
Các người phải tự mình thắp đuốc lên mà đi!
Hãy lấy Pháp của ta làm đuốc,
hãy theo Pháp của ta mà tự giải thoát.
Ðừng tìm sự giải thoát ở một kẻ nào khác,
đừng tìm sự giải thoát ở một nơi nào khác,
ngoài các người!
(Sakya Muni)
[…] NĂM THỜI NÓI KINH
[…] Trong một đời của Ðức Phật, tùy theo trình độ của mọi người mà thuyết pháp giáo hóa, mãi đến khi Ngài nhập diệt, cộng là 49 năm. Những kinh pháp của Ngài nói ra, về sau các đệ tử kết tập chia ra làm năm thời:
1. Thời thứ nhất Phật nói Kinh Hoa Nghiêm
Khi Phật mới thành đạo ở tại cội Bồ-đề, nói Kinh Hoa Nghiêm 21 ngày, vạch rõ chân tánh, chỉ bày chỗ cao sâu mầu nhiệm của đạo Phật. Chủ đích có hai điều:
a) Dẫn dắt các bậc Bồ-tát lên địa vị Ðẳng-giác và Diệu-giác.
b) Nêu bày giáo pháp rốt ráo của NhưLai, chỉ có Phật với Phật mới hiểu rõ mà thôi; ngoài ra hàng Nhị thừa ngồi nghe nhu đui, như điếc, huống chi ngoại đạo,tà giáo làm sao hiểu nổi! Ðức Phật trình bày giáo pháp siêu việt tuyệt vời ấy, là muốn cho đại chúng phải tu theo Ðại thừa Phật giáo mới được hoàn toàn rốt ráo.
2. Thời thứ hai Phật nói Kinh A-Hàm
Biết rằng: “Muốn đi xa phải do nơi gần, muốn lên cao phải từ nơi thấp”, Ðức Thích Ca y theo Chư Phật mà nói pháp Tam thừa. Vì vậy thời thứ hai, Ngài nói Kinh A-Hàm trọn 12 năm, dùng thí dụ thực tế, chỉ rõ chân lý cho hàng Tiểu thừa dễ thừa nhận, mà lo bề tự tu và tự độ.
3. Thời thứ ba Phật nói Kinh Phương Ðẳng
Ðức Phật chẳng những dạy pháp giác ngộ phần mình mà Ngài còn chỉ bày phương pháp giác tha nữa, tức là khuyến khích từ cái giác ngộ tiêu cực nhỏ hẹp của Tiểu thừa (A-la-hán), để tiến lên cái giác ngộ tích cực bao la của Ðại thừa Phật giáo. Ấy là thời nói Kinh Phương Ðẳng trọn 8 năm, dẫn Tiểu thừa qua Ðại thừa.
4. Thời thứ tư Phật nói Kinh Bát Nhã
Ðến khi Ðức Phật xem căn cơ của chúng sanh có thể tiến lên một từng cao nữa là hấp thụ được hoàn toàn giáo pháp Ðại thừa, nên Ngài chỉ bày đạo lý chân không của vũ trụ, thuyết minh cái thật tướng, vô tướng của các pháp. Ấy là thời kỳ nói Kinh Bát Nhã trọn 22 năm.
5. Thời thứ năm Phật nói Kinh Pháp Hoa và Niết-Bàn
Sự hóa độ một đời của Phật gần viên mãn, thêm thấy căn cơ của chúng sanh đã thuần thục, có thể gánh vác Ðại thừa Chánh pháp của Như Lai, nên Ngài bèn nói rõ bản hoài của Ngài thị hiện ra đời là vì một nguyên nhân lớn: “Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến”. Ngài phú chúc, thọ ký cho các hàng đệ tử, tương lai sẽ thành Phật. Ấy là thời nói Kinh Pháp Hoa và Kinh Niết-Bàn trọn 8 năm. Ðến đây nhiệm vụ thuyết pháp độ sanh của đời Ngài đã viên mãn.
Tóm lại 5 thời thuyết pháp, Cổ nhơn có làm bài kệ như sau:
Hoa Nghiêm tối sơ tam thất nhựt
A-Hàm thập nhị Phương Ðẳng bát
Nhị thập nhị niên Bát Nhã đàm
Pháp Hoa Niết Bàn cộng bát niên.
Dịch nghĩa:
Trước nói Hoa Nghiêm hăm mốt ngày
A-Hàm mười hai, Phương Ðẳng tám
Hai mươi hai năm nói Bát Nhã
Pháp Hoa Niết- Bàn cộng tám năm.
SỰ HÓA ĐỘ VIÊN MÃN
Từ khi thành đạo dưới gốc cây Bồ-Ðề cho đến ngày nhập diệt, trải qua một thời gian 49 năm, Ðức Phật đã đi khắp xứ Ấn Độ rộng lớn bao la, hết nước này đến nước khác. Hễ chỗ nào có chân Ngài giẫm đến là Ánh Ðạo Vàng bừng tỏa huy hoàng.
Mỗi ngày, Ngài theo một thời dụng biểu, một chương trình nhất định, không bao giờ xao lảng, giải đãi, từ khi trẻ cho đến già, từ mùa mưa cho đến mùa nắng. Mỗi ngày, khi trời chưa sáng, Ngài đã lìa khỏi giường đi tắm rửa, thay đổi y phục rồi vào phòng quán cơ(*) cho đến lúc mặt trời xuất hiện. Sau đó Ngài thuyết pháp cho chúng tăng đến lúc trưa mới nghỉ để thọ trai.
Buổi chiều, Ngài thuyết pháp cho tín đồ các vùng lân cận đến nghe; rồi lại giảng giải những nghi vấn của các chúng tăng về những vấn đề mà Ngài đã thuyết pháp buổi sáng.
Mỗi năm, Ngài đi chu du để thuyết pháp độ sanh trong 9 tháng nắng ráo; còn 3 tháng về mùa Hạ có mưa lớn (theo thời tiết Ấn Độ), thì Ngài lại ở luôn trong các tịnh xá để An cư Kiết hạ.
Ròng rã trong 49 năm như thế, hạt giống Từ bi được Ngài tinh tấn gieo khắp các xứ ở Ấn Độ. Từ Bắc chí Nam, từ Ðông sang Tây, từ rừng núi đến đồng bằng, không nơi nào là Ngài không đặt chân đến hay truyền đệ tử đến thay Ngài để hóa độ chúng sanh. Và ở đâu Ngài và các đệ tử cũng được nhân dân, từ vua đến dân, từ giàu đến nghèo, từ già đến trẻ, từ phái nam đến phái nữ, đổ xô ra đón tiếp Ngài, vui thú đươc tắm gội trong ánh nắng Trí tuệ và nước Từ bi do Ngài tưới xuống. Ở đâu có Ánh Đạo Vàng đến, thì tà giáo và ngoại giáo lui xa dần, tan biến như những làn mây, như những bóng tối tan biến trước ánh bình minh đang lên. Giọng thuyết pháp của Ngài có oai lực như tiếng sư tử rống, làm cho cầm thú phải khiếp phục, như tiếng hải triều lên, lấn át tất cả bao nhiêu tiếng tỉ tê của côn trùng, chim chóc.
Ðạo Bồ-đề từ đấy đã ăn sâu gốc rễ trên bán đảo Ấn Độ bao la, và trở thành tôn giáo chính của các nước lớn nhỏ thời bấy giờ tại Ấn Độ. Ðức Phật sau khi đã tự giác, đã giác tha và đến đây giác hạnh của Ngài đã viên mãn.
TRƯỚC KHI NHẬP NIẾT-BÀN
1. Phật báo tin sắp lìa đời
Khi giác hạnh của Ngài đã viên mãn thì Phật đã 80 tuổi. Ðến đây, sắc thân tứ đại của Ngài cũng theo luật vô thường mà biến đổi, yếu già. Năm ấy Ngài vào hạ ở rừng Sa-la trong xứ Câu-ly, cách thành Ba-la-nại chừng 120 dặm.
Một hôm Ngài gọi ông A-nan, người đệ tử luôn luôn ở bên cạnh Ngài đến và phán bảo:
“A Nan! Ðạo ta nay đã viên mãn. Như lời nguyện xưa, nay ta đã có đủ 4 hạng đệ tử: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Nhiều đệ tử có thể thay ta chuyển xe pháp, và đạo ta cũng đã truyền bá khắp nơi. Bây giờ ta có thể rời các ngươi mà ra đi. Thân hình ta, theo luật vô thường, bây giờ như một cỗ xe đã mòn rã. Ta đã mượn nó để chở Pháp, nay xe đã vừa mòn mà pháp cũng đã lan khắp các nơi, vậy ta còn mến tiếc làm gì cái thân tiều tụy này nữa? A-nan! Trong ba tháng nữa ta sẽ nhập Niết-bàn”.
Tin Ðức Phật sắp vào Niết-bàn, lan ra như một tiếng sét. Các đệ tử của Ngài đi truyền giáo ở các nơi xa lục tục trở về để cùng Đấng Giác Ngộ chia ly lần cuối.
Trong thời gian 3 tháng cuối cùng của Ngài, Ðức Phật vẫn không nghỉ ngơi, mà vẫn tiếp tục đi truyền đạo.
Một hôm, Ngài đi thuyết pháp ngang qua một khu rừng, gặp một người làm nghề đốt than – ông Thuần-đà – thỉnh Ngài về nhà để thọ trai. Ngài im lặng nhận lời, cùng các đệ tử đi theo ông. Ðến nhà, ông Thuần-đà dọn ra cúng dường Ngài một bát cháo nấm, thường gọi là nấm heo rừng, vì thứ nấm này rất được giống heo rừng ưa thích.
Thọ trai xong, Phật cùng các đệ tử từ giã ông Thuần-đà ra đi. Ðược một quãng đường, Ngài giao bình bát cho ông A-nan và truyền treo võng lên, trong rừng cây Ta-la(1), để Ngài nằm nghỉ. Ngài nằm xuống võng, đầu trở về hướng Bắc, mình nghiêng về phiá tay phải, mặt xây về hướng mặt trời lặn, hai chân tréo vào nhau.
Nghe tin Ngài sắp nhập Niết-bàn, dân chúng quanh vùng đến kính viếng rất đông, trong số ấy có một ông già ngoài tám mươi tuổi, tên Tu-bạt-đà-la đến xin xuất gia, thọ giới Sa-di với Ngài, Ngài hoan hỷ nhận lời. Ðó là người đệ tử chót trong đời Ngài.
2. Phật nói Kinh Di Giáo và những lời phú chúc
Lúc bấy giờ các đệ tử của Ngài đều có mặt đông đủ, chỉ trừ ông Ca-diếp vì đi thuyết pháp xa, chưa về kịp. Ngài hội tất cả đệ tử và tín đồ đến quanh Ngài và dặn dò một lần cuối. Ngài phú chúc như sau:
a) Y, bát của Ngài sẽ truyền cho ông Ma-ha Ca-diếp.
b) Các đệ tử phải lấy giới luật làm Thầy.
c) Ở đầu các Kinh, phải nêu lên 4 chữ: “Như thị ngã văn”.
d) Xá-lợi của Ngài sẽ chia làm ba phần:
– Một phần cho Thiên cung,
– Một phần cho Long cung,
– Một phần chia cho 8 vị Quốc vương ở Ấn Ðộ.
Sau đây là lời vàng ngọc mà Ngài đã để lại trong giờ phút cuối cùng.
“Này! Các người phải tự mình thắp đuốc lên mà đi! Các người hãy lấy Pháp của ta làm đuốc. Hãy theo Pháp của ta mà tự giải thoát. Ðừng tìm sự giải thoát ở một kẻ nào khác, đừng tìm sự giải thoát ở một nơi nào khác ngoài các người!…
“Này! Các người đừng vì dục vọng mà quên lời ta dặn. Mọi vật ở đời không có gì quý giá. Thân thể rồi sẽ tan rã. Chỉ có đạo ta là quý báu. Chỉ có chân lý của đạo ta là bất di bất dịch. Hãy tinh tấn lên để giải thoát, hỡi các người rất thân yêu của ta!”.
Sau khi đã dặn dò cặn kẽ xong, Ngài nhập định rồi vào Niết-bàn. Lúc bấy giờ nhằm ngày Rằm tháng Hai âm lịch (theo giáo sử Trung Hoa).
Rừng cây Ta-la tuôn hoa xuống phủ lên thân Ngài; trời đất u ám, cây cỏ héo úa, chim chóc im bặt tiếng hót. Vạn vật như chìm lặng trong những giây phút nặng nề của sự chia ly.
Các đệ tử tẩn liệm xác Ngài vao trong kim quan và 7 ngày sau đưa kim quan Ngài vào thành Câu-thi, để tại chùa Thiện Quang và làm lễ trà-tỳ (lễ hỏa thiêu).
Tám vị Quốc vương lớn ở Ấn Độ kéo binh hùng tướng dũng đến toan tranh giành Xá-lợi. Nhưng ông Hương Tích y theo di chúc của Phật đứng ra điều đình và nhờ thế việc phân chia Xá-lợi đều được ổn thỏa.
KẾT LUẬN:
Ðức Phật đã nhập Niết-bàn, nhưng gương sáng của đời Ngài vẫn còn chiếu sáng rực rỡ trước mắt chúng ta. Suốt một đời, trong 80 năm trời, không một lúc nào Ngài xao lãng mục đích tối thượng là hóa độ chúng sanh đang trầm luân trong bể khổ. Khi còn tại gia, Ngài là người ở trong một địa vị có diễm phúc nhất, cao nhất của người đời. Thế mà Ngài vẫn không màng tưởng đến; khi vào trong Ðạo, Ngài là người ở trong địa vị cao chót vót của Ðạo, thế mà Ngài vẫn không chịu ở yên trong địa vị ấy, lại vất vả duỗi rong trên mọi nẻo đường buị bặm, gai góc để đưa dắt chúng sanh lên con đường hạnh phúc an vui và giải thoát hoàn toàn. Lòng thương của Phật thật là vô lượng, ân đức của Phật thật là vô biên.
1. Người đời nên noi gương sáng của Phật
Sự hy sinh cao cả, lòng từ bi rộng lớn, trí tuệ sáng suốt, ý chí dũng mãnh của Ngài không những là bao nhiêu gương sáng cho riêng hàng Phật tử, mà còn cho tất cả mọi người. Nếu chúng ta quan niệm Ngài là một vĩ nhân thì đó là một vĩ nhân trên hết các vĩ nhân của nhân loại từ xưa đến nay. Nếu chúng ta quan niệm Ngài là một bậc siêu nhân, thì đó là một bậc siêu nhân cao hơn những bậc siêu nhân khác. Nếu ta quan niệm đời Ngài là một sự thị hiện của Phật, thì đó là sự thị hiện đẹp đẽ nhất và đầy đủ ý nghĩa hơn hết trong các sự thị hiện.
Cho nên không những đối với tín đồ Phật giáo, mà đối với toàn thể nhân loại, Ðức Phật đáng được kính cẩn tôn sùng và chiêm ngưỡng.
2. Tín đồ nên ghi nhớ những lời di chúc của Phật
Chúng ta – những Phật tử, ai cũng biết đời Ðức Phật là đẹp đẽ, cao cả; bài học của đời Ngài là quý báu, sâu xa. Nhưng nếu chúng ta không cố gắng học tập, thì bài học dù hay ho quý báu bao nhiêu cũng vô ích! Ðức Phật trước khi nhập diệt, đã dặn chúng ta một câu cuối cùng:
“Mọi vật ở đời không có gì quý giá. Thân thể rồi sẽ tan rã. Chỉ có đạo ta là quí báu. Chỉ có chân lý của đạo ta là bất di bất dịch. Hãy tinh tấn lên để giải thoát!”.
Vậy thì điều kiện trọng yếu nhất để giải thóat là sự tinh tấn. Chúng ta đừng bao giờ quên điều kiện ấy trong khi tu hành./.
oOo
(*) Quán cơ: Tham thiền – TVGĐPT.
(1) Ta-la: Hán dịch là Song thọ, cây có hai cành lớn chia ra như cái nạng.
—=oOo=—
Trích PHẬT HỌC PHỔ THÔNG – Khóa I, Bài thứ ba:
Lược Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni
(Từ thành đạo đến nhập Niết-bàn)
Soạn giả: THÍcH THIỆN HOA
