
Ý NGHĨA BA THÁNG AN CƯ & NGÀY TỰ TỨ
Tỳ-kheo Thích Trí Thủ
oOo
Theo thời tiết ở Ấn Độ, một năm chia ra làm ba mùa: Xuân, Hạ và Đông, mỗi mùa bốn tháng. Từ Rằm tháng Chạp đến Rằm tháng Tư là mùa Xuân. Từ Rằm tháng Tư đến Rằm tháng Tám là mùa Hạ. Từ Rằm tháng Tám đến Rằm tháng Chạp là mùa Đông. Mùa Hạ là mùa hay mưa nhất, lại là mùa các loài sâu bọ, súc vật sanh trưởng. Nhân đó Đức Phật chế luật nhất định dạy hàng đệ tử xuất gia của Phật mỗi năm về mùa Hạ phải nhóm họp nhau lại một chỗ, kiết giới hạn cùng nhau ăn ở tịnh tu trong thời hạn ba tháng, từ rằm tháng Tư đến rằm tháng Bảy. Mục đích là để hàng Tỷ-kheo muốn giữ giới bất sát sanh được hoàn toàn. Vì mùa mà muôn vật sanh nở, phải an trụ một nơi cho khỏi chà đạp sát hại sinh linh, rất có hại đến lòng Từ Bi. Thêm vào một ý nữa: Sứ mệnh của hàng đệ tử xuất gia là xen lẫn trong đám bụi trần để tùy duyên hóa độ, rày đây mai đó với ba tấm áo cà-sa, ngàn nhà một bình bát, sớm hôm lấy gốc cây làm nơi nương tựa. Đến ngày sen đã hé nụ ở hồ, báo tin mùa hè sắp đến, các thầy Tỷ-kheo cùng nhau trở về y chỉ với những bậc tiên giáo thượng tọa để kiểm điểm lại hành vi lợi lạc của mình và tham học đào luyện thêm những phương tiện còn thiếu sót, hầu mong đủ năng lực để đối phó với mọi ma lực có thể làm chướng ngại trên con đường hoằng pháp lợi sanh. Bởi vậy, thầy Tỷ-kheo khi đã thọ đại giới rồi lấy ba tháng hạ An cư này làm tuổi của mình, trong kinh thường gọi là Hạ lạp. Nhất là hàng niên thiếu Tỷ-kheo nhất định phải từ năm hạ trở lui không được ly y chỉ, nghĩa là luôn luôn y chỉ theo các bậc kỳ cựu như Hòa thượng (thầy truyền giới), A-xà-lê (thầy dạy bảo) mà an trú, tuyệt nhiên không được rời xa, nếu chưa đủ năm hạ. Dù năm hạ đã đủ mà chưa thông hiểu về luật học cũng không được phép rời y chỉ. Cũng vì điều luật nhất định này, chúng tăng không kể tuổi đời nhiều ít mà chỉ lấy mùa Kiết hạ là tuổi của mình. Cho nên, người nào chưa đủ mười hạ không được phép làm Thầy truyền giới cho ai, không được phép làm Hòa thượng.
Hằng năm, cuối mùa Xuân, các thầy Tỷ-kheo cùng nhau tìm chỗ thuận tiện, trên có các bậc Thượng tọa Đại đức, các thiện hữu chân chính, dưới có các nhà đàn việt cung cấp cúng dường đủ điều kiện dung tất trong ba tháng. Các thầy nhóm nhau kiết lập giới hạn, đúng với pháp Lục hòa mà an trụ để thanh tịnh tu học, nếu không có cớ hệ trọng chánh đáng không ai được phép bước chân ra khỏi giới hạn ấy. Nếu vô cớ vượt ra ngoài giới hạn tức là phá Hạ, tức là không được kể thêm một tuổi Hạ. Nếu có việc cần thiết như là: Tam Bảo sự duyên, Cha mẹ hoặc Bổn sư tạ thế, phải bạch chúng xin phép y ước từ giờ nào đi đến giờ nào về phải đúng như lời hẹn, nếu sai lời tức là hỏng; nghĩa là phá Hạ. Nhưng dù có việc gì quan trọng ít nhất cũng phải an trú từ hai tháng trở lên, nếu ở ngoài nhiều hơn ở trong cũng tức là phá Hạ.
Phật lại mở rộng phạm vi cho các người nhiều việc mà chia cho ba thời kỳ An cư: tiền, trung và hậu (nghĩa là bắt đầu ngày 16 tháng Tư là tiền An cư; ngày 17 tháng Tư sắp lên là trung An cư; cho đến ngày 15 tháng 5 là cùng, gọi là hậu An cư). Tất cả đều phải ở đúng 3 tháng, nghĩa là hậu An cư thì phải đến 15 tháng 8 mới được xả giới, mới được kể Hạ lạp (tuổi Hạ).
Đến ngày 15 tháng Bảy, gọi là ngày “Tăng tự tứ”, ngày “Phật hoan hỷ” hay là ngày “hàng Tỷ-kheo nhận tuổi”. Cũng gọi là ngày chúng tăng hưởng thọ công đức y, nghĩa là ngày chúng tăng an cư trong ba tháng được viên mãn, nếu tự xét lại ai có tội lỗi gì từ mắt thấy tai nghe cho đến ý nghi ngờ, tự mình đem bày tỏ ra trước đại chúng. Đại chúng căn cứ vào giới luật mà xử trị, tùy theo nặng nhẹ, gọi là ngày “Tăng tự tứ”. Chư Phật vì trông thấy hàng đệ tử biết tuân theo giới luật tinh tấn thanh tịnh tu hành, hoặc có người tăng tấn đạo nghiệp, hoặc có người hàng phục được ma quân, chứng ngộ vào quả vị Thánh, thấy đàn con được nhiều lợi ích trong sự tu tập nên hết sức hoan hỷ, gọi là ngày “Phật hoan hỷ”. Hàng Tỷ-kheo tinh tấn an cư tu hành thanh tịnh trong ba tháng, mới được nhận mình thêm một tuổi, nên gọi là “ngày nhận tuổi”. Trong ba tháng kiểm điểm lại nếu hoàn toàn viên mãn không phạm một lỗi gì, dù là một lỗi nhỏ, thì được hưởng “công đức y”, nghĩa là được phép hưởng các điều quyền lợi mà không phải phạm lỗi trong thời gian bốn tháng về mùa Đông như là: được sắm thêm y áo, ngoài những thứ được phép sắm hằng ngày, được ăn thêm nhiều bữa trước giờ Ngọ, được đi lại tự do không phải xin phép, được ngủ lại các chỗ mà quên đem y đi theo, được biệt chúng mà ăn. Các điều trên này được hưởng đến ngày Rằm tháng Chạp là hết hạn. Người nào trong ba tháng bị chúng tăng cử tội thì không được hưởng công đức như trên.
Ngày Rằm tháng Bảy cũng gọi là “cứu thoát vong nhân” tức ngày lễ VU LAN, ngày hàng Phật tử nhớ ơn cha mẹ đã quá vãng.
Trong ngày ấy, hàng Phật tử vận hết tinh thành cảm niệm đến ân sinh thành trời bể của cha mẹ, cúi đầu trước Tam Bảo, trước hàng chúng tăng tu hành trong ba tháng vừa xong mong nhờ sức chú nguyện, để làm nơi xu hướng đền đáp công ơn cha mẹ.
Đại khái ba tháng hạ An cư của hàng Phật tử xuất gia là thế, đó là luật rất quan yếu của nhà Phật. Phàm ai đã thọ giới rồi phải triệt để tuân theo. Nếu không thì dù người có trọn đời mang áo cà-sa cũng gọi là người không tuổi nào trong hàng ngũ Tăng chúng. Người đó không có quyền làm Thầy ai, không có quyền độ cho ai xuất gia được. Nhưng nếu nhóm họp nhau an cư mà không đúng theo giới luật, không có thầy dạy bảo săn sóc cho chân chính thì trở nên tặc trú (bọn giặc ở với nhau), sự hại cũng không phải nhỏ.
Hàng niên thiếu Tỷ-kheo sau khi năm hạ đã đầy đủ, am hiểu rành mạch về giới luật, thông thạo thế nào là khai, giá, trì, phạm của luật học, hiểu tôn chỉ một cách thấu đáo; Phật cũng cho phép tùy theo thuận tiện hoàn cảnh ở vào chỗ nào cũng có thể an cư được. Nhưng nếu đến ngày an cư mà bỏ qua tức là phạm tội khinh pháp.
Kính lạy Đức Thế Tôn! Trong 2509[1] năm nay, các bậc tiền bối tiên triết của chúng con về trước, cũng như đoàn con em của chúng con về sau, năm nào về mùa Hạ, vẫn tuân theo kim ngôn ngọc luật của Thế Tôn đã dạy mà phụng hành. Chúng con nhận chân được những lợi ích và giá trị của ba tháng An cư, nên dù biển dâu có thay đổi, sự thế có đảo điên, hàng đệ tử chúng con vẫn luôn luôn kiên trì giới luật mà Thế Tôn đã vì lòng lân mẫn chế ra cho hàng đệ tử chúng con trong ba tháng Hạ./.
[1] Tác giả viết bài này năm 1965.
THÍCH TRÍ THỦ
Nguồn: Tuần báo Thiện Mỹ số 37 ngày 6-8-1965, tr.3,
Chủ nhiệm: Lê Văn Hiến – Chủ bút: Thích Nhất Hạnh
