Nhân mùa Vu Lan thử tìm hiểu nguồn gốc tập tục đốt vàng mã

NGUỒN GỐC TỤC ĐỐT VÀNG MÃ

Tác giả: Hòa Thượng Thích Tố Liên

(Bài đã viết và xuất bản từ thế kỷ trước. TVGĐPT giữ nguyên văn phong và từ ngữ)

oOo

Tục chôn người chết nước Tàu về đời thượng cổ, một khi có người chết cứ để thế đem chôn, không quan ván, lại cũng không khanh phần mộ chi cả. Đến đời vua Hoàng Đế (2679 TTL) cho rằng con cháu đối với ông bà cha mẹ trong việc mai táng cẩu thả như thế là thiếu bổn phận, mới sai ông Xích Xương sáng chế ra quan, quách để chôn cất. Trải qua đời Hoàng Đế đến đời Đường Ngu, cái tục lệ chôn cất người chết chỉ có thế thôi.

Nối nhà Ngu là nhà Hạ (2205 TTL) người Tàu mới bắt đầu dùng đất sét nặn thành mâm, bát; dùng tre, gỗ là nhạc khí như chuông khánh, đàn sáo… để đem theo người chết. Các đồ vật đó được gọi là ‘minh khí’, hoặc gọi là ‘quý khí’, tức các đồ vật được đem chôn theo cho thần hồn người chết dùng ở Âm phủ. Lễ nhạc đối với người chết bắt đầu có từ đó. Rồi đấy đã chế ra đồ dùng cho người chết, tất phải có người hầu hạ người chết, người ta mới lại chế ra người bù nhìn bằng gỗ đem chôn theo người chết.

Đến đời nhà Ân (1765 TTL) lại không dùng mâm bát đồ đất và nhạc khí bằng tre gỗ để chôn theo người chết nữa. Thay vào đó các đồ tế khí toàn dùng đồ thật chôn theo.

Đời nhà Chu (1122 TTL), người Tàu đã bắt đầu văn minh, cố nhiên lễ nhạc đối với người chết cũng được ăn nhịp mà tiến bộ. Giữa người chết với người chết đã được người sống phân ra giai cấp sang hèn trong việc lễ nghi chôn cất. Do vậy từ vua đến quan lớn, khi chết đi sẽ được dùng cả đồ vật giả theo lệ nhà Hạ và đồ vật thật theo lệ nhà Ân để đem chôn theo. Còn hạng sĩ phu tới bình dân, khi chết chỉ được chôn theo độc một thứ đồ giả thôi. Nếu người “hèn hạ” nào mà dùng nghi lễ ngang với người sang tức khắc phải tội ‘Tiếm lễ’. Không chỉ thế, dã man độc ác nhất, người ta còn bịa ra tục ‘Tuẫn táng’, tức khi vua quan chết, từ vợ con đến bộ hạ của các vua, quan lớn, đồ yêu quý khi còn sống sẽ phải đem chôn sống để làm đồ dùng khi chết. Việc này ta được biết chép trong sách Tả Truyện rằng: “Đời vua Văn Công thứ 6, vua Tần Mục Công tên là Hiếu nhân chết, ba anh em họ Tứ Xa là Yểm Tục, Trọng Hành, Chàm Hổ đều bị chôn sống theo Mục Công, vì khi Mục Công còn sống yêu quý nhất ba anh em nhà họ. Người trong nước tỏ lòng thương tiếc ba anh em họ Tứ Xa là người hiền đức mới làm thơ ra Hoàng Diệu để tỏ ý than vãn mỉa mai. Trong thơ đại ý nói ba anh em họ Tứ Xa đều là người hiền đức gấp trăm nghìn lần người khác. Trời đất ơi! Sao nỡ đem chôn sống để đi theo với người tận số là Mục Công. Nếu ba trăm người như chúng tôi này được chết theo Mục Công để thế mệnh cho ba người chết hiền đức ấy, chúng tôi cũng vui lòng chết thay.”

Về sau, người ta cũng biết rằng đem người sống chôn theo với người chết là vô nhân đạo, mới chế ra người cỏ ‘Sô linh’; sau vì người cỏ không được mỹ thuật, người ta lại dùng người gỗ ‘Mộc ngẫu’ như trước. Sách Trang Tử chép rằng: “Vua Mục Vương nhà Chu (1001 TTL) có người tên là Yến Sư chế ra người cỏ để chôn theo người chết”. Đức Khổng Tử đọc đến chuyện này liền nổi lòng phẫn uất mà thống mạ rằng: “Kẻ nào sinh ta tục chôn người gỗ theo với người chết là bất nhân”. Thầy Mạnh Tử cũng ác cảm với tục ‘hình nhân thế mệnh’ mà nguyền một câu độc rằng: “Kẻ nào dùng người bù nhìn là tuyệt tự.”

Đến đời nhà Hán, giới trí thức Nho học cảm động với lời cự tuyệt thống thiết của các ngài Khổng – Mạnh trong tục lệ dùng người sống chôn theo với người chết, mới bỏ tục lệ ‘Tuẫn táng’, không dùng người sống chôn theo với người chết nữa, nhưng lại làm ra nhà mồ để cho vợ con, tôi tớ người đã chết ra để ‘ấp mộ’; còn các đồ ăn mặc hành dùng của người chết kia khi còn sống dùng những thứ gì khi chết cũng đem chôn theo hết. Ngôi nhà mồ kia muốn cho thêm oai vẻ, người ta lại đục phỗng đá, voi ngựa bài trí chung quanh phần mộ.

Đến giai đoạn này ta bắt đầu thấy nguyên nhân của tục đốt ‘vàng mã’ giấy. Đời Hán Hoa đến năm Nguyên Hưng nguyên niên (105), ông Thái Lĩnh bắt đầu lấy vỏ cây dó và giẻ rách, lưới rách đem chế ra giấy. Vì đã có giấy, ông Vương Dũ liền chế ra vàng bạc, quần áo… đều bằng đồ giấy để cúng rồi đốt đi để thay thế cho vàng bạc và đồ dùng thật trong khi tang ma, tế lễ. Sách Thông Giám Cương Mục có chép: “Vì vua Huyền Tôn, mê thuật quỷ thần mới dùng ông Vương Dũ làm quan Thái Thường Bác Sĩ để coi việc chế vàng mã dùng khi nhà vua có tế lễ”. Chúng ta có thể liệt Vương Dũ là hàng thủy tổ nghề vàng mã.

Đức Phật Thích Ca không dạy đốt vàng mã để cúng gia tiên. Ngày Rằm tháng Bảy là ngày Mục Kiền Liên cứu bà Thanh Đề. Mục Kiền Liên tu chứng được sáu phép thần thông, mắt trông thấy thân mẫu là bà Thanh Đề phải đày đọa ở địa ngục mà Ngài không sao cứu nổi, mới cầu đến Đức Phật. Đức Phật mới dạy rằng “…dầu ông có thần thông đến đâu chăng nữa cũng không có thể cứu được tội, nghiệp của thân mẫu ông, phải nhờ đến công đức tu hành của Chư Tăng mới cứu được tội nghiệp cho thân mẫu của ông được. Ngày rằm tháng bảy sắp tới đây sẽ là ngày của Chư Phật hoan hỷ, ngày của Chư Tăng hành đạo tự tứ. Ông phải chí thành sắm lễ nghi trai đàn đem dâng cúng dàng Chư Tăng. Các Ngài sẽ cầu nguyện cho thân mẫu ông được giải thoát”. Chính ý nghĩa của ngày Rằm tháng Bảy chỉ có thế thôi, không hơn không kém. Chúng ta có ai thấy Phật dạy đốt vàng mã cúng gia tiên ngày Rằm tháng Bảy!

Nguyên nhân của việc đốt vàng mã vào ngày Rằm tháng Bảy là: Triều vua Đạt Tôn nhà Đường (762), nhằm lúc Phật Giáo cực thịnh ở Trung Quốc, vị sư tên là Đạo Tăng muốn cho dân chúng vì ngày Rằm tháng Bảy mà bồng bột theo Phật Giáo, bèn lợi dụng tục đốt vàng mã của nhân dân vào tâu với vua Đạt Tôn rằng: “Rằm tháng Bảy là ngày của Diêm Vương ở Âm phủ xét tội phúc thăng trầm, nhà vua nên thông sức cho thiên hạ: Trong việc lễ cúng gia tiên vào ngày Rằm tháng Bảy nên đốt nhiều vàng mã để cúng biếu các vong nhân dùng.”

Vua Đạt Tôn đương muốn được lòng dân nên rất hợp ý với lời tâu của Đạo Tăng, liền hạ chiếu cho thiên hạ. Thế nên nhân dân Trung Quốc được dịp thi nhau đốt vàng mã vào ngày Rằm tháng Bảy để kính gia tiên; nhưng chẳng bao lâu lại bị Chư Tăng công kích, bài trừ về việc đốt vàng mã vào ngày trọng lễ của Phật Giáo, làm cái lệ ngày Rằm tháng Bảy không còn chính nghĩa nữa.

Phần lớn dân chúng Trung Hoa ngày đó hầu như tỉnh ngộ, cũng nhau bỏ tục đốt vàng mã, làm cho các nhà chuyên sinh sống về nghề làm vàng mã gần như bị thất nghiệp, nhất là Vương Luân, dòng dõi của Vương Dũ, người đã bịa đặt chế ra đồ vàng mã. Vương Luân mới bàn cùng với các bạn đồng nghiệp âm mưu phục hưng lại nghề làm vàng mã. Một người giả cách ốm mấy hôm rồi chết. Tin được loan ra, còn cái xác giả chết kia lập tức được khâm liệm vào quan tài có lỗ hổng và sẵn sàng thức ăn nước uống. Đương khi mọi người, họ mạc, làng xóm đến viếng thăm đông đúc, Vương Luân với một lũ người đích thân đem trăm thứ đồ mã, có cả hình nhân thế mệnh, sau đó bày đàn cúng các quan Thiên phủ, Địa phủ và Nhân phủ. Khi mọi người đang xuýt xoa khấn khứa, bỗng trăm nghìn mắt như một, hai năm rõ mười, thấy cỗ quan tài rung động lên! Bấy giờ Vương Luân đứng bên đó mở nắp ván quan để kẻ giả chết kia lò dò ngồi dậy, giả vờ lù đù trông trước trông sau rồi bước ra với điệu bộ như người chết sống lại, rồi thuật rõ chuyện với công chúng rằng: “Các thần thánh trong Tam phủ, Tứ phủ vừa nhận được hình nhân thế mạng cho tôi, với tiền bạc đồ mã, nên mới tha cho ba hồn bảy vía của tôi được phục sinh về nhân thế”. Hiển nhiên trăm nghìn mắt thấy tai nghe, nên công chúng đều nhận thấy là hình nhân có thể thế mạng được thực; và trong Tam phủ, Tứ phủ, cúng ăn đồ lễ vàng mã tăng phúc giảm tội và liền cho sống thêm. Từ đấy các nghề vàng mã lại được phục hưng một cách nhanh chóng, vì rằng không những linh hồn các gia tiên dùng vàng mã mà cả thiên địa quỷ thần trong Tam, Tứ phủ cũng phải tiêu dùng vàng mã nữa; và cố nhiên là vàng mã phải đắt hàng.

Người Tàu nắm quyền đô hộ Việt Nam 1.000 năm cho nên phong tục của người Tàu như thế nào, ta cũng dập khuôn đúng như vậy, bất luận hay dở, phải trái./.

Hòa Thượng TỐ LIÊN
(Nhà xuất bản Đuốc Tuệ – 1952).

THƯ VIỆN GĐPT CHÚ THÍCH THÊM VỀ TÁC GIẢ:

Hòa Thượng Thích Tố Liên là vị tôn túc đóng góp nhiều công sức trong Phong Trào Chấn Hưng Phật Giáo tại Việt Nam. Ngài sáng lập Hội Tăng Ni Chỉnh Lý Bắc Phần, tiền thân của Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt, do Ngài làm Chủ tịch (sau cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945), đồng thời đảm trách chức vụ Phó hội trưởng Hội Phật Giáo Việt Nam.

Năm 1950, Ngài (lúc bấy giờ là Thượng Tọa Thích Tố Liên) đại diện cho Phật Giáo Việt Nam tham dự Đại Hội thành lập Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới tại Colombo, Srilanca (Tích Lan) và đưa Phật Giáo Việt Nam tham gia Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới (tức Hội Phật Giáo Thế Giới) với tư cách Thành viên Sáng Lập, đồng thời Ngài được Đại Hội suy cử làm Phó hội trưởng và cũng kiêm nhiệm Chủ tịch Trung Tâm Điểm Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới Tại Việt Nam (Phật Giáo Việt Nam là trung tâm địa phương Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới).

Năm 1951, trong Đại Hội thống nhất Phật Giáo toàn quốc tại chùa Từ Đàm (Huế), Ngài là một trong những Sáng Lập Viên Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam. Lá giáo kỳ Phật Giáo Việt Nam hiện nay, do Đại Hội này biểu quyết thông qua, cũng được Thượng Tọa Tố Liên mang về từ Đại Hội Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới năm trước (1950) đã nói trên.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.