Thọ mệnh của giáo pháp Như Lai

Người Việt Nam chúng ta, do ảnh hưởng nền văn hóa Á Đông, tuổi thọ chỉ được tính khi ở tuổi tròn “Lục thập hoa giáp”, tức là nếu sinh năm Đinh Dậu – 1957, thời gian để gặp lại năm Đinh Dậu – 2017 là tròn 60 năm, tuổi âm lịch bắt đầu tính 61 (60 + 9 tháng trong thai) khác với dương lịch khi chào đời đến 12 tháng sau mới tính 1 tuổi.

Nhạc sĩ Y Vân, tác giả của bài ca bất hủ “Lòng Mẹ” đã dự báo trước cuộc đời mình bằng nhạc phẩm “60 Năm Cuộc Đời” và ông đã ra đi lúc tròn 60 tuổi. Các sự kiện lìa đời vào năm tuổi rất nhiều nhưng các hạng tuổi khác lìa đời cũng nhiều như vậy nên không có chi phải lo lắng.

Đức Thích Ca nhập diệt vào năm 80 tuổi và ông Trưởng lão Da Xá nhập diệt lúc 160 tuổi, đủ để chứng minh lời Ngài Ca Diếp quở trách Anan vốn không sai: “Tại sao khi đức Phật tuyên bố vào Niết Bàn mà ông sinh ưu não làm loạn tâm ý, sao không quỳ xuống cung thỉnh Như Lai trụ thế thêm một kiếp nữa!”. Như vậy, thời đó trung bình của một kiếp là 80 năm!

Mỗi thời nhật tụng, Phật Tử thường xuyên tụng “Phổ Hiền Thập Nguyện” là học gương của Thiện Tài Đồng Tử trong kinh Hoa Nghiêm nhất tâm tu hành theo hạnh Phổ Hiền. Trong lời nguyện thứ bảy có câu: “Thất giả thỉnh Phật trụ thế”, phải thuộc nằm lòng để ghi nhớ không quên. Khi vị Tông Sư của chúng ta ngỏ ý muốn vào diệt độ, hoặc có những hiện tượng chứng tỏ sắp ly trần thì tất cả đồ chúng, môn sinh phải tâm thành khẩn thiết cung thỉnh quý Ngài tiếp tục trụ thế làm ngọn hải đăng soi đường, làm tàng bồ đề che mát, làm chỗ nương tựa cho hàng hậu thế hành đạo, hoằng pháp… do nhân duyên thứ bảy được tạo bởi một sự cộng hưởng từ đức tin rất mạnh mẽ và rộng lớn nên vị Tông Sư sẽ hứa khả tiếp tục trụ thế hóa độ chúng sinh. Hiện tượng kỳ duyên này gần đây đã diễn ra nơi Đạo Tràng Trúc Lâm (Hòa Thượng Trúc Lâm gần 100 tuổi); Đạo Tràng Làng Mai (Thiền Sư Nhất Hạnh trên 90 tuổi)…

Khi vị Tông Sư đã tiếp tục trụ thế thì các vị đại đệ tử phải thực hiện lời nguyện thứ sáu là: “Lục giả thỉnh chuyển pháp luân”, nhưng cũng phải nhớ rằng tột đỉnh của Bất Nhị Pháp Môn là sự yên lặng, là đường ngôn ngữ dứt, là tâm hành xứ diệt, không phải cứ thuyết pháp hay mới là dạy dỗ bằng ngôn từ, mới là giáo hóa đồ chúng!

Cũng trong kinh Hoa Nghiêm, Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi quay đầu ngoái nhìn trong tư thế của một con voi chúa, Ngài Xá Lợi Phất và 6.000 vị Tỳ-khưu chứng thành đạo quả; lần thứ nhì, Văn Thù Sư Lợi ngoài lại nhìn Thiện Tài Đồng Tử cùng 500 vị đồng tử khác như tư thế của một con voi chúa. Thiện Tài Đồng Tử cùng 500 vị đồng tử đồng chứng đắc căn bản trí… Từ đây Thiện Tài phát bồ đề tâm lên đường trải qua 100 thành cầu học nơi 50 vị thiện hữu tri thức và 3 vị Bồ-tát để đạt dược sự yên lặng “Tự tịnh kỳ ý” của thức thứ sáu, tiến đến lầu các Tỳ Lô Giá Na thể nhập Pháp Thân thành Chánh Đẳng Giác…

Chỉ một đoạn kinh mang ý nghĩa thâm sâu mà huyền nghĩa trải đền tận chân trời. Chúng ta thử hình dung khi con voi đầu đàn quay đầu nhìn lại thì cần phải di chuyển cả thân hình và thay đổi cả đội hình di chuyển của đàn voi. Cái ngoái nhìn của Văn Thù Sư Lợi được ví như:

“Sư tử tần thân phương thảo lục
Tượng vương hồi cố lạc hoa hồng”

(Sư tử vươn mình xanh rợp cỏ
Chúa tượng ngoái nhìn thắm hoa hồng).

Một vùng trời mênh mông vô tận đủ đầy các mỹ vị hỷ lạc không còn bóng dáng của phiền não tam đồ. Khi Văn Thù như tư thế voi chúa quay nhìn lần thứ nhất, Ngài Xá Lợi Phất cùng 6.000 Tỳ-khưu (Căn + Trần + Thức) đồng chứng đạo; khi Văn Thù trong tư thế voi chúa quay nhìn Thiện Tài cùng 500 Đồng Tử (5 Uẩn) đồng đắc Căn Bản Trí, tức là khởi phát Tâm Bồ Đề lên đường cầu học thêm các pháp môn để thành đạt thức thứ sáu là “Tự tịnh kỳ ý” mà chứng đạo. Hai cách chứng khác nhau để Phật Tử nghiệm thấy chúng ta cần phải trải qua bách thành để cầu học mà tu hành. Qua đoạn kinh văn không có lời thoại này đều diễn ra trong… yên lặng.

Đức Đệ Nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết sinh thời có câu: “Xưa ta dạy các con bằng lời, nay ta dạy các con bằng.. yên lặng”.

Yên lặng như khi Đức Thế Tôn giơ cành hoa sen lên, chỉ có Ma Ha Ca Diếp mỉm cười. Thế mà Đức Phật nói: “Ta nay đem chánh pháp nhãn tạng, niết bàn diệu tâm (pháp vô pháp) phó chúc cho ông:

Pháp bổn pháp vô pháp
Vô pháp pháp diệc pháp
Kim phó vô pháp thời
Pháp pháp hà tằng pháp”.

Riêng Tổ Ca Diếp sau khi trao truyền y bát Phật cho Tổ A Nan liền tuyên bố đi vào Kê Túc Sơn nhập định cho đến khi Đức Phật Di Lặc ra đời. Đến lúc đó tuổi thọ của Tổ Ma Ha Ca Diếp phải là trên 2.600 hay lâu hơn nữa! Ngài sẽ bước ra khỏi núi Kê Túc để xác nhận chính đây là Đức Từ Thị Di Lặc đã thành Phật chánh đẳng, chánh giác.

Xem ra, thọ mệnh của Tổ Ca Diếp có thể sánh bằng thọ mệnh của giáo pháp của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Điếu này đã thể hiện ra tướng hai bên trái tai rộng dài, một trong 32 hảo tướng của Đức Phật, biểu thị tuổi thọ của chánh pháp.

Suốt 26 thế kỷ sau, với lời thọ ký của Phật Thích Ca cho Ngài A Dật Đa Bồ-tát sẽ thành Phật kế tiếp với hồng danh Di Lặc Tôn Phật để các hàng Phật Tử nhiều đời kiếp đặt trọn một niềm tin nơi lời phú chúc quý báu ấy mà mỗi độ Xuân về, trong đêm trừ tịch, Phật Tử khắp nơi nơi đều chắp tay cung thỉnh Phật Di Lặc ra đời, sẽ bày khai một đại hội Long Hoa diễm tuyệt. Thường các vị Phật “Nhất sanh bổ xứ” tương lai sẽ ngự trên cung trời Đâu Suất, giống như Hộ Minh bồ tát đản sinh xuống Lâm Tỳ Ni vậy!

Ngài Di Lặc đã có vài lần hay nhiều lần thể nhập thế gian trong các hình tướng và sự kiện khác nhau. Ở thế kỷ thứ IV, vua Ca Nị Sắc Ca mong muốn có một hình tượng của Phật Thích Ca cho đúng để thờ phượng, ông thành tâm cầu nguyện. Một hôm, có chàng trai khoảng 17, 18 tuổi tuấn tú, thanh tao đến xin phác họa và trình bày các đường nét về tôn tượng Đức Thích Ca theo tổ tiên của anh ta kể lại. Nhà vua thấy bản vẽ rất từ bi, uy nghiêm nên rất mừng và cho tô đắp tượng Phật theo thiết kế – khi sắp hoàn thành thì chàng trai kia không đến nữa, nhà vua mới cho người đi tìm khắp nơi. Một đêm, vua nằm mộng thấy chàng trai kia xuất hiện và tự xưng là A Dật Đa Bồ-tát đang ở cung trời Đâu Suất, vì nghe thấy ước mong của vua là lợi ích cho chúng sanh đời sau nên ứng hiện xuống trần mà giúp vua vậy. Tượng Phật ấy chính là ngôi tượng Thành Đạo tôn trí trong bảo tháp nơi Bồ Đề Đạo Tràng, Ấn Độ.

Một câu chuyện xảy ra tại Trung Hoa là Bố Đại Bồ-tát thời nhà Lương:

Tính tình của Sư rất “ngược đời”, được cho là theo tinh thần Thiền Tông. Trả lời câu hỏi già trẻ bao nhiêu, Sư nói “già như hư không”. Giữa chợ, có người hỏi tìm gì, “ta tìm con người”, Sư trả lời. Một hôm có vị Tăng đi phía trước, Sư liền vỗ vai ông ta nói: “Cho tôi xin một đồng tiền”, vị Tăng bảo: “Nói được thì tôi cho ông một đồng tiền”, Sư liền bỏ bao xuống đất đứng im lặng khoanh tay.

Sư có nhiều thần thông, ngủ ngoài tuyết, tuyết không rơi vào mình. Trước khi tịch, Sư ngâm câu kệ:

彌勒真彌勒
分身千百億
時時示時人
時人自不識

Di-lặc, Chân Di-lặc
Phân thân thiên bách ức
Thời thời thị thời nhân
Thời nhân tự bất thức.

(Di-lặc, chân Di-lặc
Phân thân trăm ngàn ức
Luôn luôn bảo người đời
Người đời tự chẳng biết).

Sau khi chết, có người vẫn thấy Sư ở nơi khác tại Trung Quốc. Người đời sau vẽ lại hình Sư mập tròn miệng luôn nở nụ cười đi đâu cũng vác cái bao bự và từ đó tạo ra hình Bồ Tát Di Lặc như chúng ta hay sử dụng để gọi tôn hiệu “ Di Lặc tương lai”.

Thời trẻ tuổi, Thiền Sư Làng Mai trước đau thương thống khổ của quê hương khoảng nửa thế kỷ trước đã dệt nên vần thơ bắt nguồn từ niềm tin “Di Lặc thị hiện mở hội Long Hoa”, xin thay cho lời kết:

Nhưng đêm nay
Từ địa cầu quê hương tôi
Loài người mắt lệ rưng rưng
Hướng cả về mấy từng trời Đâu Suất
Tiếng kêu khóc của sinh linh ngã gục
Dưới bàn tay ma vương
Dưới bàn tay bạo lực căm thù
Trong bóng đêm
Địa cầu quê hương tôi đã mòn mỏi trông chờ
Giờ mầu nhiệm để Vô Biên hé mở
Cho bóng tối tan đi với niềm lo sợ
Cho hội Long Hoa về
Để pháp âm tiếp nối bằng lời ca tiếng hát em thơ.

ĐỨC QUẢNG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.