
Ngày mùng Mười tháng Ba âm lịch hằng năm được đồng bào toàn quốc long trọng kỷ niệm, dân gian gọi bình dị là “Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương”. Ngày đó là ngày Quốc giỗ và là ngày lễ lớn khi cả dân tộc hướng về nguồn, tưởng nhớ các vua Hùng. Thường niên cứ đến dịp này, đồng bào khắp nơi lại nô nức “về nguồn”, tụ hội ở Đền Hùng, tưởng niệm Tổ tiên chung của cả Dân tộc.
Đền Hùng có tên chữ là Hùng Vương Miếu – tên gọi khái quát chỉ cho cả quần thể đền chùa miếu mạo thờ phụng các đời vua Hùng Vương và tôn thất của nhà vua – xưa tọa lạc ở núi Nghĩa Lĩnh thuộc xã Hy Cương, phủ Lâm Thao, sau này là huyện Sơn Vi, tỉnh Phú Thọ.

Thế nhưng, đã có bao giờ bạn thắc mắc: Ngày giỗ Tổ Hùng Vương có từ bao giờ? Và tại sao đồng bào chúng ta lại chọn ngày 10 tháng 3 làm ngày giỗ Tổ?
Theo Giáo sư sử học Lê Văn Lan, câu ca dao “Dù ai đi ngược về xuôi, nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba” nằm trong một bài ca gồm 4 câu:
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba.
Khắp miền truyền mãi câu ca
Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm”.
Đó là một bài ca mà từ cú pháp đến thi pháp đều khá mới mẻ. Đặc biệt, ý tứ của câu cuối cùng khá gần gũi với những sáng tác trong phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX, thường dùng chủ đề Hùng Vương và Đền Hùng để cổ vũ niềm tin vào vận mệnh non sông, chẳng hạn như những câu đối của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu:
“Có tổ có tông, có tông có tổ, tổ tổ tông tông, tông tổ cũ
Còn non còn nước, còn nước còn non, non non nước nước, nước non nhà”.
Hoặc như của Vũ Đình Khôi:
“Cháu chắt còn, tông tổ hãy còn, nòi giống nhà ta sinh sản mãi
Nắng mưa thế, miếu lăng vẫn thế, non sông đất nước vững bền lâu”.

Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba.
Khi tìm trong văn bản cổ, không thấy có sự chỉ định hoặc xác nhận nào về việc mở hội đền Hùng – giỗ Tổ Hùng Vương vào ngày mùng Mười tháng Ba cả.
Xem xét các bia ký, đặc biệt là hai tấm bia ở đền Thượng trên núi Hùng, sự thực về lịch sử ngày giỗ Tổ mùng Mười tháng Ba mới vỡ lẽ ra như sau:
Tấm “Hùng Miếu Điển Lệ Bi” do Hội Đồng Kỷ Niệm tỉnh Phú Thọ lập năm Khải Định thứ 8 (1923) có hai phần: Phần thứ nhất, chép lại công văn của Bộ Lễ triều Nguyễn, ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ nhất (1917) gửi các vị ở Phủ Viện Đường Đại Nhân tỉnh Phú Thọ cùng nhau tuân thủ điều sau đây:
“Xã Hy Cương, phủ Lâm Thao có miếu lăng phụng thờ Hùng Vương ở núi Hùng, trải các năm, cả nước đến tế, thường lấy kỳ mùa thu, chọn vào ngày tốt làm lễ, chưa có việc định rõ ngày, mà tục lệ của dân xã đó lấy ngày mười một tháng ba, kết hợp với thờ Thổ Kỳ, làm lễ riêng… (Sự thể này dẫn tới chỗ) thường hứng bất kỳ, hội họp cũng lãng phí theo sở thích, còn lòng thành thì bị kém đi… (Vì thế) cẩn thận định lại rằng, từ nay về sau, lấy ngày mồng mười tháng ba, lĩnh tiền chi vào việc công, phụng mệnh kính tế trước một ngày so với ngày hội tế của bản hạt, khiến nhân sĩ mọi miền đến đây có nơi chiêm bái…”
Phần thứ hai của văn bia “Hùng Miếu Điển Lệ Bi” dành cho việc quy định “Đệ niên kỷ niệm hội nhật lễ nghi” (Nghi lễ ngày hội kỷ niệm hằng năm) với những câu như sau:“Nay phụng mệnh theo Bộ Lễ, chuẩn định ngày quốc tế tại miếu tổ Hùng Vương là ngày mồng mười tháng ba. Chiều ngày mồng chín tháng ba hằng năm, các quan liệt hiến trong tỉnh cùng các quan viên trong cả phủ huyện của tỉnh đều phải mặc phẩm phục, tề tựu túc trực tại nhà công quán. Sáng hôm sau, tới miếu kính tế…”

Như vậy, đến đây có thể nhận ra: Hội lễ giỗ Tổ Hùng Vương, từ xa xưa chọn nhật kỳ tiến hành vào mùa Thu, là mùa tổ chức các hội lễ có lịch sử cổ xưa hơn các hội lễ mùa Xuân. Đến năm 1917 mới có quy định chính thức của triều Nguyễn (đời vua Khải Định) lấy ngày mùng Mười tháng Ba hàng năm làm ngày “quốc tế” (quốc lễ, quốc giỗ — tế = tế lễ).
Điều này được tấm bia “Hùng Vương Từ Khảo” do Tham tri Bùi Ngọc Hoàn, Tuần phủ tỉnh Phú Thọ lập năm Bảo Đại thứ 15 (1940) cũng đang đặt ở đền Thượng trên núi Hùng xác nhận: “Trước đây, ngày quốc tế lấy vào mùa thu làm định kỳ. Đến năm Khải Định thứ hai (dương lịch là năm 1917), Tuần phủ Phú Thọ (là) Lê Trung Ngọc có công văn xin Bộ Lễ ấn định ngày mồng mười tháng ba hằng năm làm ngày quốc tế, tức trước ngày giỗ Tổ Hùng Vương đời thứ 18 một ngày. Còn ngày giỗ (11 tháng 3) do dân sở tại làm lễ”.
Tóm lại, ngày giỗ Quốc tổ Hùng Vương vốn đã có từ xưa, nhưng chuẩn định bằng văn bản chính thức, định kỳ lấy ngày mùng Mười tháng Ba làm ngày giỗ Tổ thống nhất cho tỉnh Phú Thọ nói riêng, toàn quốc nói chung chỉ bắt đầu từ năm 1917. Tuy nhiên, với tuổi gần trăm năm, với tinh thần kế thừa truyền thống uống nước nhớ nguồn, nhất là ý thức “Về nguồn – Chung cội” được tăng cường mạnh mẽ trong điều kiện lịch sử cận đại và hiện đại, “Giỗ Tổ” mùng Mười tháng Ba đã trở thành một ngày Quốc lễ, một ngày thiêng liêng trọng đại đối với cả dân tộc Việt dù ở bất cứ nơi đâu.

Ngày giỗ Quốc Tổ năm Nhâm Thìn – 2012
QUANG MAI sưu tầm