32 vẻ đẹp tượng Phật Đồng Dương

TVGĐPT – Tượng Phật ‘Đồng Dương’ là pho tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tạc bằng đồng, được tìm thấy bởi nhà khảo cổ học người Pháp Henri Parmentier vào tháng 4 năm 1911 tại Đồng Dương, xã Bình Định, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, hiện được trưng bày tại Bảo Tàng Lịch Sử Tp.HCM (trước đây là Bảo Tàng Louis Finot, thành lập năm 1927, thuộc quyền kiểm soát khoa học của Viện Viễn Đông Bác Cổ, Pháp; năm 1954 đổi tên thành Viện Bảo Tàng Quốc Gia Việt Nam thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa). Theo “Hồ sơ di sản” của Cục Di Sản Văn Hóa Việt Nam, tượng Phật ‘Đồng Dương’ đã công nhận là “bảo vật quốc gia” bởi Quyết định số 1426/QĐ-TTg ngày 1-10-2012. Cho đến hiện tại, đây là pho tượng Phật bằng đồng duy nhất vẫn nắm giữ hai kỷ lục: cổ nhất và đẹp nhất.

Dưới đây là nguyên văn bài viết của Tác giả Giao Hưởng đăng trên chuyên mục Văn Hóa của báo Thanh Niên ngày 17-12-2011.

oOo

32 VẺ ĐẸP TƯỢNG PHẬT ĐỒNG DƯƠNG

Tượng Phật Đồng Dương nặng 120kg tìm thấy cách đây đúng 100 năm (vào 1911) tại Đồng Dương (Quảng Nam), hiện đang trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Tp.HCM là tác phẩm mỹ thuật tiêu biểu cho kỹ thuật đúc đồng tinh xảo kết hợp với nghệ thuật tạo hình do nền văn hóa Chăm-pa để lại.

Tượng cao 119cm, chỗ rộng nhất 38cm, chỗ dày nhất 38cm, đứng trên một bệ tròn hai tầng có tạc hình các cánh sen bao quanh. Phần trên của bệ là khối bán cầu ở thế ngửa lên. Phần dưới bệ lớn hơn cũng hình tròn, như miệng chuông úp xuống.

Toàn thân tượng Phật Đồng Dương trong viện bảo tàng.

Bệ và toàn thân tượng đồng được đóng chặt vào nhau bởi những cái mộng (chốt) đặt dưới lòng đôi bàn chân bằng phẳng. Đôi bàn chân này của tượng thể hiện tướng tốt đầu tiên trong ‘tam thập nhị tướng’ (32 tướng) của Phật là chấm sát đất và khít khao với mặt phẳng của đất đến nỗi “cây kim cũng không thể lọt qua”. Từ chân tượng trở lên, thể hiện diệu tướng thứ 17 của Phật là: hai tay, hai chân, hai mắt và giữa cổ (có khắc 3 ngấn chìm), gộp lại thành ‘7 chỗ đầy đặn’. Vai bên phải để trần thể hiện tướng thứ 21: tròn và đẹp. Lên chút nữa là gương mặt tượng thể hiện tướng thứ 25 với hai má phẳng và rộng như sư tử chúa, đúng theo kinh chép: Khi Phật mở miệng thuyết pháp ví như tiếng ‘sư tử hống’ làm tắt tất cả âm thanh của mọi loài trong rừng (tướng âm thanh Phạm thiên).

Mắt tượng Phật Đồng Dương không nhắm hẳn lại mà đang mở nhìn, thể hiện diệu tướng thứ 29 là đôi mắt đẹp như cánh hoa sen xanh. Giữa trán có khắc một vòng tròn tiêu biểu cho tướng thứ 32 mang tên ‘bạch hào’, tức tướng lông trắng xóa và trong sạch như bọt nước đứng yên trên ngọn triều cường. Đáng lưu ý, các nghệ sĩ Chăm-pa đã thể hiện một tướng hết sức tôn nghiêm nằm ở vị trí cao nhất của tượng Phật Đồng Dương là tướng ‘nhục kế’ trên đỉnh đầu với một cục u nổi lên giữa búi tóc cuộn quanh. Sa-môn Huệ Thiện cùng đi với chúng tôi đến Bảo tàng Lịch sử Tp.HCM để chiêm ngưỡng tượng đã giải thích: “Đây là tướng mà bất cứ nhà nghiên cứu mỹ thuật nào hoặc nhà điêu khắc tượng Phật nào từ xưa đến nay cũng đều cần biết đến để bắt tay chế tác hoặc giới thiệu cho thật chính xác. Tướng này có hình một khối thịt tức là ‘nhục’, nổi cao lên như một búi tóc tức là ‘kế’, gọi là ‘nhục kế’, được tựu thành và xuất hiện trên đỉnh đầu Phật do nhân duyên bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và khai mở trí huệ trong nhiều kiếp; hào quang của Phật Thích Ca đã phóng xuất từ đỉnh đầu đó trước khi đọc thần chú Lăng Nghiêm. Ngoài tượng Đồng Dương này, các tượng Phật khác thể hiện diệu tướng ‘nhục kế’ theo nhiều cách khác nhau. Chẳng hạn căn cứ vào Kinh Quán Phật Tam Muội để khảm thêm lên tượng một viên đá quý màu hồng; hoặc tô hồng ở khoảng không có tóc ở trước đảnh đầu; hoặc đặt một viên kim cương to tròn đa sắc để biểu hiện tướng ấy”.

Nếu nhìn từ trước mặt tượng và để tâm quan sát sẽ thấy toàn thân tượng Đồng Dương thể hiện vẻ đẹp của một loạt ba diệu tướng khác, gồm tướng thứ 14 và 15: thân kim sắc (ánh sắc vàng) có sức tỏa hào quang minh tịnh; và tướng thứ 16: da mịn trơn bóng như hoa sen buổi sớm, dầu cho cuồng phong thổi mạnh khiến núi đá lăn lóc va chạm vào nhau vỡ nát thành bụi thì không một hạt bụi nào có thể dính được vào thân kim sắc ấy.

Các diệu tướng ở phần trên của tượng.

Tượng do Viện Viễn Đông Bác Cổ đăng ký với số hiệu D22.1 và từng được ghi nhận qua: Bulletin de l’Ecole Francaise d’Extrême Orient, Bulletin de la commission archéologique de l’Indochine cũng như các ấn phẩm giới thiệu hiện vật Việt Nam trưng bày ở nước ngoài. Đã có đông đảo các nhà nghiên cứu khắp nơi trên thế giới như Ananda Coomaraswamy, Douglas Barret, Pierre Dupont, Alecxander Griswold, Diran Kavrk Dohanian, Jean Boisselier, Ulrich von Schroeder quan tâm tìm hiểu về nguồn gốc và giá trị của pho tượng. Tượng đã từng được đưa đi trưng bày ở Mỹ, Pháp, Áo, Bỉ với giá bảo hiểm ở mức 5 triệu USD.

“Tượng Phật Đồng Dương ngoài giá trị về mặt tạo hình nghệ thuật còn thể hiện được nhiều diệu tướng trong số 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp tùy hảo của Đức Phật được ghi trong bộ Luận Đại Trí Độ. Đó là điều đọng lại đầy xúc động trong tâm cảm chúng tôi khi đứng trước pho tượng Phật Đồng Dương được tạo tác từ hơn 1.000 năm trước…” (Sa-môn Huệ Thiện).

GIAO HƯỞNG
Nguồn: thanhnien.vn

oOo

Thư Viện GĐPT ghi chú thêm về niên đại:

Vào thời điểm sau khi mới khai quật khảo cổ (1911), các nhà khảo cổ học của Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO – École française d’Extrême-Orient) của Pháp và Hội Nghiên Cứu Đông Dương (Société des Études indochinoises) đã đánh giá tượng Phật Đồng Dương là một trong những pho tượng Phật cổ nhất, thuộc hàng đẹp nhất ở khắp cả vùng Đông Nam Á thời bấy giờ. Xét về mặt cổ xưa, lúc bấy giờ nguồn gốc chính xác của tượng còn nhiều tranh cãi.

Có ý kiến cho rằng, tượng Phật Đồng Dương giống các tượng Phật của Amaradhapura (Sri Lanka – tên một trung tâm nghệ thuật Phật giáo miền Nam Ấn Độ) và mang đậm tính bản địa người Dravidian, được đánh giá là khuôn mẫu cho điêu khắc ở Sri Lanka và vùng Đông Nam Á, nên có thể tượng Phật Đồng Dương có niên đại vào khoảng thế kỷ III – IV và đã được mang về từ Ấn Độ hoặc Sri Lanka.

Mặt khác, nhiều nhà khảo cổ nghiêng về khả năng là tượng do người Chăm xưa làm nên. Ngày nay – theo các giám định – pho tượng được xác định có niên đại vào khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ IX, liên quan đến một giai đoạn Phật giáo ở Chăm-pa phát triển hưng thịnh nhất, đó là thời kỳ thuộc triều đại Indravarman II, còn gọi là “Vương triều Đồng Dương” hay “Vương triều Phật giáo”.

(Theo Sànkỷlục – Viện Kỷ Lục Quốc Gia Việt Nam)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.