ di táng khi kiến lập lăng Tự Đức và lăng các vua khác.
Như đã nói trên cũng như theo báo cáo của viên tướng viễn chinh Pháp Prudhomme đã dẫn, trong trận thất thủ kinh thành, quân binh triều Nguyễn ước tính có đến khoảng từ 1.200 đến 1.500 người đã ngã xuống, có tài liệu nói số tử thi thu thập được lúc bấy giờ lên tới 1.800 thi thể. Tại nơi xảy ra trận chiến, toàn bộ thi thể binh sĩ triều đình tử trận, một phần bị quân Pháp vứt xuống sông, một số khác đem ra thiêu đốt, khiến cả kinh thành hàng tháng trời sống trong mùi uế khí. Tương truyền trong khoảng thời gian sau đó, cư dân gần khu vực này luôn sống trong trạng thái bất an, liên tục xảy ra hỏa hoạn…, ngoài dân chúng bắt đầu lan truyền tin đồn rằng những oan hồn nạn vong trong chiến trận do không được thờ cúng đã gây nên các vụ hỏa hoạn. Năm 1894, triều đình Huế đã kiến lập đàn thờ các binh sĩ và đồng bào tử nạn – gọi là Đàn Âm Hồn, như đã nói ở phần trên.
Tuy nhiên, thảm họa không chỉ dừng ở đó. Sau trận chiến, thi thể các nạn nhân thiệt mạng không được thu dọn và chôn cất kịp thời đã dẫn đến một trận bùng phát dịch tả, cướp đi sinh mạng của 700 binh sĩ Pháp; còn phía quân và dân Việt, trận dịch và những cuộc trả thù chính trị, quân sự sau đó đã cướp đi thêm mấy mươi ngàn sinh linh oan uổng nữa.
Kể từ ngày thất thủ kinh đô năm ấy, ngày 23 tháng 5 âm lịch hằng năm sau này đã dần biến thành một ngày “giỗ” lớn, ngày Đại kỵ, Hiệp kỵ tưởng niệm thường niên tại Huế. Cả thành phố và các vùng ngoại ô lân cận đồng loạt cúng, tế cho tất cả chiến sĩ trận vong và đồng bào nạn vong: sĩ – nông – công – thương – binh đã thiệt mạng bởi nhiều nguyên nhân, hoặc trúng đạn Pháp hay té ngã xuống thành khi tìm cách trèo ra khỏi thành; hoặc chen lấn, dày đạp nhau mà chết; hoặc sẩy chân rơi xuống các hồ ao dày dặc trong thành, nhiều nhất là hồ Tịnh Tâm, nhiều người trong số họ không có gia đình thân nhân được nhận diện và chôn cất tử tế.


Trước đây, chính lễ cúng Âm hồn thường cử hành từ lúc 2 giờ sáng đến 4 giờ hoặc chiều tối ngày 23 tháng 5 âm lịch, tùy theo tục lệ từng địa phương. Tuy nhiên đối với các tư gia thì giờ giấc có thể thay đổi theo từng gia đình và thời gian tổ chức là một trong các ngày từ 23 cho đến 30 tháng 5 âm lịch. Lễ phẩm cúng có thể là “cúng chay”, chỉ với trầm, trà, hoa quả, bánh trái, cau trầu, rượu, xôi, chè, cháo, áo, gạo, muối, hột nổ, giấy tiền, vàng bạc, áo binh…; cũng có thể “cúng mặn” với các thức thông lệ trên nhưng có mâm cơm và các món ăn truyền thống Huế, các thứ thịt, cá, tôm, cua… tùy theo quan điểm hay gia cảnh. Một điểm nhân văn thú vị trong lễ cúng Âm hồn này là từ các tập thể cho đến gia đình, thường có một thùng nhỏ hay một bình nước lớn và đốt một đống lửa cạnh bàn cúng, với sự tin tưởng thành tâm của mọi người rằng các Âm hồn sẽ đến uống nước và sưởi ấm vì nhiều người đã chết đói khát, lạnh lẽo dưới ao, hồ, sông, suối trong biến cố rạng sáng ngày 23 tháng 5.


Phong tục cúng, tế Âm hồn và tưởng niệm ngày thất thủ kinh đô không chỉ mang đậm nét đẹp văn hóa tâm linh nhân bản, nhân văn của người dân xứ Thần kinh; tập quán này còn phản ánh lòng tôn kính lịch sử bao đời và tinh thần gắn bó với cộng đồng của đồng bào đất Cố đô./.
QUANG MAI
Sưu tầm – hợp soạn.
