Trại Huyền Trang: Huynh Trưởng với Quê hương

HUYNH TRƯỞNG VỚI QUÊ HƯƠNG

(Theo tài liệu cập nhật hiện hành của Ban Hướng Dẫn Trung Ương GĐPTVN)

oOo

A/ DẪN NHẬP:

Quê hương, tiếng gọi thân thương đi vào lòng các thế hệ con Lạc cháu Hồng, trở nên niềm tự hào với hai tiếng “Đồng bào” mang đậm chất yêu thương của một dân tộc trọng tình. Quê hương với những ký ức ngọt ngào, thấm đẫm trong từng hơi thở, sự sống của những đứa con Tiên Rồng, đi đâu cũng tự hào về quê hương mình, làm gì cũng giữ cho kỳ được dưỡng chất truyền thống quê hương mà vững vàng đi qua những tháng ngày gian khó với tâm nguyện không quên cội nguồn. Một câu hỏi tự bao đời: “Quê hương là gì hở mẹ?”, mỗi người có một câu trả lời riêng, nhưng tất cả đều thấy ngọt ngào, hạnh phúc; nhắm mắt lại là thấy quê hương hiện về trong từng dấu ấn khó nhạt nhòa.

Người Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử Việt Nam (GĐPTVN) đi đâu cũng mang theo hành trang quê hương. Một đóa sen quê mình trở thành biểu tượng thiêng liêng ngự trị nơi trái tim Lam; một làn khói hương nhuộm vào khắp châu thân; một tinh thần giáo dục: Nhân bản, Dân tộc, Khai phóng được un đúc qua nhiều thế hệ; một mục đích cao quý hướng đến xây dựng quê hương bằng Phật chất từ mỗi người Phật tử chân chánh.

B/ NGƯỜI HUYNH TRƯỞNG:

Nếu đề cập đến “Người Huynh Trưởng” thì Trại sinh đã có quá nhiều cơ duyên được huân tập về ‘Bổn phận – Trách nhiệm’ hay Chân dung người Huynh Trưởng GĐPTVN’ qua các đề tài tu học, huấn luyện từ Bậc Kiên, Trại Lộc Uyển đến hôm nay. Trong phạm vi đề tài “Huynh Trưởng Với Quê Hương” không tiếp tục khắc họa hình ảnh “Người Huynh Trưởng” mà chỉ xin khuyến tấn những Liên Đoàn trưởng tương lai luôn tâm niệm:

– Người Huynh Trưởng là người hướng dẫn đàn em trong ngôi nhà Phật pháp với đời sống của tình Lam nên luôn hướng dẫn bằng Chánh pháp.

– Người Huynh Trưởng là người hướng dẫn đàn em trong ngôi nhà Phật pháp với đời sống tình Lam nên luôn hướng dẫn bằng Thân giáo – Đời sống thực hành Chánh pháp.

– Người Huynh Trưởng là người hướng dẫn đàn em trong ngôi nhà Phật pháp với đời sống tình Lam nên luôn hướng dẫn đúng mục đích của GĐPTVN. Đây cũng là sứ mệnh của Tổ chức, của Huynh Trưởng chúng ta.

C/ QUÊ HƯƠNG:

1. Khái niệm Quê Hương:

Hai chữ quê hương rất thân thương, chảy mãi trong tự tình của dân tộc Việt Nam; trở thành máu, thành xương, thành hơi thở, thành sự sống của tất cả người con dân có hơn 4.000 năm Văn hiến nơi dãy đất hình chữ S này.

Nhiều khái niệm được đặt ra để giải thích hai chữ quê hương. Ngôn ngữ diễn đạt có thể khác nhưng ý nghĩa thì chỉ có một, đó là trái tim của những đứa con thương mẹ – Mẹ Việt Nam.

Trong phạm vi giới hạn của đề tài, chúng ta tìm hiểu hai chữ Quê Hương qua diễn đạt của tác giả Viên Như: Hai chữ Quê Hương không phải là vùng đất mà mình sinh ra, mà là nơi đầu tiên có mặt, đó là Cha Mẹ và xa hơn nữa chính là Tổ tiên. Chính vì vậy, tuy không hiểu một cách cụ thể về nguồn gốc của con chữ này, nhưng đối với người Việt, hai từ Quê hương là vô cùng thân thiết, thân thiết đến nỗi ai không biết quê hương mình ở đâu xem như lạc lỏng trong cuộc đời này. Vì thế mới nói “quê hương là nơi chôn nhau cắt rốn”. Nhau là ở trong bụng mẹ. Rốn là nguồn sống mẹ nuôi con thuở mang bầu. Cắt ra thành một cá thể riêng nhưng mình từ đâu mà có?!

Điều này để chúng ta đừng nhầm lẫn, dù người mẹ Việt Nam sinh con ở Mỹ, Pháp, Đức…, thì đứa con đó có quê hương là Việt Nam chứ không phải là nơi được sinh ra. Bởi đứa trẻ là một sự sống tiếp nối từ các tế bào của Cha Mẹ, Tổ tiên.

2. Gia tài của quê hương Việt Nam:

Chúng ta nghe lại lời ‘Bình Ngô đại cáo’ của tác giả Nguyễn Trãi để hiểu được gia tài mà cha ông để lại cho các thế hệ con cháu tiếp nối nơi quê hương Việt Nam:

… “Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền Văn hiến đã lâu,
Núi sông bờ cỏi đã chia,
Phong tục Bắc – Nam cũng khác;
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương;
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có”…

2.1. Truyền thống Nhân Nghĩa:

Phẩm tính cao quý nhất của dân tộc ta là việc nhân nghĩa, hướng con người đến một đời sống cộng đồng yêu thương, hình thành nên tình cảm gia đình, tình làng nghĩa xóm, tình yêu quê hương. Bất cứ mối tương quan nào giữa con người với con người trong cuộc sống, trong công việc thì người Việt Nam luôn xây dựng bằng TÌNH, bằng NGHĨA nên từ đó tạo lập nên: tình nghĩa vợ chồng, tình nghĩa thầy trò, tình bằng hữu, tình đồng nghiệp, tình đồng bào… Một khi đứng vào vị trí lãnh đạo đất nước thì ông cha ta cũng nhắc nhở các thế hệ con cháu sống bằng tình, làm giữ tình, hành xử không thiếu tình, mà đỉnh cao là “Yên dân – Trừ bạo”. Để đạt đến đỉnh cao này thì không thể thiếu đi tinh thần “Nhân nghĩa”, “Trọng tình”.

2.2. Nền Văn Hiến:

Gia tài mà cha ông lưu lại cho các thế hệ con cháu là “nền Văn Hiến” với hơn 4.000 năm vun đắp. Đó là:

  • Truyền thống cội nguồn với tiếng gọi ‘Đồng bào’ với ‘con Rồng cháu Tiên’, là nguồn yêu thương xả kỷ được vun đắp bằng: ‘Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn’.
  • Truyền thống lịch sử dựng nước, giữ nước của các thế hệ Lạc Hồng, làm nên dòng sử Việt oai hùng với niềm tự hào: ‘Nực cười châu chấu đá xe. Tưởng đâu chấu ngã ai dè xe nghiêng’.
  • Truyền thống hiếu đạo qua tâm niệm nhớ ơn: ‘Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây’. Hình ảnh ngôi ‘Đình làng’ tưởng niệm công đức các bậc Tiền hiền, Hậu hiền; tinh thần thờ cúng Tổ tiên, tế tự trong các dịp rằm ngươn, lễ tiết…, thể hiện trọn vẹn tinh thần nhớ ơn và đền ơn.
  • Nền văn học dân gian đã dưỡng nuôi các thế hệ Việt Nam từ trong bào thai, trong những ngày nằm nôi đến hết cả cuộc đời “cũng chưa đi hết những lời Mẹ ru”. Ai trong chúng ta cũng lớn lên từ ca dao, tục ngữ,…
  • Thuần phong mỹ tục: là nét đẹp của quê hương mình, từ ngôn ngữ, chữ viết đến phong tục vùng miền, hiếu hỷ, lễ hội…, đều mang đậm nét đẹp nhân văn của một dân tộc có nền Văn hiến lâu đời.
  • Biểu hiện Văn hiến của dân tộc qua đời sống của từng cá nhân với những bài học đạo đức, luân lý giản đơn nhưng sâu sắc như: ‘Đi thưa về trình’, ‘Ăn trông nồi ngồi trông hướng’, ‘Tốt gỗ hơn tốt nước sơn,…

2.3. Bờ cõi non sông:

Từ thuở Hùng Vương dựng nước cho đến nay, chư tiền nhân đã gìn giữ và phát triển mãnh đất hình chữ S này với đầy đủ cương vực “núi sông bờ cõi đã chia”. Vùng biển, vùng trời, từng tấc đất quê hương thấm đậm máu xương tiền nhân xả thân vì đại nghĩa Dân tộc.

Có những Anh hùng Dân tộc, những Bồ-tát quê hương mang tinh thần yêu thương mà xả thân vì sự trường tồn, độc lập, tự chủ của đất nước. Gương hạnh của những nữ nhi như Công chúa Huyền Trân, Công nữ Ngọc Vạn (Nguyễn Phúc Ngọc Vạn – TVGĐPT) đã dấn thân tạo nên những nhân duyên mở rộng nước non nhà.

Non sông Việt Nam độc lập, tự cường, bất khuất qua tuyên ngôn của Dũng tướng Lý Thường Kiệt:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.

Bờ cõi non sông Việt Nam là ký ức của những lũy tre làng, là con đò quê hương, là chùm khế ngọt, chuối ba hương, mái đình làng rêu phong, đồng ruộng bạt ngàn xanh mướt, bụi chuối sau hè thơm ngọt những lời ru. Ngày nay xa quê ai cũng nhớ về, người Việt khắp năm châu khi có dịp đều tái hiện hình ảnh non sông gấm vóc.

2.4. Con người Việt Nam:

Từ phẩm tính cao quý của Dân tộc, tinh ba hồn thiêng sông núi đã un đúc nên những con người Việt Nam mang trái tim yêu thương, biết sống cho cái chung, nuôi lớn cái tình.

Người Việt Nam anh hùng, với những đứa con gái, con trai của Mẹ Việt Nam nêu gương sử sách vàng son, làm nên chiến thắng chống Tống bình Chiêm, đuổi quân Nguyên – Mông ra khỏi bờ cõi…, dòng sông Hát, trận Bạch Đằng, tuyến Như Nguyệt…, làm nên niềm tự hào về con người Việt Nam.

Người Việt Nam thông minh, cần cù, chịu khó, nhẫn hòa…, nên đến đâu cũng được người thương, có những thành tựu góp phần cho nhân loại.

Người Việt Nam trọng nghĩa khinh tài nên sẵn sàng ra tay vì nghĩa nhân nhưng chẳng cần danh lợi, báo đáp.

Con người Việt Nam không vong ân bội nghĩa, sống có trước có sau trở thành phẩm tính: hiếu đạo, thủy chung…

D/ ĐẠO PHẬT VÀ DÒNG SỮ VIỆT:

Phật giáo có mặt tại quê hương Việt Nam trong những tháng ngày dựng nước, tạo nên nền đạo Phật Việt, duyên quê mối đạo quyện chặt vào nhau để Phật chất luân chuyển trong đời sống Dân tộc. Từ thuở Ngài Khương Tăng Hội mang hạt giống Bồ-đề gieo rắc tại Việt Nam, Ngài đã truyền bá Kinh An Ban Thủ Y, hơi thở Phật đã trở thành sự sống của dòng giống Tiên Rồng.

Giáo lý Phật-đà đã đi vào trong văn chương bình dân, đến gần và là phần đời sống của mọi người, trở thành những bài học dạy khuyên các thế hệ con cháu:

  • Về đạo lý Nhân Quả, người xưa dạy: ‘Ở hiền gặp lành’, ‘Gieo nhân nào gặt quả nấy’,…
  • Người xưa đã hướng dẫn các thế hệ tiếp nối thâm nhập giáo lý Duyên Khởi bằng: ‘Ai ơi bưng bát cơm đầy, dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần’.
  • Tinh thần hiếu tâm, hiếu hạnh của Phật giáo đến với mọi người rất gần gũi qua kho tàng văn chương bình dân với những lời nhắn gởi: ‘Những người phụ nghĩa quên công, dù mang trăm cánh hoa hồng chẳng thơm’.
  • Hình ảnh ông Bụt cứu khổ chúng sanh là một hiện thân của Đức Phật đi vào cuộc đời cứu khổ độ mê. Ngôi chùa đã trở thành một phần của quê hương, là nỗi nhớ của những ai xa xứ, là tiếng lòng của người Việt Nam:
    “Mái chùa che chở hồn Dân tộc
    Nếp sống muôn đời của Tổ tông”.

“… Ngay từ buổi bình minh tự chủ của dân tộc, đạo Phật đã có những mối duyên liên hệ thắm thiết đến sự tồn vong của dòng sinh mệnh Việt Nam: Dân tộc Việt Nam, về nhân chủng, có nguồn gốc Mélanesien và Indonesien cùng với các nước Đông Nam Á láng giềng và trực tiếp thu nhận tinh hoa đạo Phật vốn có chung một truyền thống sinh hoạt văn hóa ‘nông nghiệp thảo mộc’, – Một nền ‘Văn hóa Nhân Bản’ bao dung, trí tuệ và khai phóng, đượm sắc thái hiếu sinh, hiếu hòa và giải thoát…” (Lời nói đầu ‘Đạo Phật và Dòng Sử Việt’, Thích Đức Nhuận – TVGĐPT).

E/ HUYNH TRƯỞNG VỚI QUÊ HƯƠNG:

Người Huynh Trưởng với quê hương gắn bó trong cùng một dòng sinh mệnh, vì vậy người Huynh Trưởng phải hòa quyện với quê hương, phát lập tâm nguyện góp phần xây dựng quê hương bằng tinh thần:

1. Xây dựng quê hương bằng nhận thức tương ưng Y Báo – Chánh Báo:

Trong tinh thần của người học Phật, y – chánh trang nghiêm là một phạm trù mà chúng ta cần quan tâm. Bản thân con người là một bộ phận của xã hội và không thể tách rời xã hội mặc dù chính con người là chủ thể của xã hội. Trong mối liên hệ với quê hương, người Huynh Trưởng xây dựng tròn đầy đạo đức bên trong và tác phong bên ngoài chính là tự thân làm viên mãn chánh báo. Khi đến cấp độ một Huynh Trưởng dự Trại Huyền Trang, sứ mệnh với quê hương càng nặng hơn, việc xây dựng quê hương trong sáng và tươi đẹp chính là làm tròn đầy y báo. Vì vậy, xây dựng quê hương là trách nhiệm mà người Huynh Trưởng Huyền Trang cần phải thành toàn.

2. Xây dựng quê hương bằng Giáo Pháp Đức Thế Tôn:

“Đạo Phật về mặt tùy duyên thiệt có quốc gia, có xứ sở nhưng thiệt rất có ích cho quốc gia và xứ sở” .Chính vì hàm chứa đầy đủ dân tộc tính nên Phật giáo cổ vũ tích cực cho tinh thần Dân tộc được nâng cao và hội tụ đầy đủ các giá trị cần thiết của thời đại. Do đó, một lần nữa tái khẳng định, người Phật tử không thể tách rời trách nhiệm với quê hương. Người Huynh Trưởng GĐPTVN cần lấy tinh thần Nhân duyên, Nhân quả, Tri ân Báo ân như pháp mà Đức Thế Tôn tuyên thuyết để góp phần xây dựng quê hương.

3. Bảo tồn truyền thống Văn Hóa, Di Sản Của Dân Tộc:

Người Huynh Trưởng cần phải chủ động và tích cực cổ vũ cho tinh thần Dân tộc Việt trong giai đoạn hiện nay. Giữa muôn vàn tư tưởng du nhập và ảnh hưởng đến người dân Việt, việc nêu cao nhận thức về dân tộc tính, ý thức về truyền thống dân tộc, di sản tiền nhân cần bảo vệ để mỗi cá nhân tự xác quyết con đường lý tưởng phục vụ cho lợi ích chung nhất của quê hương là rất cần thiết. Cổ vũ cho tinh thần dân tộc, bảo vệ nền đức lý của dân tộc là một trong những nhiệm vụ cần thực hiện cấp thời.

4. Phụng sự quê hương bằng lập trường Trung Đạo:

Sự cực đoan quá khích hay hời hợt vô tâm trước sự an nguy của Dân tộc đều là những thái độ cần tránh và không nên duy trì. Người con Phật lấy tinh thần “Tùy duyên bất biến” mà đi vào đời phụng sự quê hương.

Mỗi Huynh Trưởng khi đi đến giai kỳ hiện tại đều đã ít nhất một lần suy tư về vận mệnh quê hương. Và để góp phần xây dựng quê hương, mỗi chúng ta đều phải biết “tùy duyên” để thành tựu những đại sự mà người Phật tử phải thực thi, phục vụ lợi ích thiết thực của Dân tộc và Đạo pháp. Tuy nhiên, cũng phải biết những vấn đề thuộc cốt tủy của Dân tộc, không bao giờ được phép đánh đổi, vì chúng ta cần phải giữ gìn cái hồn của quê hương.

Đức Phật dạy, người đệ tử Phật chân chính phải biết: “dựng đứng lại những gì đã bị quăng xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào ở bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc.”

5. Góp phần phụng sự Dân tộc bằng tinh thần Bố Thí Nhiếp:

Người đệ tử Phật mang tinh thần Tài thí, Pháp thí, Vô Úy thí mà phụng sự Dân tộc. Bằng tinh thần Chánh mạng, Chánh nghiệp chúng ta góp phần phát triển kinh tế, giáo dục, an sinh xã hội của Dân tộc bằng tâm hạnh của người thực hành Bồ-tát đạo.

F/ KẾT LUẬN:

Có câu hỏi đặt ra: Gia Đình Phật Tử Việt Nam đã làm gì cho quê hương? Với tâm nguyện xả kỷ lợi tha, GĐPTVN từng ngày xây dựng quê hương bằng tinh thần Bi – Trí – Dũng và Mục đích cao đẹp (Mục đích GĐPTVN}.

Phải nhìn nhận rằng từ trong tình yêu quê hương, tinh thần tự cường mà hình thành nên nguyên lý giáo dục với nền tảng Bi – Trí – Dũng. Phải biết trang bị lòng yêu thương Quê hương, Dân tộc, huân tập tinh thần phụng sự Đạo pháp. Tất cả những điều này không phải là những bài học lý thuyết giấy trắng mực đen, mà lại được thổi lồng trong tất cả mỗi bài hát, mỗi mẫu chuyện và cả trong những mạn đàm tỉ tê của nhiều thế hệ. Giáo dục GĐPTVN được xây dựng từ những điều đơn giản nhất, trong những hành động nhỏ nhất thường ngày… Nói tóm lại, tất cả nền giáo dục GĐPTVN đều hướng Lam Viên đến việc nhận chân đúng cái hay cái đẹp và có ý thức bảo tồn văn hoá dân tộc, không đua đòi vọng ngoại.

Trong không khí chiến loạn của thế kỷ trước, cùng với mùi thuốc súng của một thời ly loạn là mùi thuốc phiện ở chốn thị thành với nếp sống tha hóa trụy lạc. Văn hóa dân tộc, đạo đức và tư cách con người suy đồi đến mức không thể nhìn ra một nước Việt với hàng ngàn năm văn hiến. Tuổi trẻ bơ vơ không định hướng, lạc lỏng ngay trên quê hương mình. GĐPTVN ra đời trong bản nguyện độ sanh của Tăng-già với mục đích “Đào luyện thanh thiếu đồng niên thành Phật tử chân chánh. Góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo”. Từ đó, tuổi trẻ Việt Nam trưởng thành trong Chánh pháp, trong lòng Dân tộc, dốc lòng thực hiện y báo, chánh báo trang nghiêm, thực hiện tinh thần Phật hóa trong đời sống.

Ngày nay, dù xã hội có tối tân, nhưng nguy cơ xâm thực của văn hóa độc đại cũng vô cùng nguy hiểm và tàn khốc, GĐPTVN vẫn âm thầm từng ngày phụng sự với mục đích cao đẹp.

Thành quả, công trạng không là nhu cầu để quảng bá Tổ chức. Sự tồn tại của GĐPTVN đến hôm nay là một thực thể, đó là minh chứng cho những giá trị mà GĐPTVN đã góp phần để có cơ duyên tồn tại đến gần 1 thế kỷ.

Lam Viên GĐPTVN nguyện vui với tinh thần phụng sự bằng chí nguyện “tỏa hương thơm từ bi tận cùng”.

Nguồn: Tài liệu hiện hành Trại huấn luyện Huynh Trưởng cấp II Huyền Trang – Ban Hướng Dẫn Trung Ương GĐPTVN.

Tra cứu chương trình Trại Huấn Luyện Huynh Trưởng GĐPTVN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.