
TVGĐPT – Ngựa là con vật rất quen thuộc được sử dụng nhiều trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt Nam. Nhân dịp Tết Giáp Ngọ – 2014, chúng ta hãy thử tìm lại một số câu tục ngữ, thành ngữ thường được ví von, ám chỉ trong lối nói chuyện của người Việt:
MỘT SỐ TỤC NGỮ – THÀNH NGỮ:
- Lên xe, xuống ngựa: Nói về những người có cuộc sống sang giàu, nhàn hạ, sung sướng, phong lưu.
- Cưỡi ngựa xem hoa: Chỉ những người làm việc qua loa, không cẩn thận, không làm đến nơi đến chốn.
- Hàm chó vó ngựa: Nói về những người đa ngôn, nói nhiều nhưng chuẩn mực, không trúng trật vào đâu, không biết giữ mồm giữ miệng.
- Bò đất ngựa gỗ: Ám chỉ con người bất tài hoặc đồ vật vô dụng, chỉ đáng vứt bỏ đi.
- Mặt dài như mặt ngựa: Gương mặt ngây ra, đờ đẫn khi bị phát giác ra một hành động xấu, mờ ám.
- Có mặt nào dài hơn mặt ngựa: Ám chỉ những người có tính cách lì lợm, trây ì, bất tuân, tiêu cực khó thay đổi, sửa chữa.
- Buộc đuôi cho ngựa đá: Chỉ cho những người hay việc làm thâm hiểm gây hiềm khích, mâu thuẩn để các đối tượng khác tranh cãi, xích mích, thậm chí xung đột vũ lực với nhau.
- Ngựa về ngược: Nói về những người, những sự việc ban đầu không được kỳ vọng cao nhưng giờ phút chót lại tạo ra kết quả đột phá, bất ngờ ngoài dự đoán.
- Tứ mã phân thây: Là một cực hình thời phong kiến rất tàn nhẫn áp dụng cho những tù nhân mang đại trọng tội (bị 4 con ngựa cột vào tứ chi kéo phanh thây).
- Voi giày ngựa xé: Cũng là một hình phạt dã man đối với phạm nhân thời xưa. Câu này còn là một lời nguyền rủa cay độc với những người bị căm ghét.
- Làm thân trâu ngựa: Chỉ cho việc bị ép buộc (cũng có thể do hèn hạ tự nguyện) quy lụy hầu hạ, cung phụng, làm nô lệ cho người người quyền thế, giàu có.
- Kiếp trâu ngựa: Nói đến những kiếp người nghèo khổ, bần cùng phải đi làm thuê làm mướn, chấp nhận làm những công việc lao lực cực nhọc, đọa đày.
- Con dân cầm đòn càn, con quan được cưỡi ngựa: Ý nói về tầng lớp xuất thân, gia cảnh. (Ca dao sắc tộc Thái, tương tự như câu ‘con vua thì được làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa’ của người Kinh).
- Thiên binh vạn mã: Chỉ sự đông đảo, số lượng nhiều; một lực lượng hùng hậu, đông đúc.
- Chiêu binh mãi mã: Chiêu mộ nhân tài có tinh thần chiến đấu, mua sắm ngựa xe, chuẩn bị cho một trận chiến.
- Khuyển mã chi tình: Nói về đức trung thành, gắn bó và tận tụy không dời đổi; thường được dùng để chỉ tình nghĩa vua tôi hay thuộc cấp đối với thượng cấp, hoặc bạn hữu đã giúp đỡ, bảo bọc mình.
- Ra sức khuyển mã: Nói về những người hết lòng tận tụy đối với người mình đã mang ơn nặng.
- Công lao hãn mã: Chỉ cho những chiến công lừng lẫy do công lao của những kỵ sĩ chiến đấu trên lưng ngựa.
- Ngựa chạy có bầy, chim bay có bạn: Câu nói thể hiện giá trị của tinh thần đồng đội, đoàn kết và tương trợ lẫn nhau trong cuộc sống hay khi làm việc nếu không muốn thất bại vì đơn độc.
- Muốn đi xa phải dành sức ngựa: Có hàm ý dùng người phải lưu tâm đến sức khỏe và tinh thần của thuộc cấp mới dùng được lâu dài, chớ bóc lột sức lực và sự cống hiến của họ.
- Thiếu voi phải dùng ngựa: Nói đến những trường hợp bất đắc dĩ phải giải quyết, vì không có cái tốt hơn nên phải dùng cái không tốt bằng thay thế vào việc đó.
- Mã đáo thành công: Câu chúc may mắn, thành công trong chiến trận, kinh doanh, xây dựng cơ nghiệp v.v…
- Ngựa non háu đá: Chỉ những người trẻ tuổi thường có tính cách hung hăng, thiếu chín chắn.
- Được đầu voi đòi đầu ngựa: Nói về người có lòng tham không đáy (giống như câu ‘được voi đòi Tiên’).
- Ngựa quen đường cũ: Ẩn dụ cho những người có thói quen xấu “chứng nào tật ấy”.
- Ngưu tầm ngưu mã tầm mã: Chỉ việc những người (xấu) giống nhau thường tập hợp lại với nhau, tìm đến nhau.
- Đầu trâu mặt ngựa: Ám chỉ những kẻ vô lại, bất lương.
- Ngựa lồng cóc cũng lồng: Chỉ sự đua đòi bắt chước một cách kệch cỡm, lố bịch.
- Thẳng như ruột ngựa: Nói một cách thẳng thắn, không quanh co, úp mở.
- Ngựa hay lắm tật: Ý nói những người có tài thường có tật chướng, bướng bĩnh hoặc một vài tật xấu nào đó.
- Ngựa chứng là ngựa hay: Ý nghĩa tương tự câu trên (và có thể hiểu là tuy có vài tật chướng nhưng lại là người có tài).
- Chạy như ngựa vía: Ý nói là chạy rất nhanh.
- Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ: Nói về tình đoàn kết.
- Ngựa xe như nước, áo quần như nêm: Chỉ về một nơi, một việc rất đông đúc, nhiều người qua lại.
- Da ngựa bọc thây: Câu này thời xưa dùng để nói về người lính đã ngã xuống trên chiến trường.
- Đơn thương, độc mã: Chỉ về người một mình chống lại khó khăn, không có sự trợ giúp của ai.
- Một mình một ngựa: Chỉ cho sự đơn độc.
- Một lời nói ra bốn ngựa khó tìm (Nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy): Câu này có nghĩa là một lời nói vô ý khi ra khỏi miệng rất khó có thể lấy lại được.
- Tái Ông mất ngựa (Tái Ông thất mã): Nói về việc trong cái rủi có cái may, trong cái may có thể ẩn tàng cái rủi…
- Bóng ngựa qua cửa sổ (Bóng câu qua cửa sổ): Bóng ngựa hay bóng câu (bạch câu: con ngựa non sắc trắng) lướt qua khe cửa là chỉ sự trôi nhanh của thời gian.
- Đường dài mới hay sức ngựa: Ý nói trải qua với thời gian, hoặc khi sống với nhau lâu dài mới hiểu được sự kiên trì, bền bỉ hay phẩm chất tốt, xấu của một ai đó.
- Thay ngựa đổi chủ: Nói về một người rời bỏ một tổ chức, phe phái này để đi theo một tổ chức, phe nhóm khác.
- Thay ngựa giữa dòng: Chỉ việc thay tướng giữa trận; truất phế một thủ lãnh, một nhân vật trọng yếu; hoặc thay đổi nhân vật chủ chốt giữa một kế hoạch đang thực thi do có sự bảo trợ của kẻ mạnh.
- Ngựa nào gác được hai yên: Chỉ việc người ta không thể đồng thời phụng sự 2 sự nghiệp lớn, 2 lý tưởng cùng lúc.
- Hồ Mã tê Bắc phong: (Hán ngữ, dịch: Ngựa Hồ hí gió Bấc), ám chỉ kẻ tha phương nhớ nhung về quê hương xứ sở, chốn cũ người xưa.
- Bạch Mã phi Mã (Hán ngữ, dịch: Ngựa trắng không phải là ngựa), một câu nói mang tính triết học của Công Tôn Long luận về sự khác nhau giữa cái riêng (bạch mã) và cái chung (mã).
MỘT SỐ CÂU CA DAO – ĐIỆU LÝ DÂN CA:
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.
Nhong nhong ngựa ông đã về
Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn.
Ngựa hay chẳng quản đường dài
Nước kiệu mới biết tài trai anh hùng.
Ngựa ô chẳng cưỡi, cưỡi bò
Đường ngay không chạy, chạy dò đường quanh.
Ngựa le te cũng đến bến giang
Voi đủng đỉnh cũng sang bến đò.
Ngựa hươu thay đổi như chơi
Giấu gươm đầu lưỡi, thọc dùi trong tay.
Đường dài ngựa chạy biệt tăm
Người thương có nghĩa trăm năm cũng chờ.
Sông sâu ngựa lội ngập kiều (cầu)
Dầu anh có phụ, còn nhiều nơi thương.
Đường dài ngựa chạy cát bay
Ngãi nhân thăm thẳm một ngày một xa.
Tiếc thay con ngựa cao bành
Để cho chủ ấy tập tành sao nên.
Em đã có chồng như ngựa đủ yên
Anh chưa có vợ như chiếc thuyền nghiêng giữa vời.
Có chồng như ngựa có cương
Đắng cay cùng chịu, vui thương cùng nhờ.
Gập ghềnh nước chảy qua đèo
Ngựa xô xuống biển, thuyền chèo lên non.
Hỡi cô thắt dải lưng xanh
Ngày ngày thấp thoáng bên mành chờ ai?
Trước đường xe ngựa bời bời
Bụi hồng mờ mịt ai người mắt xanh!
Năm con ngựa bạch sang sông
Năm gian nhà ngói đèn trong đèn ngoài
Đèn yêu ai mà đèn chẳng tắt?
Ta yêu mình nước mắt nhỏ ra.
Em có chồng rồi như ngựa có cương
Ngõ em em đứng, đường trường anh đi
Xa thì mượn ngựa anh đi
Quý hồ tốt quảy, quản chi xa gần
Ước gần mà chẳng được gần
Ai làm cách Việt xa Tần thế ni?
Ngựa ô anh thắng kiệu vàng
Anh tra khớp bạc
Lục lạc đồng đen
Búp sen lá dặm
Dây cương nhuộm thắm
Cán roi anh bịt đồng thòa…
Thằng Cuội ngồi gốc cây đa
Để trâu ăn lúa, gọi cha ời ời
Cha còn cắt cỏ trên trời
Mẹ còn cưỡi ngựa đi mời quan viên…

QUANG MAI sưu tập