Hệ thống trường Trung – Tiểu học tư thục Bồ Đề trước 1975

TVGĐPT – Trước thời điểm ngày 30 tháng 4 năm 1975 – dưới thời Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, ngoài hệ thống các “Phật học viện” đào tạo tu sĩ Phật giáo gồm các Học tăng, Học ni và hệ thống “Đại học Phật giáo” (điển hình là Viện Đại Học Vạn Hạnh tại thủ đô Sài Gòn) đào tạo cả sinh viên phổ thông các Khoa theo chương trình Bộ Quốc Gia Giáo Dục lẫn các tu sĩ Phật Giáo theo học các khoa này; Phật giáo Việt Nam còn có một hệ thống giáo dục ‘tư thục’ bậc Trung và Tiểu học là các trường “Bồ Đề” và bậc Mẫu giáo là các trường “Kiều Đàm” do Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất quản trị và điều hành.

Tuy nhiên đễ dễ dàng hình dung những hoạt động đặc thù này của Phật giáo Việt Nam mà giờ đây “đã trở thành quá khứ”, trước hết chúng ta thử lướt qua một số quy chế, quy định về hệ thống giáo dục (trong bài này chỉ xin đề cập đến bậc Tiểu và Trung học), cũng như điểm lại tên tuổi một số trường tư thục danh giá tại Nam Việt Nam thời bấy giờ…

oOo

QUY CHẾ CÁC BẬC TIỂU & TRUNG HỌC TRƯỚC NĂM 1975

– Bậc Tiểu Học:  Gồm 5 lớp. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa: Các lớp từ Năm (lớp thấp nhất), đến Tư, Ba, Nhì, Nhất. Thời Đệ Nhị Cộng Hòa: Các lớp từ 1, 2, 3, 4, 5. Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa quy định giáo dục Tiểu học là giáo dục bắt buộc (phổ cập). Luật quy định trẻ em phải đi học tối thiểu 3 năm thấp nhất của bậc Tiểu học. Mọi trẻ em từ 6 tuổi đều được nhận vào lớp Năm (sau năm 1970 gọi là lớp Một) để bắt đầu bậc Tiểu học. Phụ huynh tùy ý lựa chọn cho con em mình vào học miễn phí cho đến hết bậc Tiểu học trong một trường Tiểu học công lập, hoặc phải trả học phí nếu chọn trường Tiểu học tư thục. Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và bất kỳ khoản lệ phí nào khác.

– Bậc Trung Học: Bao gồm 2 cấp: Trung học đệ nhất cấp, từ lớp đệ Thất đến đệ Lục, đệ Ngũ và đệ Tứ (sau năm 1970 là từ lớp 6 đến lớp 9) và Trung học đệ nhị cấp, từ lớp đệ Tam đến đệ Nhị và đệ Nhất (sau năm 1970 là lớp 10, 11, 12).

+ Trung học đệ nhất cấp: Từ bậc Tiểu học, học sinh phải thi vào Trung học đệ nhất cấp (gọi là thi đệ Thất) trong cuộc thi hằng năm để vào học các trường Trung học công lập. Những học sinh không trúng tuyển (không “thi đậu”) vào được trường công lập thì sẽ ghi danh nhập học các trường tư thục.

Theo “Quy chế trường tư thục” (ban hành theo Dụ số 57/4 ngày 23-10-1956), việc thành lập một trường tư thục Tiểu, Trung hay Đại học do Bộ trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục hay chỉ cần Giám đốc Nha Học Chánh địa phương được Bộ Quốc Gia Giáo Dục ủy quyền cấp phép. Học sinh thì chỉ cần có học bạ chứng minh đã học xong lớp nào, và đóng học phí là có thể xin vào học ở một trường tư thục. Học sinh cũng có thể chuyển trường theo ý muốn của phụ huynh sau một thời gian nào đó vì bất cứ lý do gì, miễn là phải có học bạ của trường cũ chứng minh học lực. Ngoài ra một học sinh giỏi ở trường tư thục cũng có thể xin trở thành học sinh trường công lập.

Kể từ bậc Trung học (lớp đệ Thất – lớp 6), ngoài các môn học kiến thức căn bản như Đại số (Toán), Vật lý, Hóa học, Việt văn (Kim văn và Cổ văn) v.v…,  học sinh bắt đầu phải học một trong hai Sinh ngữ (nay gọi là Ngoại ngữ) Anh hay Pháp văn, và các môn Nhạc, Vẽ… Môn Giáo dục Công dân học từ bậc Tiểu học vẫn tiếp tục ở bậc này (2 giờ/tuần). Từ năm 1966 môn võ Vovinam (tức Việt Võ Đạo) cũng được đưa vào giảng dạy ở một số trường.

Hết năm đệ Tứ (lớp 9) thì thi lấy bằng Trung học đệ nhất cấp. Kỳ thi này ban đầu có hai phần thi: viết và vấn đáp. Năm 1959 Bộ Quốc Gia Giáo Dục quyết định bỏ phần thi vấn đáp, rồi đến niên khóa 1966-1967 thì bãi bỏ hẳn kỳ thi Trung học đệ nhất cấp.

+ Trung học đệ nhị cấp: Trúng cách bằng Trung học đệ nhất cấp thì được vào học tiếp chương trình Trung học đệ nhị cấp, tức là các lớp đệ Tam, đệ Nhị và đệ Nhất (10, 11, 12), nhưng bậc Trung học này còn có 2 kỳ thi để lấy bằng Tú tài I (gọi là Bán phần Tú tài) vào cuối năm lớp đệ Nhị (11), và Tú tài II (gọi là Toàn phần Tú tài) vào cuối năm lớp đệ Tứ (12). Thể lệ này đến niên khóa 1972-1973 thì bãi bỏ, chỉ còn thi một kỳ Tú tài phổ thông (gọi là thi Tú tài). Năm 1974 bắt đầu áp dụng hình thức thi trắc nghiệm và bỏ thi viết bài tự luận.

Bắt đầu vào Trung học đệ nhị cấp, học sinh chọn theo học 1 trong 4 “Ban” A, B, C, D như dự bị vào Đại học. Ban A là Ban Vạn Vật (hay còn gọi là Ban Khoa Học Thực Nghiệm); Ban B là Ban Toán; Ban C là Ban Văn Chương; Ban C là Ban Văn Chương Cổ Ngữ (thường là Hán văn). Ở cấp học này học sinh cũng bắt đầu học phải học thêm một ngoại ngữ (gọi là Sinh ngữ 2).

Điều cần biết thêm ở đây là việc thi cử hoàn toàn hoàn toàn không có một quy chế ưu tiên nào. Nghĩa là chỉ có ưu đãi trong học tập chứ không ưu tiên trong thi cử. Thành phần học sinh được ưu đãi trong học tập là con của những quân nhân và công chức “hy sinh vì nhiệm vụ” như tử trận, tử nạn khi thi hành nhiệm vụ, chết vì bệnh tật, tai nạn do công vụ, con em những thường dân đã hy sinh tánh mạng để cứu người và con em các Thương phế binh… (Các học sinh này được thu nhận vào các trường “Quốc Gia Nghĩa Tử”, được miễn học phí, được cấp học bổng và được hỗ trợ các phương tiện học tập).

oOo

MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG – TIỂU HỌC NỔI TIẾNG TRƯỚC NĂM 1975

Trên toàn miền Nam Việt Nam, ngoài hệ thống trường (Trung, Tiểu học) công lập (bao gồm cả trường Cộng đồng) của Chính phủ là hệ thống các trường tư thục. Theo thống kê cũ, tính đến năm 1975 có khoảng chừng 1.200.000 học sinh ghi danh học ở hơn 1.000 trường tư thục (cả hai cấp Tiểu và Trung học).

– Hệ thống trường Trung học công lập: Có rất nhiều trường công lập (một số trường chia theo phái tính như Nam tiểu học, Nữ tiểu học, Nam trung học, Nữ trung học…) nổi tiếng vào thời đó như trường Pétrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trưng Vương, Gia Long, Lê Quý Đôn (tiền thân là trường Chasseloup Laubat), Lê Văn Duyệt, Hồ Ngọc Cẩn (Gia Định) ở Sài Gòn; trường Quốc Học, Đồng Khánh ở Huế; trường Phan Chu Trinh ở Đà Nẵng; trường Võ Tánh ở Nha Trang; trường Trần Hưng Đạo, Bùi Thị Xuân ở Đà Lạt; trường Nguyễn Đình Chiểu, Lê Ngọc Hân ở Mỹ Tho; trường Phan Thanh Giản, Đoàn Thị Điểm ở Cần Thơ v.v…

– Hệ thống trường Quốc Gia Nghĩa Tử: Ngoài các trường công lập, Chính phủ còn có một hệ thống các trường Quốc gia Nghĩa tử tuy cũng là công lập nhưng chỉ ưu tiên dành riêng cho các con em của Tử sĩ, Thương phế binh (và các thành phần như đã nói trên); khi mới hình thành hệ thống còn có thành phần học sinh là con của Quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nhưng về sau giới học sinh này không còn thu nhận vào các trường Nghĩa tử. Cũng nên biết, hệ thống trường này tuy vẫn áp dụng chương trình của Bộ Quốc Gia Giáo Dục nhưng thuộc Bộ Cựu Chiến Binh quản lý và điều hành chứ không do Bộ Quốc Gia Giáo Dục; và những trường Quốc gia Nghĩa tử không phải là trường Thiếu Sinh Quân. Mục tiêu của các trường này là giáo dục phổ thông và hướng nghiệp, quy chế cấm không được huấn luyện quân sự. Hệ thống trường Quốc gia Nghĩa tử đầu tiên hoạt động từ năm 1963 ở Sài Gòn, sau khai triển ra các tỉnh/thành Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế, và Biên Hòa với tất cả là 7 cơ sở với chừng hơn 10.000 học sinh.

– Hệ thống trường tư thục của Thiên Chúa giáo: Ở Sài Gòn, Giáo Hội Công Giáo có những ngôi trường rất danh giá như Lasan Taberd, Saint Paul, Nguyễn Bá Tòng, Lê Bảo Tịnh, Thánh Linh, Couvent des Oiseaux, Nữ Vương Hòa Bình (Regina Pacis), Nữ Vương Thế Giới (Regina Mundi), Thánh Thomas (nhà thờ Ba Chuông, Phú Nhuận)… và rất nhiều trường Lasan, Thánh Tâm, Thánh Mẫu, Ánh Sáng v.v… ở các tỉnh/thành khác. Giáo Hội Công Giáo sở hữu tổng số 226 trường Trung học và 1.030 trường Tiểu học tư thục.

– Các trường tư thục do Chính phủ Pháp bảo trợ: Có những trường danh tiếng như Marie Curie, Colette, Saint-Exupéry ở Sài Gòn trong chương trình bảo trợ của Chính phủ Liên hiệp Pháp.

– Các trường tư thục do các Thương hội người Hoa bảo trợ: Ở Sài gòn có trường Bác ái (Collège Fraternité) ở Chợ Quán, ở các tỉnh/thành có các trường Thọ Nhân v.v… cũng là những trường tư thục nổi tiếng với đại đa số học sinh là con em người Việt gốc Hoa định cư ở Việt Nam.

– Hệ thống trường tư thục Bồ Đề của Phật giáo: (Xin xem phần tiếp theo bên dưới).

Kể từ năm 1956, theo các quy định của Chính phủ về giáo dục, tất cả các trường học tại Việt Nam, bao gồm trường công lập, trường tư thục, trường do các tôn giáo quản trị hay trường do ngoại quốc tài trợ, đều phải dạy một số giờ nhất định về các môn Quốc văn và Lịch sử Việt Nam trong thời khóa biểu (chương trình học chính thức trong các trường tư thục vẫn theo chương trình của Bộ Quốc Gia Giáo Dục và có thể thêm một số giờ hoặc kiến thức, hoặc giáo lý v.v…).

Một lưu ý khác nữa là hệ thống trường tư thục do các Giáo Hội Phật Giáo hay Công Giáo quản lý thu nhận học sinh đều không có ấn định thành phần tôn giáo, nghĩa là học sinh của gia đình thuộc bất cứ tôn giáo nào cũng được thu nhận vào học nên phụ huynh và học sinh có nhiều lựa chọn.

Về hệ thống Đại học, Cao đẳng tư thục trước năm 1975 cũng có nhiều trường, viện thuộc quản trị của tư nhân và tôn giáo như Viện Đại Học Đà Lạt, Viện Đại Học Vạn Hạnh, Viện Đại Học Phương Nam (Phật giáo), Viện Đại Học Minh Đức (Thiên Chúa giáo), Viện Đại Học An Giang (Hòa Hảo), Viện Đại Học Cao Đài v.v… nhưng như đã nói trên, phạm vi bài này chỉ viết về hệ thống trường Trung, Tiểu học Bồ Đề của Phật giáo và một vài thông tin tham khảo ít ỏi về quy chế 2 bậc Tiểu và Trung học thời ấy nên xin được miễn đề cập dông dài đến các bậc Đại học và Cao đẳng.

oOo

HỆ THỐNG TRƯỜNG TƯ THỤC BỒ ĐỀ CỦA PHẬT GIÁO

Hệ thống trường Bồ Đề thuộc quyền quản trị và điều hành của Giáo Hội Phật Giáo trước năm 1975 là các trường tư thục gồm 2 bậc Tiểu học, Trung học và áp dụng theo chương trình của Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa như trong các trường Trung và Tiểu học công lập hay tư thục khác; có giảng dạy thêm một số giờ giáo lý Phật giáo (1 giờ/tuần trong thời khóa biểu). Có trường chỉ có cấp Tiểu học, gọi là Trường Tiểu Học Tư Thục Bồ Đề (XYZ); có trường chỉ có cấp Trung học, gọi là Trường Trung Học Tư Thục Bồ Đề (XYZ); và có trường gồm cả 2 bậc Tiểu và Trung học, gọi là Trường Trung Tiểu Học Tư Thục Bồ Đề (XYZ). Mục tiêu của trường Bồ Đề dựa trên căn bản giáo dục học sinh không chỉ riêng về kiến thức, mà còn chú trọng cải thiện và tô bồi Nhân – Trí – Dũng để đức tính học sinh hướng thượng theo con đường Chân-Thiện-Mỹ của triết lý Phật giáo.

Cũng cần biết thêm rằng vào giai đoạn lúc bấy giờ, tuy Chính phủ kiến tạo rất nhiều cơ sở giáo dục công lập, giáo dục cộng đồng nhưng hệ thống trường lớp các bậc Trung và Tiểu học vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu giáo dục phổ cập miễn phí cho toàn thể con em trong độ tuổi các cấp học này. Do đó hệ thống giáo dục tư thục do các tôn giáo và tư nhân đứng ra thành lập là một giải pháp thích hợp và hiệu quả giúp giải quyết nhu cầu đến trường của con em cho phụ huynh học sinh; nổi bật nhất trong đó là số lượng khá nhiều các trường tư thục do các tu sĩ Thiên Chúa giáo thành lập bên cạnh các nhà thờ và các trường tư thục Bồ Đề được các tu sĩ Phật giáo thiết lập trong khuôn viên các chùa Tỉnh hội, Chi hội hay những khu đất tạo mãi hoặc thuộc sở hữu chủ các Giáo Hội hữu quan (của Thiên Chúa Giáo, Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo v.v…).

Ngôi trường Tiểu học tư thục Bồ Đề đầu tiên được Thượng Tọa Thích Trí Thủ trong cương vị Hội trưởng Hội Việt Nam Phật Học Trung Việt (thuộc hệ thống Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam gồm 6 tập đoàn Phật giáo Bắc, Trung, Nam do Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết là Hội chủ) đặt viên đá đầu tiên kiến lập vào năm 1951 và khai giảng năm 1952 tại Thành nội Huế. Đây là điểm mở đầu mạng lưới giáo dục Phật giáo đóng góp vào sự nghiệp hoạt động xã hội, xây dựng đất nước theo tinh thần nhập thế vốn có ở đạo Phật từ lâu đời. Mạng lưới giáo dục này từ đó liên tục phát triển ra nhiều tỉnh/thị/thành khắp nước.

Cho đến khi bước qua thời Đệ I và Đệ II Cộng Hòa, các tổ chức Cư sĩ Phật giáo cũng theo đường hướng đó đóng góp kiến lập liên tiếp nên nhiều cơ sở trường Bồ Đề khắp miền Nam Việt Nam. Các trường này đại đa số đều do các Tỉnh/Chi hội Tăng Già Phật Giáo hoặc Tỉnh/Chi hội Phật Học quản trị. Năm 1963, từ Trung Phần đến Nam Phần đã có 163 ngôi trường Trung, Tiểu học tư thục Bồ Đề. Tại thủ đô Sài Gòn (và Chợ Lớn, Gia Định), ngôi trường tư thục Phật giáo đầu tiên là trường Trung Tiểu Học Bồ Đề được Giáo Hội Tăng Già Nam Việt thành lập năm 1959, cơ sở tọa lại tại chùa Giác Ngộ (Chợ Lớn) do Thượng tọa Thích Quảng Liên là Hiệu trưởng.

Sau mùa Pháp Nạn lịch sử 1963, ý thức rằng một tôn giáo nhập thế là phải cùng nhận lấy trách nhiệm giáo dục xã hội mà quan trọng nhất là học đường, một môi trường có ảnh hưởng sâu rộng tới tầng lớp Thanh – Thiếu – Nhi, chư vị Tôn túc lãnh đạo Giáo Hội trong miền Nam lúc bấy giờ quyết định đẩy mạnh Phật sự phát triển hệ thống trường Trung-Tiểu học tư thục Bồ Đề vốn đã khai sinh từ trước và hoạt động chủ yếu ở miền Trung; nỗ lực hình thành các trường Mẫu giáo (trường/lớp Mẫu giáo Kiều Đàm) thường là tổ chức ngay trong các chùa Sư nữ hay Cô nhi viện, Ký nhi viện Phật giáo, do chư Ni quản lý và giáo dưỡng (như Huệ Lâm, Phước Hòa, Kim Liên, Kiều Đàm, Long Nhiễu… ở Sài Gòn); đồng thời với việc tích cực phát triển và cũng cố Viện Đại Học Vạn Hạnh cũng như các Phật Học Viện. Quyết định sáng suốt và kịp thời này đã đưa đến những thành quả đáng khích lệ, có tác động tích cực trong việc hoằng truyền giáo lý cũng như hoạt động xã hội của Phật giáo lúc bấy giờ và rất lâu về sau.

Năm 1964, khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất hình thành, một số trường Bồ Đề được hợp nhất, sắp xếp lại; và theo Hiến Chương G.H.P.G.V.N.T.N (1964) hệ thống trường tư thục Bồ Đề trực thuộc Giáo Dục Vụ (như là một Thế Học Vụ) của Tổng Vụ Pháp Sự (qua các Đại hội sau tu chỉnh thì trực thuộc Tổng Vụ Văn Hóa – Giáo Dục) của Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Ở các tỉnh/thị/thành sẽ hành hoạt với Đặc ủy của Vụ tại Tỉnh/Thị Giáo Hội hoặc/và Trung Tâm Văn Hóa Xã Hội Phật Giáo sở tại. Tính đến năm 1970, toàn quốc có 137 trường Bồ Đề, trong đó có 65 trường Trung học. Tổng số học sinh theo học là 58.466 em. Trước 30-4-1975, theo tài liệu của Giáo Dục Vụ – Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, thời điểm này (1970) tổng số trường Trung – Tiểu học Bồ Đề và Mẫu giáo Kiều Đàm trên toàn miền Nam Việt Nam là 158 trường.

Số thống kê trên đây chắc chắn là chưa hoàn toàn phản ánh chính xác vì còn rất, rất nhiều trường Tiểu học Bồ Đề miễn phí hoặc tuy gọi là “tư thục” nhưng chỉ thu một khoản học phí rất thấp chỉ đủ để phụ trợ cho “thù lao tượng trưng” vô cùng “khiêm tốn” của giáo viên (thường là các Huynh trưởng Gia Đình Phật Tử tại địa phương). Các trường kiểu này thường ít khi có đủ trọn cấp Tiểu học mà chỉ dạy tứ lớp Năm đến lớp Ba (tương đương lớp 1 đến lớp 3 về sau) với mục đích chính là hộ trợ các gia đình nghèo trong địa phương, và thường “mở trường” ngay trong ngôi chùa sở tại.

Trong số những người đứng ra thành lập, tổ chức, quản trị và giảng dạy các trường Trung – Tiểu học tư thục Bồ Đề, mẫu giáo Kiều Đàm, không chỉ có Tăng – Ni mà có thể thấy rõ là có nhiều Huynh Trưởng của tổ chức Gia Đình Phật Tử – một tổ chức giáo dục thanh thiếu niên Phật giáo trực thuộc Giáo Hội. Cũng có nhiều trường Bồ Đề nhưng Hiệu trưởng, Giám học, Giám thị v.v… không do quý Tăng, Ni tu sĩ phụ trách mà do những Cư sĩ này (cũng có nơi do cấp Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Tử sở tại cử ra) đảm trách.

Cũng dễ dàng nhận thấy rằng học sinh và cả Thầy/Cô giáo – lúc bấy giờ gọi là Giáo viên Tiểu học, Giáo sư Trung học (đệ nhất cấp và đệ nhị cấp) – trong Ban Giảng Huấn các trường Bồ Đề có vẻ không “sang”, không “Tây” hơn các trường Trung, Tiểu học khác như các “trường Tây”, trường tư thục Thiên Chúa Giáo v.v… Điều này cũng dễ hiểu, vì hệ thống trường Bồ Đề mục tiêu chủ yếu không phải là hoạt động kinh tài, doanh tế mà là hướng tới nâng đỡ con em của những người lao động chân tay hay công tư chức nghèo, gần nơi cư trú (ở thành thị và nông thôn), không đủ khả năng, điều kiện, hoặc bị thi trượt, hoặc quá tuổi thi vào các trường công lập, phải vào học trường tư thục (học phí các trường Bồ Đề rất thấp, nếu không nói là thấp nhất so với các trường khác). Đây cũng là một trong những lý do học sinh các trường tư thục Bồ Đề thường nổi bật về Đức dục và tính kỷ luật ở học đường cũng như trong gia đình, ngoài xã hội.

Quý Tăng Ni, Cư sĩ đảm nhiệm chức trách Giáo viên, Giáo sư các trường Bồ Đề chắc rằng chưa bao giờ nghĩ là đi dạy trường Bồ Đề để mưu sinh bằng thù lao từ học phí của học sinh, bởi lẽ mức thù lao vô cùng thấp thỏi (và có nhiều Thầy/Cô chấp nhận dạy miễn phí), do đó tuy chưa bao giờ mang những mỹ từ danh xưng “Xã hội hóa” hay “Dân lập” như hiện nay, hệ thống trường tư thục Bồ Đề đã từng là giải pháp hữu hiệu giúp cho nhiều con em học sinh không vì điều kiện gia đình khó khăn mà phải bỏ học.

Cho đến sau tháng Tư năm 1975 thì mọi hoạt động trong toàn thể hệ thống giáo dục Bồ Đề của Phật giáo đều bị ngưng hoạt động, hầu hết các cơ sở giáo dục của trường “được” trưng thu, chuyển thành các trường thuộc hệ thống nhà nước.

oOo

Như trên đã nói, hệ thống giáo dục xã hội do Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất quản trị và điều hành được phát triển từ sau năm 1963 không chỉ bắt đầu từ bậc Tiểu học lên đến Đại học, mà còn gồm cả giáo dục Mẫu giáo. Tuy nhiên, số lượng các cơ sở bậc Mẫu giáo ít hơn nhiều so với hệ thống trường Bồ Đề, gồm cả Tiểu học, Trung học đệ nhất cấp và Trung học đệ nhị cấp.

Thời điểm bấy giờ, một trường bao gồm cả Trung, Tiểu học không hẳn gọi là một trường “lớn”. Tuy nhiên, một trường Trung – Tiểu học tư thục như vậy tại thời điểm ấy sẽ đem lại nhiều thuận lợi cho học sinh, góp phần giúp học sinh dễ dàng theo đuổi việc học cho đến các lớp Trung học đệ nhị cấp: đệ Tam (10), đệ Nhị (11), chuẩn bị dự vào kỳ thi Tú Tài I và lớp Đệ Nhất (12) để thi Tú Tài II trước khi bước vào ngưỡng cửa Đại học.

Có thể kể một số trường Trung – Tiểu học Bồ Đề tiêu biểu và thời gian thành lập tại các tỉnh/thị/thành trước năm 1975 như sau:

  • Thừa Thiên (1951 – 1960):
    • Bồ Đề Thành Nội (Bồ Đề Tả Ngạn).
    • Bồ Đề Hữu Ngạn.
    • Bồ Đề Tây Lộc.
    • Bồ Đề Hàm Long.
    • Bồ Đề Long Quang.
  • Quảng Trị (1955 – 1967):
    • Bồ Đề Quảng Trị.
    • Bồ Đề Đông Hà.
    • Bồ Đề Triệu Phong.
    • Bồ Đề Hải Lăng.
  • Đà Nẵng (1964):
    • Bồ Đề Đà Nẵng.
    • Bồ Đề An Hải.
    • Bồ Đề Sơn Chà.
    • Bồ Đề Hòa Vang.
    • Bồ Đề Hòa Khánh.
    • Bồ Đề Hòa Phát.
  • Quảng Nam (1956 – 1969):
    • Bồ Đề Hội An.
    • Bồ Đề Vĩnh Điện.
    • Bồ Đề An Hòa.
  • Quảng Tín (1963 – 1969):
    • Bồ Đề Tam Kỳ.
    • Bồ Đề Thăng Bình.
  • Quảng Ngãi (1959 -1969):
    • Bồ Đề Quảng Ngãi.
    • Bồ Đề Mộ Đức.
  • Bình Định (1957 – 1964):
    • Bồ Đề Qui Nhơn.
    • Bồ Đề Bồng Sơn.
    • Bồ Đề Phù Mỹ.
    • Bồ Đề Phù Cát.
    • Bồ Đề An Nhơn.
    • Bồ Đề Phú Phong.
    • Bồ Đề Nguyên Thiều.
  • Phú Yên (1957):
    • Bồ Đề Tuy Hòa.
  • Khánh Hòa (1951 – 1968):
    • Bồ Đề Nha Trang.
    • Bồ Đề Diên Khánh.
    • Bồ Đề Vạn Ninh.
    • Bồ Đề Ninh Hòa,
    • Bồ Đề Dục Mỹ.
    • Bồ Đề Cam Ranh.
  • Ninh Thuận (1958):
    • Bồ Đề Phan Rang.
  • Bình Thuận (1955):
    • Bồ Đề Phan Thiết.
  • Kontum (1963):
    • Bồ Đề Kontum.
  • Pleiku (1959 – 1964):
    • Bồ Đề Khuông Việt (Bồ Đề Pleiku).
    • Bồ Đề Bửu Nghiêm (Bồ Đề Pleiku 2).
  • Darlak (1962):
    • Bồ Đề Huệ Năng (Bồ Đề Ban-Mê-Thuột).
  • Tuyên Đức (1958 – 1968):
    • Bồ Đề Đà Lạt.
    • Bồ Đề Cầu Đất.
    • Bồ Đề Đơn Dương.
    • Bồ Đề Tùng Nghĩa.
  • Lâm Đồng (1957):
    • Bồ Đề Bảo Lộc.
  • Vũng Tàu (1969):
    • Bồ Đề Vũng Tàu.
  • Long Khánh (1970):
    • Bồ Đề Long Khánh.
  • Định Tường (1967):
    • Bồ Đề Mỹ Tho.
  • Gò Công (1965):
    • Bồ Đề Gò Công.
  • An Giang (1964 – 1965):
    • Bồ Đề Long Xuyên.
    • Bồ Đề Chợ Mới.
  • Kiến Hòa (1964):
    • Bồ Đề Kiến Hòa.
  • Kiến Phong (1967):
    • Bồ Đề Kiến Phong.
  • Bạc Liêu (1968):
    • Bồ Đề Bạc Liêu.
  • Sa Đéc (1968):
    • Bồ Đề Sa Đéc.
  • Vĩnh Long (1969):
    • Bồ Đề Tam Bình.
  • Sóc Trăng (1966):
    • Bồ Đề Sóc Trăng.
  • Ba Xuyên (1969):
    • Bồ Đề Ba Xuyên
  • Thủ đô Sài Gòn (1959 – 1970):
    • Bồ Đề Sài Gòn (Bồ Đề Cầu Muối).
    • Bồ Đề Chợ Lớn (Bồ Đề Giác Ngộ).
    • Bồ Đề Huệ Quang.
    • Bồ Đề Pháp Vân.
    • Bồ Đề Huệ Đức.
    • Bồ Đề Long Nhiễu.
    • Bồ Đề Đức Trí.
    • Bồ Đề An Khánh.
    • Bồ Đề Hạnh Đức.
    • Bồ Đề Phước Duyên.
    • Bồ Đề Hưng Long v.v…

Sự thống nhất cùng mang một tên gọi “Bồ Đề” cho các trường do Giáo Hội (Phật giáo) thành lập, quản trị và điều hành khiến hệ thống giáo dục tư thục này của Phật giáo có một quy chế, chương trình đồng bộ và dễ dàng theo dõi để cải thiện phẩm lượng đào tạo cũng như phát triển hệ thống.

Với hệ thống trường Trung – Tiểu học tư thục Bồ Đề, Phật giáo đã trở nên gắn bó với đời sống xã hội hơn bao giờ hết. Quý vị Tăng Ni trẻ và các Cư sĩ có kiến thức, chuyên môn, có kỹ năng sư phạm trở thành những Giáo viên tiểu học hay Giáo sư trung học, các Thầy/Cô quản trị, điều hành và giảng huấn các trường Trung – Tiểu học tư thục Bồ Đề đã góp phần đưa Phật giáo lúc bấy giờ hòa nhập với hoạt động giáo dục xã hội, với sinh hoạt cộng đồng, trở thành một “Phật giáo nhập thế” đúng nghĩa. Một số học sinh trường Bồ Đề đã tham gia sinh hoạt vào các tổ chức giáo dục Thanh, Thiếu niên Phật giáo như Học Sinh Phật Tử, Gia Đình Phật Tử, Hướng Đạo Phật Giáo cũng góp phần giảm thiểu đáng kể những tệ nạn xã hội, trở thành những công dân hữu ích trong cộng đồng.

oOo

HÌNH ẢNH ÍT ỎI CÒN SÓT LẠI
MỘT SỐ TRƯỜNG BỒ ĐỀ
CÒN THU THẬP ĐƯỢC

Bồ Đề Quảng Trị: Truờng Trung Học Bồ Đề Quảng Trị có lẽ là ngôi trường duy nhất đến nay còn mang tên “Bồ Đề” và là ngôi trường còn có nhiều hình ảnh nhất, do đã trở thành di tích lịch sử chiến tranh (sau trận chiến “Cổ thành Quảng Trị” trong “Mùa Hè Đỏ Lửa” năm 1972) nên được lưu giữ lại (các trường Bồ Đề khác hầu hết đã trở thành “trường đã mất tên” vì sau khi bị trưng thu năm 1975 đều đổi sang tên trường khác).

Bồ Đề Thành Nội – Huế: Hình dưới là ngôi trường khi thành lập có tên là trường tư thục Bồ Đề Thành Nội, sau đổi thành trường Bồ Đề Tả Ngạn; và từ 1975 đến nay đã đổi tên thành trường Thống Nhất.

Bồ Đề Sài Gòn – Chợ Lớn: Các ngôi trường tọa lạc ở khu vực Cầu Muối (thường gọi là Bồ Đề Cấu Muối) và trường ở chùa Giác Ngộ (thường gọi là Bồ Đề Sài Gòn – Chợ Lớn hay Bồ Đề Chợ Lớn).

Bồ Đề Đà Nẵng:

Bồ Đề Đà Lạt:

Bồ Đề Vũng Tàu:

Bồ Đề Pleiku: Ảnh thứ nhất là vị trí trường Trung – Tiểu học Bồ Đề Khuông Việt (Tiểu học 1959, Trung học 1964). Ảnh thứ hai là trường Tiểu học Bồ Đề Bửu Nghiêm (Bồ Đề 2), sau 1975 đổi tên thành trường Yên Đổ, rồi nay là Trưng Vương.

——— oOo ———

MỘT SỐ KỶ VẬT MÀ THẦY & TRÒ
TRƯỜNG BỒ ĐỀ CÒN LƯU GIỮ ĐƯỢC

Hành khúc trường Bồ Đề.
Phù hiệu Hiệu Đoàn (Bồ Đề Sài Gòn).
Phù hiệu Hiệu Đoàn (Bồ Đề Pleiku).
Phù hiệu Hiệu Đoàn (Bồ Đề Đà Nẵng).
Thẻ học sinh (Bồ Đề Chợ Lớn).
Thẻ học sinh (Bồ Đề Chợ Lớn).
Học bạ của học sinh (Bồ Đề Chợ Lớn).
Một trang Kỷ yếu lớp (10B2 Bồ Đề Đà Nẵng).
Một poster kỷ niệm (51 năm thành lập Bồ Đề Đà Nẵng).

QUANG MAI sưu khảo

One thought on “Hệ thống trường Trung – Tiểu học tư thục Bồ Đề trước 1975

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.