Nhà nước VN ban hành "Thông tư quản lý tiền công đức" ???

2

Lời BBT: Vụ “Video clip Thầy Trò Đường Tông Đi Thỉnh… Bao Cao Su” còn đang bị dư luận phản ứng kịch liệt và hiện chỉ mới có VTC News gởi 1 văn thư  cho GHPGVN “nhận trách nhiệm” và có lời “xin lỗi chân thành, sâu sắc” nhưng họ không đăng tải thư ngay cả trên trang nhà của báo này; một email không ghi tên cụ thể tự nhận là nhóm Sinh Viên thực hiện clip “…thật sự thấy shock và rất buồn… cảm thấy mình thật có lỗi…” gởi vào mail acount của Trung Ương GHPGVN, còn phía các đơn vị chủ quản thì vẫn… im hơi lặng tiếng. Thế mà mới đây, trong một hội nghị lớn, ông Thứ Trưởng Bộ Văn Hoá Thể Thao & Du Lịch Huỳnh Vĩnh Ái đã “đề nghị Vụ Kế hoạch – Tài chính tham mưu cho Bộ, phối hợp cùng Bộ Tài chính sớm đưa ra thông tư về quản lý tiền giọt dầu, công đức, cung tiến… tại các cơ sở thờ tự tín ngưỡng” khiến không gian mạng lại “nóng” lên như chảo rang và làm rối tinh rối mù xa lộ thông tin!

Cũng như các sự kiện đặc biệt khác, Thư Viện GĐPT Online trung thực chuyển tải đến bạn đọc những thông tin từ nhiều phía để quý bạn đọc tùy nghi nhận định và “rộng đường dư luận”…

1) Trước hết chúng ta tham khảo các ý kiến, bài viết của những “Nhà đòi quản lý” và các “Chuyên gia hơi thích việc quản lý tiền công đức“: 

Sẽ có thông tư quản lý tiền công đức.

Minh Ngọc – (Báo Thanh Niên Online)
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120312/se-co-thong-tu-quan-ly-tien-cong-duc.aspx

Một thông tư, trong đó quy định việc quản lý tiền công đức, đang được các cơ quan chức năng của Bộ VH-TT-DL soạn thảo. Thanh Niên đã có cuộc trao đổi với ông Trần Minh Chính (ảnh), Phó cục trưởng phụ trách Cục Văn hóa cơ sở, đơn vị tham gia đóng góp ý kiến cho thông tư.

oOo

Ông có thể đánh giá về tình trạng quản lý tiền công đức hiện nay?

Lượng tiền công đức hiện nay là rất lớn. Chẳng hạn có nơi như đền bà Chúa Xứ (An Giang), người dân công đức may áo dát vàng cho tượng; có nhiều nơi người dân công đức tới hàng tỉ đồng. Trong số tiền công đức, có khoản dùng để tái đầu tư cho di tích như tôn tạo, tu bổ, chỉnh trang, chuẩn bị cho mùa lễ hội năm sau (với di tích là nơi diễn ra lễ hội), làm từ thiện, các hoạt động xã hội như xây dựng cơ sở hạ tầng… Bên cạnh mục đích là dùng vào việc nghĩa, đưa vào công quỹ, tiền công đức còn dùng để chi tiêu cho hoạt động của ban quản lý. Ngoài ra, tiền công đức ở di tích lớn có thể được dùng để trùng tu, tôn tạo cho các di tích nhỏ thuộc cùng một hệ thống quản lý tôn giáo, chẳng hạn như trong trường hợp một vị sư trụ trì 2-3 ngôi chùa.

Nhiều di tích làm tốt việc quản lý tiền công đức, tuy nhiên vẫn có nơi lẫn lộn trong quản lý, thu – chi giữa ban quản lý và thủ từ. Cũng có những di tích rất phức tạp khi mang tính chất gia đình trị, bà mẹ hay ông bố đã ở đấy, thì kéo con, kéo cả họ đến làm ở di tích. Chuyện cá nhân tìm cách biển thủ đã xảy ra.

Tiền công đức ở nhiều nơi chưa thật minh bạch. Từ đó dẫn đến chuyện như lãng phí, ngoài ra còn tự ý tôn tạo, trùng tu di tích một cách bừa bãi làm biến dạng di tích do thiếu kiến thức. Hiện nay đang có xu hướng rất xấu là nhiều nơi tìm cách xây thêm nhiều điểm thờ tự trong cùng một điểm di tích, trái với luật Di sản, việc này cũng giống như chợ tăng thêm ki ốt. Cùng với đó là hiện tượng lăng xê di tích, gán cho di tích những ý nghĩa không hề có với mục đích tăng công đức, tăng thu.

Có những nơi tiền công đức chỉ đủ vận hành, chứ không phải nơi nào cũng nhiều. Nhưng đã là tiền công đức phải được quản lý theo chế độ rõ ràng. Tiền công đức là tiền của dân, đóng góp cho di tích, các hoạt động xã hội, chứ không phải cho cá nhân hay một nhóm người nào đó, nên phải được quản lý theo các chế độ, quy định, chứ không thể để trôi nổi. Tiền công đức phải được chi tiêu với mục đích lành mạnh, theo hướng tái đầu tư cho văn hóa, mà cụ thể ở đây trước hết là cho các di tích. Mặt khác, nếu nhà nước chỉ đạo khuyến khích khai thác các giá trị văn hóa (như di tích, lễ hội) để phát triển du lịch thì cũng cần phải đầu tư, chứ không nên chỉ trông chờ vào tiền công đức của người dân.

Theo ông, thông tư cần phải có những quy định thế nào trong việc quản lý?

Thứ nhất, mục đích ra đời của thông tư là quản lý tiền công đức hiệu quả. Tiếp đó là các quy định quản lý, chế tài rõ ràng về việc sử dụng tiền công đức như thế nào, cho những nội dung cụ thể gì.  Thêm đó, cần đưa ra quy định về cơ chế thanh quyết toán, thẩm quyền xử lý liên quan đến việc chi tiêu tiền công đức. Chúng tôi đã góp ý với đơn vị chủ trì soạn thảo thông tư trên tinh thần ấy. Ngoài ra cũng phải quy định thêm việc tiền công đức khi đưa vào trùng tu, tôn tạo, phải tuân thủ sát sao mọi quy định của luật Di sản.

Dự kiến trong khoảng thời gian bao lâu thông tư sẽ hoàn thành và ra đời?

Đây là chuyện khá nhạy cảm, không thể giải quyết trong một sớm một chiều. Nhiều đơn vị đang phối hợp, cố gắng đưa ra thông tư trong năm nay. Chúng tôi rất cần những ý kiến đóng góp của công chúng để thông tư ra đời hiệu quả, thiết thực với công tác quản lý. Sắp tới sẽ có cuộc hội thảo lấy ý kiến của nhiều ban, ngành, chuyên gia, các nhà nghiên cứu để xây dựng thông tư.

TV.GĐPTTrích dẫn nhấn mạnh của tờ Thanh Niên Online:

Tiền công đức là tiền của dân, đóng góp cho di tích, các hoạt động xã hội, chứ không phải cho cá nhân hay một nhóm người nào đó nên phải được quản lý theo các chế độ, quy định, chứ không thể để trôi nổi.

 — — — oOo — — —

Quản lý tiền công đức bằng quy phạm pháp luật gặp khó.

Thùy Dương – (Báo Pháp Luật – Cơ quan của Bộ Tư Pháp CHXHCNVN)
http://phapluatvn.vn/thoi-su/201203/Quan-ly-tien-cong-duc-bang-quy-pham-phap-luat-gap-kho-2064865/

Việc quản lý nguồn thu công đức, tiền giọt dầu lộn xộn dẫn tới đi tới đền, chùa, phủ nào cũng thấy hòm công đức, giọt dầu… “phong toả” khắp nơi.

Trách nhiệm thì đùn đẩy nhau nhưng quyền lợi thu tiền từ công đức thì ai cũng muốn… “vơ vào”. Những đồng tiền ấy “trôi nổi” ở đâu, và ai sẽ “kiểm soát”?. Đó cũng là nội dung của một Thông tư đang được các cơ quan chức năng của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH-TT&DL) soạn thảo. Nếu Thông tư ra đời, liệu có điểm “vênh” với cuộc sống?.

Xuất hiện… “công ty” tôn giáo tâm linh

Hiện nay, việc phân cấp quản lý những nơi thờ tự, di tích chưa thống nhất. Có nhiều chủ thể cùng tham gia quản lý như Uỷ ban nhân dân xã, phường, Ban quản lý di tích, nhà chùa, nhà đền, công ty khai thác dịch vụ. Việc phân cấp quản lý lễ hội, di tích của từng địa phương cũng khác nhau, có nơi do UBND huyện, thị xã tổ chức và quản lý lễ hội, có nơi giao cho UBND xã, phường tổ chức và quản lý, có nơi do Ban quản lý chuyên môn, công ty kinh doanh khai thác các hoạt động vận chuyển và dịch vụ.

Khó có thể ai biết, trong mùa lễ đầu năm ở những nơi như Chùa Hương,Yên Tử, Đền Cửa Ông, Di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc, Đền Trần (Nam Định),  Đền Hùng, Đền Mẫu Âu Cơ, chợ Viềng và Phủ Giày, Nam Định …, một ngày tiền công đức thu được là bao nhiêu vì theo những “tay hòm chìa khóa” thì không thể tiết lộ được.

Tuy vậy, ai cũng biết chắc đó là con số từ vài chục triệu đến hàng trăm triệu.  Chính vì sự “chỉ mình ta biết” này, nên rất nhiều người hoài nghi, lượng tiền lớn ấy sẽ “đi đâu, về đâu”, thậm chí là làm giàu cho ai? Tiền công đức có vào việc tu bổ di tích, giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn không hay lọt về tay một số cá nhân trục lợi?

PGS.TS Lương Hồng Quang- Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật ViệtNamđã đánh giá: “Hiện nay ai cũng biết số lượng tiền công đức rất lớn nhưng không ai nắm được, nên cũng không biết việc chia sẻ lợi ích được thực hiện như thế nào. Cũng từ đó mà xảy ra hiện tượng lợi dụng công đức để tư lợi, xuất hiện rất nhiều đền phủ tư nhân hay các “công ty” tôn giáo tâm linh. Hệ thống đền phủ tư nhân không ai đăng ký, không bị quản lý. Ai cũng biết nó có tồn tại nhưng không ai kiểm soát được nó cả”.

Một số thành viên Ban lễ nghi của một ngôi đền ở xã Thạch Bàn, Thạch Hà, Hà Tĩnh cũng từng sống trong nghi ngờ khi vấn đề tài chính của đền không được công khai rõ ràng. Theo lời “tố” của những người trong cuộc, trong suốt ba năm, số tiền tài trợ, công đức và các khoản đầu tư ở đền không ai biết cụ thể ra sao. Có không ít nơi lẫn lộn trong quản lý, thu – chi giữa ban quản lý và thủ từ. Cũng có những di tích rất phức tạp khi mang tính chất gia đình trị, bà mẹ hay ông bố đã ở đấy, thì kéo con, kéo cả họ đến làm ở di tích. Chuyện cá nhân tìm cách biển thủ đã xảy ra.

… Và “khoán” nộp tô tiền “công đức”

Bên cạnh việc thiếu công khai, có nơi còn “khoán” tiền công đức để “nộp tô” cho địa phương như báo chí từng lên án chuyện người dân ở một địa phương của huyện Nghi Xuân phải nộp về xã 300 triệu đồng/năm sau khi trúng thầu quản lý một ngôi đền là di tích văn hoá cấp quốc gia (?!).Di tích Đền Ông Hoàng Mười xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên (Nghệ An) cũng là một ví dụ. Những năm trước, mỗi năm, tiền công đức ở nơi này được xã “khoán gọn” là 600 triệu đồng. Năm 2012, xã “lên giá” với mức “khoán” là 900 triệu đồng/năm.

Tất nhiên là bên cạnh sự tán thành của “bên khoán”, sau bao nhiêu năm, việc ‘khoán” này luôn “vấp” phải sự phản đối của rất nhiều người, trong đó có “bên bị khoán”. Bởi nó đã làm sai lệch bản chất tâm linh, linh thiêng nơi đền, chùa. Làm sao biết được năm nay đền thu được bao nhiêu mà lại “khoán”?

Và cũng vì bị “khoán” nên các di tích buộc phải nghĩ ra nhiều trò… thương mại hoá(!) để cho đủ chỉ tiêu và khi đủ rồi thì làm sao để tiếp tục vượt “khoán” đặng có đồng ra đồng vào. Cứ như thế sai phạm nối tiếp sai phạm làm cho nguồn công đức bị biến tướng đi, lòng tin của người công đức cũng bị giảm sút.

Chỉ thị đã “bó tay”, Thông tư đang loay hoay

Để quản lý tiền công đức được hiệu quả, một văn bản quy phạm dưới hình thức Thông tư đang các cơ quan chức năng của Bộ VH-TT-DL soạn thảo, đó là các quy định quản lý, chế tài rõ ràng về việc sử dụng tiền công đức như thế nào, cho những nội dung cụ thể gì.

Thêm đó, Thông tư cũng sẽ đưa ra quy định về cơ chế thanh quyết toán, thẩm quyền xử lý liên quan đến việc chi tiêu tiền công đức, quy định việc tiền công đức khi đưa vào trùng tu, tôn tạo, phải tuân thủ sát sao mọi quy định của Luật Di sản. Theo dự kiến, từ nay tới cuối năm, sẽ có vài cuộc hội thảo lấy lý kiến của các của các cấp, các ngành, của các chủ thể quản lý, người dân thì nội dung Thông tư ấy mới được ngã ngũ.

Cũng cần phải nói rằng đây không phải là lần đầu tiên việc quản lý hòm công đức được cơ quan quản lý văn hóa “xới” lên. Trước đó, Chỉ thị số 16/CT của Bộ Văn hoá-Thể thao và Du lịch nhằm tăng cường công tác quản lý hoạt động văn hoá, tín ngưỡng tại di tích trong đó có nội dung, “mỗi di tích chỉ nên đặt 1 hoặc tối đa 3 hòm công đức”. Thế nhưng, qua hơn 2 năm ra đời của Chỉ thị, nhiều di tích, chùa, đền vẫn bị các hòm công đức “bủa vây”. Thậm chí, chỉ có một ngôi đền nhỏ mà có tới… 25 hòm công đức “bày binh, bố trận”.  Có thể thấy rằng, Chỉ thị này đã bị “mất thiêng” ngay khi đi vào cuộc sống.

Bộ VH-TT&DL vừa giao Viện Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật VN thực hiện đề án nghiên cứu quản lý tiền công đức trong các di tích, đền chùa, nơi thờ tự. Thế nhưng, bản thân những người được giao nhiệm vụ cũng đang nhìn thấy sự “tiến thoái lưỡng nan” trong việc quản lý tiền công đức, bởi cái khó hiện nay là quan điểm xử lý vấn đề.

Công đức là vấn đề nhạy cảm và chưa hề được xử lý ở bình diện quản lý nhà nước. Cần phải xác định rõ bản chất câu chuyện quản lý ở đây là không làm khó dân mà tạo hành lang pháp lý cho mọi tổ chức, cá nhân khi công đức, hay các cơ sở nhận công đức đều rõ quyền lợi và trách nhiệm của mình, góp phần bảo tồn di tích và tổ chức lễ hội trên một tinh thần minh bạch, hiệu quả, cân bằng lợi ích của các bên liên quan.

Chính vì thế, vấn đề đặt ra là chắc chắn sẽ phải mất rất nhiều thời gian và công sức để Thông tư quản lý tiền công đức ra đời. Thế nhưng liệu nó có cùng “số phận” như “người đi trước” – Chỉ thị 16/CT – hay không thì vẫn chưa thể biết.

TV.GĐPT – Trích dẫn nhấn mạnh của tờ Pháp Luật Online:

Ông Phan Văn Hùng – Phó Ban quản lý di tích và danh thắng tỉnh Nghệ An:

“Để công tác quản lý và sử dụng nguồn công đức tại các di tích có hiệu quả,  nhất thiết phải kiện toàn lại Ban quản lý ở một số di tích lịch sử văn hoá – danh thắng theo mô hình Nhà nước quản lý, nhân dân thực hiện. 

Bên cạnh đó, cơ quan quản lý phải xây dựng, thống nhất chung các mẫu hòm công đức, mẫu phiếu công đức, mẫu sổ sách cho hoạt động khai thác, quản lý, sử dụng công đức tại các di tích lịch sử văn hoá – danh thắng. 

Bản thân các Ban quản lý di tích cũng thực hiện kiểm kê nguồn công đức và chế độ báo cáo với các cấp theo quy định. Công khai nguồn thu, chi công đức là công việc rất cần thiết trong hoạt động khai thác, quản lý, sử dụng nguồn công đức tại các di tích lịch sử văn hoá – danh thắng.”.

  — — — oOo — — —

Lộn xộn quản lý tiền công đức

An An – (Báo Nông Nghiệp Việt Nam Online).
http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/72/11/11/92005/Lon-xon-quan-ly-tien-cong-duc.aspx

Một con số đáng giật mình khi lễ hội Bà Chúa Xứ (An Giang) lần đầu tiên công bố nguồn thu công đức 70 tỷ (năm 2011). Với hơn 4 vạn di tích, thắng cảnh (trong đó có 8 ngàn di tích cấp tỉnh và quốc gia) có thể nói, lượng tiền công đức mà nhân dân đóng góp là không nhỏ. 

Lộn xộn trong quản lý

Ông Vũ Xuân Thành, Chánh thanh tra Bộ VHTTDL, cho biết: “Chúng ta đang có sự chồng chéo trong quản lý di tích. Không phân cấp được, không giao trách nhiệm cơ quan nào quản lý. Địa phương thì giao cho tỉnh, địa phương thì giao cho Ban tôn giáo quản lý. Các cơ sở tín ngưỡng cũng không có phân cấp, BQL đều tự phát. Di tích lớn thì không nói, nhưng ở địa phương thì việc này còn lung túng”.

Ông Thành cũng cho rằng, từ mô hình quản lý không thống nhất này dẫn đến sự không thống nhất trong lợi ích. Mỗi di tích lại có một cấp, hoặc nhiều cấp khác nhau cùng quản lý. Nơi thì do cơ quan Nhà nước quản lý (như các UBND, Sở VHTTDL…), nơi thì do nhân dân (như Hội người cao tuổi, Hội cựu chiến binh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc…), nơi thì do cá nhân (sư trụ trì, thủ từ…). Vì vậy, tiền công đức ở mỗi di tích cũng được quản lý khác nhau: nơi do cá nhân tự thu – chi, nơi do nhiều cấp thu và quản lý, tiền thu được chia theo những phần trăm khác nhau.

Sự lộn xộn trong quản lý tiền công đức cũng còn bởi không có quy chế quản lý. Bởi vậy dẫn đến việc có nhiều nơi thu tiền. Ví dụ như ở Chùa Keo (Thái Bình), khi Ban quản lý chùa (cơ quan do phòng Văn hóa huyện lập ra) đã tiếp nhận, quản lý tiền công đức thì nhà chùa (sư trụ trì) vẫn phát hành song song một phiếu công đức khác của chùa. Như vậy, tự nhiên, số tiền đóng góp của người dân sẽ có hai nguồn thu. Trong khi, nguồn thu từ Ban quản lý sẽ dùng cho chi trả các hoạt động của nhà chùa, từ việc sinh hoạt của sư, sãi, đến tiền điện, nước, trùng tu, tôn tạo cảnh quan… thì số tiền do nhà chùa thu lại không được công khai.

Một số địa phương thì có cách “khoán” công đức.

Nghệ An được coi là tỉnh đầu tiên của cả nước ban hành Quy định tiếp nhận, quản lý, sử dụng nguồn công đức ở các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn. Theo đó, 65% nguồn công đức bằng tiền mặt, 100% hiện vật, sức lao động sẽ trích để tu sửa, tôn tạo di tích theo quy định của Luật Di sản văn hóa và cấp có thẩm quyền quyết định; trích 35% nguồn công đức bằng tiền mặt cho lễ nghi, khánh tiết, điện nước, tuyên truyền, quảng cáo, tổ chức lễ hội, tiền lương đội ngũ bảo vệ, quản lý di tích.

Tuy nhiên, cũng từ quy định này mà một số nơi trong tỉnh quản lý bằng cách khoán. Số tiền mà xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An nơi có đền thờ Ông Hoàng Mười năm 2012 này đã “khoán” cho đền là 900 triệu đồng. Có thể, số tiền khoán này chưa bằng một phần nhỏ số thực thu, nhưng điều này đã làm sai lệch bản chất tâm linh của đình, đền chùa. Việc khoán này cũng xuất hiện tại đền Ông Hoàng Bảy ở Lào Cai. Sự việc sau đó đã bị tỉnh “tuýt còi”.

Sớm phải luật hóa

Ông Lương Hồng Quang, Phó Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam, cho rằng, cần thiết phải minh bạch: “Theo nguyên tắc, việc công đức, đứng về phía người công đức có thể coi là thực hiện việc hiến tặng, còn nơi nhận tiền công đức là thực hiện việc quyên góp. Gần như tất cả các nước trên thế giới đều có luật về hiến tặng, quyên góp để quản lý”.

Trong khi ở Việt Nam, việc quản lý tiền công đức vẫn chưa được luật hóa và gần như 100% người dân làm công đức khi được hỏi đều trả lời rằng không biết tiền công đức của mình được dùng vào việc gì.

Từ năm 2009, Bộ VHTTDL đặt ra vấn đền cần có thông tư hướng dẫn quản lý, sử dụng các nguồn thu, chi từ lễ hội, tiền công đức, cung tiến. Hiện nay, Viện Văn hóa Nghệ thuật ViệtNambắt đầu nghiên cứu và xây dựng thông tư. Hy vọng, sau khi hoàn thiện và đưa vào áp dụng, thông tư sẽ góp phần tạo một hành lang chung, thống nhất trong quản lý, sử dụng tiền công đức trong cả nước, góp phần làm cho đồng tiền “tâm đức” của người dân được sử dụng đúng mục đích vì cái tâm, cái đức.

TV.GĐPT – Trích dẫn nhấn mạnh của tờ Nông Nghiệp Việt Nam Online:

“Ai cũng biết số lượng tiền công đức rất lớn nhưng không ai nắm được, nên cũng không biết việc chia sẻ lợi ích được thực hiện như thế nào. Cũng từ đó mà xảy ra hiện tượng lợi dụng công đức để tư lợi, xuất hiện rất nhiều đền phủ tư nhân, hay các “công ty” tôn giáo tâm linh”, ông Lương Hồng Quang.

— — — oOo — — —

“Nóng” chuyện quản lý tiền công đức.

Anh Thu – (Báo Văn Hóa Việt Nam Online).
http://www.baovanhoa.vn/Doisong/44213.vho

Đốt nhiều đồ mã nơi thờ tự, thiếu minh bạch trong quản lý tiền công đức, quá tải, lộn xộn tại các lễ hội…, đó là những vấn đề “nóng”, nổi cộm đã được đề cập tại Hội nghị sơ kết công tác quản lý và tổ chức lễ hội đầu năm 2012 do Bộ VHTTDL tổ chức ngày 30.3 tại TP Uông Bí (tỉnh Quảng Ninh).

Chuyển biến mạnh

Không chỉ có sự tham gia của đại diện Sở VHTTDL 35 tỉnh, thành có nhiều lễ hội và BQL 12 di tích trọng điểm trong cả nước, Hội nghị còn có sự góp mặt của các Thượng tọa, Đại đức, trụ trì một số di tích, cơ sở thờ tự.

“Bên cạnh chuyển biến tích cực còn có nhiều câu chuyện nan giải đang đặt ra trong công tác quản lý và tổ chức lễ hội, hằng ngày hằng giờ đòi hỏi các cơ quan lý cần nỗ lực tìm kiếm, hiến kế giải pháp nhằm tháo gỡ…”, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Huỳnh Vĩnh Ái nhấn mạnh.

Nhìn nhận hàng loạt bài toán thực tế, tồn tại kéo dài qua nhiều mùa lễ hội, Thứ trưởng Huỳnh Vĩnh Ái cũng chia sẻ, quản lý và tổ chức lễ hội là một đề tài thực sự khó. Những hạn chế thiếu sót, những hiện tượng phản cảm đang làm biến chất tính thiêng của lễ hội. Ông cũng cho rằng, trước thực tế này, nhà quản lý không thể làm ngơ mà phải thực sự trăn trở tìm giải pháp, trước hết để đáp ứng được nhu cầu tâm linh tín ngưỡng cho mỗi khách hành hương. “Chúng ta không cầu toàn rằng ngay mùa lễ hội năm tới, những tiêu cực sẽ hết nhưng phải làm sao để giảm càng nhiều càng tốt. Khi khuôn viên các di tích không thể mở rộng mà lượng người đổ về quá đông thì tìm giải pháp để dung hòa, cân bằng càng trở nên cấp bách”, Thứ trưởng nhấn mạnh.

Ông Trần Minh Chính, Phó Cục trưởng phụ trách Cục Văn hóa cơ sở, Bộ VHTTDL cho biết, ngay từ đầu mùa lễ hội, nhiều vấn đề nổi cộm đã được Bộ VHTTDL tập trung chỉ đạo nhằm tìm giải pháp khắc phục như mô hình quản lý di tích, xử lý tiền giọt dầu, tiền công đức; sản xuất, tiêu thụ và vận chuyển đồ mã; công tác quy hoạch lễ hội, đảm bảo an ninh trật tự và thực hiện nếp sống văn hóa trong hoạt động lễ hội…

Bên cạnh các đoàn kiểm tra trực tiếp do Bộ trưởng và các Thứ trưởng làm trưởng đoàn tiến hành kiểm tra công tác chuẩn bị và tổ chức tại các địa bàn tập trung nhiều lễ hội, Bộ VHTTDL đã chỉ đạo Viện VHNT VN phối hợp với Sở VHTTDL, UBND TP Nam Định xây dựng Đề án tổ chức lễ khai ấn Đền Trần (Nam Định) 2012, không phát ấn vào đêm 14 tháng Giêng để khắc phục tình trạng lộn xộn đã xảy ra trong mùa khai ấn năm 2010 và 2011. Thanh tra Bộ cũng đã lập kế hoạch thanh, kiểm tra sâu rộng tại 18 tỉnh với 52 điểm di tích, cơ sở tôn giáo tín ngưỡng vào các thời điểm trước, trong và sau Tết Nguyên đán…

Một thực tế đã được ghi nhận rõ nét, mùa lễ hội năm nay, công tác chuẩn bị đã được các địa phương thực hiện chu đáo. BQL di tích Chùa Hương, Hà Nội đã hướng dẫn cho 4.600 chủ đò chuẩn bị các điều kiện phục vụ du khách, thực hiện nếp sống văn hóa và hướng dẫn du khách đảm bảo vệ sinh môi trường. BTC lễ hội đền Trần (NamĐịnh) đã lắp đặt hệ thống biển báo giao thông tại khu vực lễ hội. Chùa Hương Tích (Hà Tĩnh) đã xây lắp hệ thống cáp treo phục vụ du khách… Ông Trần Minh Chính khẳng định, công tác quản lý nhà nước được phát huy đã tạo chuyển biến mạnh. Cảnh quan văn hoá lễ hội ngày một tốt hơn; nhiều hủ tục lạc hậu, tệ nạn xã hội từng bước được khắc phục, nhất là tệ mê tín dị đoan và nạn hành khất đeo bám du khách. Hiện tượng xâm hại di tích đã giảm, các di tích gắn với lễ hội đều được tu bổ khang trang hơn; cơ sở hạ tầng, cơ sở lưu trú dịch vụ được nâng cấp cải tạo…

Đáng kể, việc đặt tiền lễ, tiền giọt dầu đã có chuyển biến tích cực. BTC lễ hội đã hướng dẫn nhân dân đặt tiền đúng nơi đúng chỗ, bố trí lực lượng thu gom kịp thời, tình trạng ném tiền bừa bãi đã được chấn chỉnh một bước. Điển hình như tại Ga Cáp Treo (Chùa Hương) đã hạn chế việc khách hành hương ném tiền tại ga và khu vực phía dưới; các hiện tượng phản cảm nhét tiền vào tay Phật, hang động và trên ban thờ… đã giảm hẳn ở nhiều nơi, tiêu biểu là Phủ Dày (Nam Định), Chùa Bái Đính (Ninh Bình), Côn Sơn- Kiếp Bạc (Hải Dương), lễ hội Tây Thiên (Vĩnh Phúc)…

TV.GĐPT – Trích dẫn nhấn mạnh của Báo Văn Hóa Việt Nam Online:

Cần nghiên cứu và có giải pháp quản lý tốt, minh bạch nguồn tiền này, trước hết để những người làm công đức thấy được ý nghĩa của những đồng tiền khi được sử dụng đúng địa chỉ, mục đích. Đó cũng còn là uy tín của các cơ sở tín ngưỡng, thờ tự… Tuy nhiên, không nên hiểu rằng Nhà nước sẽ thu tiền công đức, giọt dầu mà chỉ nhằm mục đích định hướng, hướng dẫn cách quản lý sử dụng tiền công đức sao cho minh bạch, đúng mục đích mà thôi. (Thứ trưởng Huỳnh Vĩnh Ái).

Đối với tiền công đức, Nhà nước có thể can thiệp ở góc độ định hướng giúp các cơ sở tôn giáo tín ngưỡng quản lý và sử dụng tốt nguồn tiền công đức mà các phật tử, khách hành hương đã tin cậy gửi gắm. Tuy nhiên, không nên bắt buộc có một mô hình thống nhất cho việc quản lý này ở các cơ sở tín ngưỡng, thờ tự… (Thượng toạ Thích Thanh Quyết – Trụ trì chùa Yên Tử).

Nhiều nơi, quản lý tiền công đức đang là nguyên nhân dẫn đến những lộn xộn, phản cảm. Một số đền, chùa có quá nhiều hòm, khay đựng tiền công đức, giọt dầu. Phiếu thu tiền công đức nhưng lại không có số sê ri, cũng không ghi sổ. Thậm chí ở Chùa Bái Đính (Ninh Bình), Hoà thượng Thích Thanh Tứ đã viên tịch từ cuối năm 2011 nhưng đầu mùa lễ hội 2012, tờ ghi nhận công đức ở đây vẫn có chữ ký và tên của ông. (Phó Chánh thanh tra Bộ VHTTDL Phạm Xuân Phúc).

 — — — oOo — — —

Vẫn nóng chuyện quản lý tiền công đức.

Thanh Hằng – (Báo Công An Nhân Dân Online).
http://www.cand.com.vn/vi-VN/xahoi/2012/4/168952.cand

Việc phân cấp quản lý các di tích, nơi thờ tự chưa thống nhất nên việc thu, chi và quản lý tiền công đức, tiền giọt dầu mạnh ai nấy làm. Thậm chí, tại xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên (Nghệ An) đã nghĩ ra cách “khoán” tiền công đức. Theo đó, những năm trước mức khoán là 600 triệu/năm và riêng năm 2012, mức khoán của nhà đền đã lên tới con số giật mình: 900 triệu đồng…

Mùa lễ hội 2012 đang dần khép lại. Cần nhìn nhận lại những mạnh, yếu để rút kinh nghiệm cho mùa hội sau và đó là lý do để ngày 30/3, Bộ VH,TT&DL tổ chức đánh giá lại công tác quản lý lễ hội.

Theo Thứ trưởng Bộ VH,TT&DL Huỳnh Vĩnh Ái, mùa lễ hội 2012 đã có sự chuyển biến tích cực, đặc biệt là tại đền Trần (Nam Định), Bộ VH,TT&DL đã không phát ấn vào đêm 14 tháng Giêng, nên công tác đảm bảo ANTT và tình trạng chen lấn trước đây được khắc phục. Công tác quảng bá hiệu quả nên lượng khách tăng hơn trong mùa hội này: Chùa Hương (Hà Nội) ngày cao điểm đón 60 vạn khách, Yên Tử (Quảng Ninh) đón 70 vạn khách, Đền Hùng đón 2,5 triệu khách, Đền Trần (Nam Định) đón trên 30 vạn khách v.v… Nhìn chung, hiện tượng tiêu cực trong lễ hội đã giảm.

Các đại biểu cũng thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế vẫn diễn ra ở mùa hội này: tình trạng ùn tắc giao thông cục bộ vẫn xảy ra, như ở chợ Viềng (Nam Định) hay đánh bạc, xóc thẻ, lên đồng, bói toán ở Đền Cồn (Nghệ An), Chùa Bà (Bình Dương), hội Lim (Bắc Ninh), Hội Gióng (Hà Nội)… Cá biệt có hiện tượng gây phản cảm như diễn viên vừa hát quan họ vừa ngả nón xin tiền ở Hội Lim, hay đốt nhiều đồ mã gây lãng phí ở đền Bà Chúa Kho. Một số nơi vẫn còn hiện tượng cờ bạc, sinh hoạt tín ngưỡng không văn minh, ăn mặc cẩu thả, thắp hương nhiều, xả rác bừa bãi, ảnh hưởng đến cảnh quan di tích.

Một vấn đề tiếp tục được các đại biểu quan tâm là công tác quản lý nguồn thu từ lễ hội, di tích của một số địa phương còn buông lỏng, thiếu công khai, minh bạch tạo điều kiện cho một số cá nhân thu lợi, trong khi chưa đầu tư trở lại cho di tích tương xứng dù đây là nguồn thu khổng lồ. Tuy nhiên, dường như chưa cớ phương án khả thi được đưa ra.

Hiện nay, việc phân cấp quản lý các di tích, nơi thờ tự chưa thống nhất nên việc thu, chi và quản lý tiền công đức, tiền giọt dầu mạnh ai nấy làm. Theo ông Nguyễn Xuân Phúc, Phó Chánh Thanh tra Bộ VHTT&DL, chính mô hình quản lý này dẫn đến sự không thống nhất trong chia sẻ quyền lợi. Mỗi di tích lại có một cấp, hoặc nhiều cấp cùng quản lý. Nơi do cơ quan Nhà nước quản lý, nơi do đoàn thể, nơi do sư trụ trì, thủ từ… Vì vậy, việc quản lý thu – chi tiền công đức ở mỗi di tích cũng khác nhau và tiền thu được chia theo tỉ lệ khác nhau. Thậm chí, tại xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên (Nghệ An) đã nghĩ ra cách “khoán” tiền công đức.

Theo đó, những năm trước mức khoán là 600 triệu/năm và riêng năm 2012, mức khoán của nhà đền đã lên tới con số giật mình: 900 triệu đồng. Thậm chí, ở chùa Bái Đính, đầu mùa lễ hội năm 2012, khi đóng góp công đức, người dân nhận được giấy ghi nhận có chữ ký của cố Hòa thượng Thích Thanh Tứ, dù Hòa thượng đã viên tịch từ năm 2011.

PGS.TS Lương Hồng Quang – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu VHNT Việt Nam đánh giá: “Ai cũng biết số tiền công đức rất lớn nhưng không ai nắm được, nên cũng không biết việc chia sẻ lợi ích thế nào. Từ đó xảy ra hiện tượng lợi dụng công đức để tư lợi, xuất hiện nhiều đền phủ tư nhân, “công ty” tôn giáo tâm linh. Hệ thống đền phủ tư nhân không bị quản lý và không kiểm soát được”.

Thượng tọa Thích Thanh Quyết, trụ trì chùa Yên Tử cho rằng, bản chất của tiền công đức là lòng thành của phật tử, vì thế nếu cơ quan quản lý giúp đỡ, hướng dẫn nhà chùa sử dụng một cách hợp lý, chặt chẽ, minh bạch thì sẽ phát huy hiệu quả của số tiền này.

Thứ trưởng Bộ VH,TT&DL Huỳnh Vĩnh Ái đồng tình với quan điểm này: trước sự lộn xộn của việc quản lý, thu- chi tiền công đức tại nhiều lễ hội, đình đền, các cơ quan quản lý cần phải có biện pháp giúp đỡ. Nhà nước không phải là quản lý hay thu tiền công đức của nhân dân mà chỉ định hướng cách quản lý, sử dụng tiền công đức minh bạch, đúng mục đích, tránh vụ lợi.

Cùng với xúc tiến hoàn thành quy hoạch lễ hội, Bộ VH,TT&DL đang nghiên cứu, tìm hiểu các mô hình quản lý tiền công đức hiệu quả ở một số di tích, lễ hội có hiệu quả, từ đó, có đề án hướng dẫn mô hình quản lý tiền công đức phù hợp.

— — — oOo — — —

Chân dung Thứ Trưởng Huỳnh Vĩnh Ái với lời chú: “…Bác định quản lý công đức nào?”. Ảnh đăng trên http://www.phattuvietnam.net

— — — oOo — — —

2) Và đây, những ý kiến trung dung hoặc phê phán đề nghị “đòi” quản lý tiền công đức

Đang cập nhật…

Ban hành Thông tư quản lý tiền công đức?

Quần Anh – (Báo Tôn Giáo & Dân Tộc Online).
http://www.tongiaovadantoc.com/c1037/20120403082300743/ban-hanh-thong-tu-quan-ly-tien-cong-duc-.htm

Nguồn tài chính / tài sản của các tổ chức tôn giáo cũng như các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo được nhà nước cho phép hoạt động, ít nhiều đều có nguồn gốc từ tiền công đức. Việc Bộ VH-TT-DL sẽ cho ra đời một văn bản quy phạm pháp luật chỉ áp dụng riêng cho các cơ sở tín ngưỡng dân gian và các cơ sở thờ tự của Phật giáo. Liệu đây có được coi là vấn đề kỳ thị, phân biệt đối xử giữa các tôn giáo hay không? (http://chuaphuclam.vn)

Một khi cái thông tư quản lý tiền công đức này có hiệu lực, rõ ràng sẽ là hành lang pháp lý để các quan nhảy vào “ôm” tài sản của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo khiến tín đồ, người dân nghi ngờ về tính khả tín của nó, và đương nhiên họ sẽ hạn chế hoặc dừng hẳn việc công đức.(http://www.tongiaovadantoc.com)

 

Kể từ ngày Luật Di sản Văn hóa có hiệu lực từ ngày 01/01/2002 và Pháp lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo có hiệu lực từ ngày 15/11/2004, hàng năm sau dịp Tết Nguyên đán, các lễ hội mang tính tín ngưỡng tâm linh nổ rộ trên phạm vi cả, nhất là miền Bắc.

Ba nội dung báo chí thường xuyên xào nấu của nhau về các lễ hội là:

1/ Đưa tin về các lễ hội đã, đang và sẽ diễn ra ở địa phương này hay địa phương khác.

2/ Phản ánh mặt trái nhiều hơn mặt tốt của các lễ hội.

3/ “Nhòm ngó” và đoán mò, thổi phồng số lượng tiền công đức của một vài di tích đền, chùa lên đến hàng chục, hàng trăm tỷ, thậm chí có tờ báo còn dung tục hóa xem thùng công đức là “cái máy đẻ ra tiền” để từ đó đặt vấn đề rằng các cơ quan Nhà nước phải “vào cuộc” quản lý tiền công đức đối với cơ sở tín ngưỡng, đền, chùa nơi thờ tự.

Chưa đủ yếu tố cần và đủ để quản lý tiền công đức

Có thể tóm tắt ba lý do căn bản để đặt ra vấn đề quản lý tiền công đức, đó là:

1/ Lộn xộn trong công tác quản lý tiền công đức.

2/ Tiền công đức do dân đóng góp. Cho nên người dân có quyền được biết tiền họ đóng góp được sử dụng như thế nào. Và

3/ Việc thu-chi tiền công đức cần phải được công khai, minh bạch cho mọi người đều biết.

Trên cơ sở những quy định hiện hành, người viết lần lượt phân tích ba lý do trên đây để xem đó có phải là điều kiện cần và đủ để các cơ quan chức năng “nhảy vào” quản lý tiền công đức, vốn là tài sản của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo.

 – Về lý do thứ nhất: Nguyên nhân dẫn đến việc quản lý tiền công đức lộn xộn ở một số cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, là di tích văn hóa lịch sử, danh lam thắng cảnh, ở một số địa phương hiện nay, nhất là ở miền Bắc, là do sự lập lờ hay cố tình không xác lập chủ sở hữu di tích.

Điều 5, Luật Di sản Văn hóa năm 2001 quy định: “Nhà nước công nhận và bảo vệ các hình thức sở hữu tập thể, sở hữu chung của cộng đồng, sở hữu tư nhân và các hình thức sở hữu khác về di sản văn hóa theo quy định của pháp luật.

Theo điều luật này, mặc dù các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo được công nhận di tích, tức di sản văn hóa, nhưng nhà nước vẫn không tước bỏ cái quyền sở hữu tập thể, sở hữu chung của cộng đồng đối với di tích/ di sản đó.

Đình, đền, miếu mạo là do cộng đồng dân cư địa phương chung nhau xây dựng nên và các cơ sở tôn giáo là do tín đồ, nhà tu hành tôn tạo, nay được nhà nước công nhận là di tích văn hóa lịch sử. Như vậy, đối với cơ sở tín ngưỡng dân gian, chủ sở hữu đương nhiên phải là cộng đồng dân cư địa phương. Đối với cơ sở tôn giáo, chủ sở hữu chính là Giáo hội mà đại diện là tín đồ, nhà tu hành. Mà đã là chủ sở hữu cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo hiển nhiên cũng là chủ quản lý tài sản (bao gồm: động sản và bất động sản) của cơ sơ tín ngưỡng, tôn giáo đó.

Tiền công đức do tín đồ, người dân tự nguyện phát tâm tiến cúng cho nhà đền, nhà chùa chính là tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo. Khoản 2. Điều 9 của Luật Di sản Văn hóa quy định:  “Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu di sản văn hóa.” Điều 26, Pháp lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo năm 2004 cũng quy định: “Tài sản hợp pháp thuộc cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ, nghiêm cấm việc xâm phạm tài sản đó.”

Hơn nữa, pháp luật quy định các cơ quan chức năng chỉ quản lý các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo về phương diện hành chính, không quản lý về tài sản.

Việc mỗi di tích lại có một cấp, hoặc nhiều cấp khác nhau cùng quản lý, nơi do cơ quan Nhà nước quản lý như UBND, Sở VHTT&DL, nơi do Hội Người cao tuổi, Hội cựu chiến binh, UB MTTQVN … là không đúng với quy định trên. Tại sao? Đơn giản vì các cơ quan, đoàn thể này không phải là sở hữu chủ của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo nên cũng không có quyền quản lý tài sản của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo.

Vấn đề được đặt ra là tại sao sao các cơ quan chức năng biết rõ đó là những sai phạm trong việc quản lý về nhà nước đối với các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo của các cơ quan, đoàn thể này mà vẫn không cương quyết xử lý triệt để, cứ để cho sự quản lý trái luật này nhởn nhơ tồn tại, để rồi viện cớ vào đó hợp thức hóa việc quản lý tiền công đức – tài sản của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo – bằng văn bản quy phạm pháp luật???

– Về lý do thứ hai: Hòm công đức, trong đạo Phật còn gọi là Tam Bảo phước điền hay là hòm phước sương, được đặt tại những nơi trang nghiêm trong các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, nhằm mục đích hướng tín đồ tích đức tu nhân.

Việc đặt hòm công đức được Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2004 quy định khoản 1, điều 28: “Cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo được tổ chức quyên góp, nhận tài sản hiến, tặng, cho trên cơ sở tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân ngoài nước.”

Trong việc đặt hòm công đức, hầu hết các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo không có quy định bắt các tín đồ, người dân đi lễ phải bỏ tiền nhiều ít vào thùng công đức. Việc các tín đồ, người dân đi lễ bỏ tiền vào thùng công đức là việc làm tự nguyện, tự giác. Theo điều 465, Luật Dân sự năm 2005 thì đây được xem hợp đồng tặng cho không có điều kiện bằng một thỏa thuận ngầm giữa người cúng/người cho và người nhận/ chủ quản lý cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo.

Và theo điều 234 của bộ luật này, tại thời điểm tín đồ, người dân tự nguyện bỏ tiền vào thùng công đức chính là thời điểm tín đồ, người dân đó đã chuyển giao quyền sở hữu số tiền/tài sản đó cho người được giao/chủ quản lý cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo số tiền/ tài sản đó.

Do đó, tín đồ, người dân tự nguyện phát tâm bỏ tiền vào thùng công đức không có quyền yêu cầu, đòi hỏi chủ quản lý cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo cho biết số tiền họ đóng góp không có điều kiện ấy được sử dụng như thế nào, đi về đâu?

Ngoại trừ trường hợp các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo có thông báo tổ chức vận động các tín đồ, người dân phát tâm công đức tiền của để thực hiện việc gì đó như xây dựng, trùng tu, sửa chữa nơi thờ tự, hoặc làm từ thiện, thì người phát tâm công đức mới có quyền đòi hỏi được biết số tiền họ đóng góp có sử dụng đúng mục đích hay không vì theo điều 470, Luật Dân sự, đây là hợp đồng tặng cho có điều kiện.

Có thể nói, việc đưa ra lý do, rằng tiền công đức do dân đóng góp nên người dân có quyền được biết tiền họ đóng góp được sử dụng như thế nào để đặt vấn đề quản lý là hoàn toàn không có cơ sở pháp luật.

– Về lý do thứ ba: Cho đến nay, Hiến pháp năm 1992, Pháp lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo năm 2004 và Luật Di sản Văn hóa năm 2001 và Luật Di sản Văn hóa sửa đổi, bổ sung năm 2009, là những bộ luật cao nhất liên quan đến vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, và di tích văn hóa lịch sử, danh lam thắng cảnh, chưa có bất kỳ một điều khoản nào quy định các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo cũng như các tổ chức tôn giáo phải công khai minh bạch việc thu-chi tiền công đức.

Do đó, các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo và các tôn giáo không nhất thiết phải công khai minh bạch việc thu-chi tiền công đức cho bất cứ cá nhân, tổ chức không phải là thành viên/hội viên của mình. Các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo và các tổ chức tôn giáo chỉ phải công khai minh bạch việc thu-chi tiền công đức cho các thành viên/hội viên có tham gia trong tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo của mình và công khai minh bạch vào thời điểm thích hợp như sơ kết 6 tháng đầu năm, tổng kết cuối năm.

Pháp luật hiện hành không có quy định nào cho phép tổ chức, cá nhân không có trách nhiệm đối với các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, và các tổ chức tôn giáo được quyền đòi hỏi được biết việc thu-chi tiền công đức của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, và các tổ chức tôn giáo nào đó.

Hiện nay, chỉ có khoản 2, điều 28 Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo quy định: “Việc tổ chức quyên góp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo phải công khai, rõ ràng mục đích sử dụng và trước khi quyên góp phải thông báo với Uỷ ban nhân dân nơi tổ chức quyên góp.”

Trên thực tế, nếu cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo và các tổ chức tôn giáo nào có vấn đề khuất tất, mờ ám trong việc thu-chi tiền công đức thì chắc chắn các thành viên/hội viện của cơ sở đó đã tố cáo với cơ quan chức năng để xử lý theo quy định pháp luật.

Do đó, yêu cầu phải được công khai, minh bạch thu-chi tiền công đức trong hợp đồng tặng cho không điều kiện cho mọi người đều biết cũng chưa có cơ sở pháp luật.

Có thể ban hành cái gọi là thông tư quản lý tiền công đức hay không?

Sau khi báo Thanh Niên đưa tin Thứ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (VH-TT-DL) Huỳnh Vĩnh Ái đề nghị Vụ Kế hoạch – Tài chính tham mưu cho Bộ, phối hợp cùng Bộ Tài chính sớm đưa ra thông tư về quản lý tiền giọt dầu, công đức, cung tiến trong các cơ sở tín ngưỡng, đền chùa, nơi thờ tự, đã có ý kiến nhiều phản hồi của chư tôn đức và phật tử xung quanh vấn đề này.  Người viết chỉ xin nêu thêm vấn đề về tính pháp lý của cái gọi là thông tư quản lý tiền công đức sắp được ban hành bởi Bộ VH-TT-DL.

– Theo Nghị định số 185/2007/NĐ-CP, ngày 25/12/2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ VH-TT-DL,  Bộ này không có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, ngoại trừ một số cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo đã xếp hạng di tích. Vậy liệu Bộ này có định bóp còi vượt đèn đỏ, qua mặt Ban Tôn giáo Chính phủ – Bộ Nội vụ để ban hành một thông tư thuộc vấn đế tín ngưỡng, tôn giáo đang gây tranh cãi hay không?

– Một trong năm nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại khoản 1, điều 3, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 là phải “bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật.” Như đã phân tích trên, liệu thông tư quản lý tiền công đức có đảm bảo nguyên tắc này hay không nếu ban hành?

– Nguồn tài chính/tài sản của các tổ chức tôn giáo cũng như các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo được nhà nước cho phép hoạt động, ít nhiều đều có nguồn gốc từ tiền công đức. Việc Bộ này sẽ cho ra đời một văn bản quy phạm pháp luật chỉ áp dụng riêng cho các cơ sở tín ngưỡng dân gian và các cơ sở thờ tự của Phật giáo. Liệu đây có được coi là vấn đề kỳ thị, phân biệt đối xử giữa các tôn giáo hay không?

– Hàng năm Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đều có báo cáo phúc trình về vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo của một số nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Việc Bộ VH-TT-DL cho ra đời thông tư quản lý tiền công đức trong các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo là một cơ sở để họ đánh giá về vấn đề hạn chế tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, nếu không muốn nói là can thiệp quá sâu vào nội bộ tín ngưỡng, tôn giáo, bởi vì một khi cái thông tư này có hiệu lực, rõ ràng sẽ là hành lang pháp lý để các quan nhảy vào “ôm” tài sản của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo khiến tín đồ, người dân nghi ngờ về tính khả tín của nó, và đương nhiên họ sẽ hạn chế hoặc dừng hẳn việc công đức.

Đây là điều hết sức nguy hiểm liên quan đến sự tồn vong của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo. Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập quốc tế, liệu Bộ VH-TT-DL có mạo hiểm thách đố các quốc gia trên thế giới về vấn đề tự do tôn giáo trong việc ban hành thông tư này?

– Hiện nay trên thế giới, chưa có nhà nước nào “nhúng tay” quản lý tài sản của các tổ chức tôn giáo bằng văn bản quy phạm pháp luật. Nếu Bộ VH-TT-DL cho chào đời thông tư này thì đó chính là văn bản vô tiền khoáng hậu về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trên thế giới ngày nay.

Ngày 31/3, báo Tuổi trẻ dẫn lời ông Huỳnh Vĩnh Ái- Thứ trưởng Bộ VH-TT-DL nói: “Nhà nước không quản lý thu tiền giọt dầu, công đức của cơ sở thờ tự. Đừng cho rằng Nhà nước thu phí giao thông nọ kia rồi giờ đến thu tiền công đức. Tất cả các nghiên cứu sẽ chỉ đưa ra một phương thức thôi. Nhà nước không cần biết thu được bao nhiêu, mà chỉ hướng dẫn để thu chi cho minh bạch. Bởi vì phải công nhận tình trạng quản lý tiền công đức hiện nay rất lộn xộn, nhiều nơi đấu với nhau, giành nhau giữ cơ sở thờ tự làm mất đi cái thiêng của đền, chùa”.

Đến đây mọi người đã tự rút ra câu trả lời về việc Bộ VH-TT-DL có thể ban hành cái gọi là thông tư quản lý tiền công đức trong tương lai hay không?

— — — oOo — — —

Về cái gọi là “Thông tư quản lý tiền công đức” sắp được ban hành

Thích Thanh Thắng
http://chuaphuclam.vn/index.php?/phat-giao-trong-nuoc/ve-thong-tu-quan-ly-tien-cong-duc.html

Mới đây, Thứ trưởng Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch Huỳnh Vĩnh Ái đã đề nghị Vụ Kế hoạch – Tài chính tham mưu cho Bộ, phối hợp cùng Bộ Tài chính sớm đưa ra thông tư về quản lý tiền giọt dầu, công đức, cung tiến…

Chính khái niệm “quản lý” này đã nảy sinh không ít tranh luận và cách hiểu khác nhau. Có người bảo vấn đề quá nhạy cảm không nên đụng đến, người thì bảo cần công khai tiền công đức, thậm chí đánh thuế thu nhập của nhà chùa…

Trước vấn đề này, ông Huỳnh Vĩnh Ái giải thích: “Ở đây không phải nhà nước thu tiền công đức của dân mà khi phát sinh nguồn thu cần phải minh bạch và được quản lý”.

Mục đích ra đời của thông tư được giải thích là nhằm quản lý tiền công đức hiệu quả; chế tài rõ ràng về việc sử dụng tiền công đức như thế nào, cho những nội dung cụ thể gì; quy định về cơ chế thanh quyết toán, thẩm quyền xử lý liên quan đến việc chi tiêu tiền công đức…

Báo Thanh Niên đặt câu hỏi “Ai quản lý tiền công đức?”, đồng thời phân tích: “Hiện nay, mô hình quản lý di tích chưa thống nhất, vì vậy, mỗi di tích lại có một cấp, hoặc nhiều cấp khác nhau cùng quản lý: cơ quan quản lý (như các UBND, Sở VH-TT-DL…), nhân dân (như Hội người cao tuổi, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc…), cá nhân (sư trụ trì, thủ từ…). Do vậy, tiền quản lý công đức ở mỗi di tích cũng được quản lý khác nhau: nơi do cá nhân tự thu – chi, nơi do nhiều cấp thu và quản lý, tiền thu được chia theo những phần trăm khác nhau. Chẳng hạn như tại chùa Hương, ông Nguyễn Chí Thanh – Trưởng ban Quản lý di tích Hương Sơn (Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội) – cho hay ban quản lý chỉ thu phí thắng cảnh, đò, thuê hàng quán…, còn tiền giọt dầu, công đức, cung tiến từ trước tới nay đều do nhà chùa tự thu và quản lý. Trong khi đó, tiền công đức tại đền Bà Chúa Kho do Hội người cao tuổi của phường (Cổ Mễ, Vũ Ninh, TP.Bắc Ninh) thu và quản lý…”.

Thực tế khi lượng tiền công đức đổ về các đền chùa, miếu mạo ngày một tăng thì đã có khá nhiều các cơ quan, tổ chức quan tâm đến việc “quản lý”. Vấn đề là khi thông tư ra đời thì cấp nào, hội nào sẽ quản lý? Đối tượng nào nằm trong diện phải quản lý? Quản lý như thế nào? Ai là người giám sát sự quản lý đó? Bởi vấn đề có minh bạch được hay không phụ thuộc rất nhiều vào “người quản lý” và “người giám sát”.

Xin đơn cử trong lĩnh vực tiền công đức thuộc phạm vi nhà chùa quản lý. Khi Giáo hội cử vị sư có đầy đủ tài đức về quản lý động sản, bất động sản và chăm sóc đời sống tinh thần, tâm linh của nhân dân là Giáo hội đã trực tiếp tin tưởng giao phó cho vị ấy theo đúng tinh thần của Hiến chương Giáo hội. Đồng thời chính Phật tử và nhân dân địa phương sẽ là “người giám sát” tốt nhất không chỉ về đạo đức tu hành của vị sư mà còn cả những vấn đề thu chi từ tiền công đức nữa.

Vậy thì đặt vấn đề “ai quản lý” tiền công đức trong phạm vi nhà chùa là thừa, vì như thế chẳng khác gì dùng “quản lý” để chồng lên “quản lý”, nói một cách cụ thể là “thế tay thợ đẽo”.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một tổ chức xã hội với đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý, được vận hành từ cấp trung ương đến cấp địa phương, do đó không ai khác, chính Giáo hội phải kiện toàn bộ máy để làm sao quản lý một cách minh bạch, hiệu quả các nguồn nhân lực, vật lực của mình. Thế nên, đối với các cơ sở tôn giáo thuộc về một tổ chức Giáo hội thì cần phải có cơ chế giám sát, để các hoạt động tài chính được minh bạch. Còn đối với những đền, miếu không thuộc một tổ chức tôn giáo quản lý thì phải giao cho cơ quan cụ thể quản lý.

Chẳng hạn sự thiếu minh bạch xảy ra khi tiền công đức không được công khai, không được quản lý bằng sổ sách, hay có những nơi người ta dùng tiền công đức của thập phương để chi tiêu vào những việc của cá nhân, làm giàu cho gia đình thế tục của mình một cách đáng ngờ. Vì thế, việc nhà nước ra quan tâm tới việc quản lý tiền công đức là phù hợp với thực tiễn khách quan.

Tuy nhiên, cần phải xác định rõ khái niệm “quản lý” này. Bởi đối với các đền phủ, miếu mạo không thuộc một tổ chức tôn giáo quản lý thì việc cắt cử cơ quan “quản lý” tiền công đức là đương nhiên. Nhưng đối với các chùa, nhà thờ, thánh thất của các tôn giáo cụ thể được nhà nước công nhận về tính pháp lý thì không nên đặt ra khái niệm “quản lý” mà chỉ cần có cơ chế hướng dẫn, giám sát để các hoạt động thu chi diễn ra một cách minh bạch, công khai.

Chẳng hạn tài sản đứng tên cá nhân trong các ngân hàng phải được hiểu là tài sản của chính ngôi chùa mà nhà sư đó trụ trì.

Như vậy, trước thực tế này, Giáo hội cần phải điều chỉnh công tác quản lý của mình, thậm chí phải đưa vấn đề quản lý tiền công đức vào Hiến chương, thông qua hướng dẫn báo cáo định kỳ. Từ đó, căn cứ vào thực tế báo cáo thu chi để xác định mức phí mà các cơ sở tự viện phải đóng cho Giáo hội. Đóng phí cho Giáo hội cần được hiểu là trách nhiệm và nghĩa vụ của các tự viện.

Tuy nhiên, số tiền đó được chi dùng vào việc gì, cơ chế giám sát ra sao cũng cần phải được quy định cụ thể, nhằm minh bạch mọi hoạt động thu chi.

Nhưng thế nào thì gọi là “tiền công đức”. Ở một số chùa, đền, miếu thuộc di tích lịch sử có đông người hành hương thì tiền được bỏ nhiều vào thùng công đức, được ghi phiếu công đức, hay được thu rải rác từ các ban thờ. Còn hầu hết các chùa trên cả nước, số tiền bỏ vào thùng công đức gần như không đủ để chi tiêu cho các việc sinh hoạt, điện nước, hoa trái cúng Phật, hoặc các chi phí nuôi chúng tăng ăn học…

Thậm chí tiền do các thí chủ vì mến mộ tài đức mà cúng riêng cho vị trụ trì, hay tiền do các hoạt động nghi lễ mang lại cũng được vị trụ trì bỏ ra chăm sóc cho các hoạt động Phật sự tại chùa.

Nếu họ thiếu tiền sinh hoạt, nhà nước có tài trợ hay cấp kinh phí, cấp lương cho họ sinh hoạt hay không? Vậy thì quản lý “tiền công đức” ở đây là “quản lý” tại các chùa di tích, có đông người hành hương tham quan mà không có các vị sư trụ trì (chức sắc tôn giáo), hay quản lý thùng công đức tại tất cả các chùa, đình, đền, miếu, nhà thờ, thánh thất… nói chung? Nếu không xác định cụ thể sẽ gây ra những hoài nghi và phản ứng trong dư luận.

Bởi toàn bộ số tiền mà một tín đồ cúng vào các cơ sở tôn giáo đã được tính thuế thu nhập, thuế kinh doanh, vì thế khi họ tình nguyện trao tặng số tiền đó cho các cơ sở tôn giáo hoạt động, thậm chí cúng riêng cho vị cai quản cơ sở tôn giáo cũng là điều hoàn toàn hợp pháp. Số tiền ấy không thể được gộp chung với khái niệm “tiền công đức” như của khách hành hương, vãng lai được.

Vấn đề là số tiền ấy, cho dù vị trụ trì có dành dụm, cất giữ thì sau khi mất đi cũng phải giao lại cho người kế nhiệm quản lý, chứ không thể chia theo luật thừa kế được. Thực tế, có một số vị chức sắc, chùa rất ít khách vãng lai, nhưng vẫn được cúng dường khá nhiều tiền, có tài khoản lớn ở ngân hàng, vậy sau khi vị ấy viên tịch, số tài khoản này cần phải được giao về cho Giáo hội quản lý, không thể để số tiền đó lọt ra bên ngoài, tránh xảy ra tình trạng mượn đạo tạo đời.

Ông Huỳnh Vĩnh Ái có khẳng định rằng “không phải nhà nước thu tiền công đức của dân mà khi phát sinh nguồn thu cần phải minh bạch và được quản lý”. Vậy nếu nhà nước không thu tiền công đức của dân, thì khái niệm “quản lý” này được hiểu theo cách nào, áp dụng với đối tượng nào, trường hợp nào? Bởi khái niệm “tiền công đức” và khái niệm “quản lý” là hai khái niệm rộng, có thể gây ra những hiểu nhầm, tạo ra những mâu thuẫn và xung đột lợi ích giữa các cơ quan, tổ chức, nếu không muốn nói là can thiệp quá sâu vào công việc nội bộ của các tổ chức tôn giáo.

Ai cũng rõ, hầu hết các tôn giáo được sinh hoạt chủ yếu nhờ vào tiền công đức của tín đồ, rất ít nơi có các cơ sở kinh doanh. Tuy nhiên, nếu tôn giáo có các cơ sở kinh doanh thì cũng phải đóng thuế một cách bình đẳng như bao công dân khác trong xã hội. Còn các cơ sở tôn giáo khi sinh hoạt dưới danh nghĩa một tổ chức giáo hội thì họ phải thực hiện các trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với tổ chức đó.

Cao hơn tất cả các mục tiêu lợi nhuận, sự tồn tại của cơ sở tôn giáo và cá nhân các vị tu hành còn trở thành niềm tin, tình cảm thiêng liêng nơi mỗi tín đồ. Niềm tin ấy ngày càng gia tăng và gắn bó khi các vị trụ trì tăng trưởng đạo hạnh, có uý tín với cộng đồng. Tiền cúng vào các cơ sở tôn giáo sẽ được chăm lo cho đời sống tinh thần, tín ngưỡng của người dân với nhiều các sinh hoạt tôn giáo phong phú diễn ra quanh năm, từ các lễ hội lớn nhỏ đến các chi phí sinh hoạt hàng ngày. Còn các việc từ thiện xã hội khác, thường được vận đóng đóng góp trực tiếp và tiến hành một cách công khai, minh bạch, dưới sự chứng kiến của người đóng góp, không hề có tư lợi.

Như vậy, đặt vấn đề quản lý “tiền công đức” đối với các tôn giáo không khéo sẽ lợi bất cập hại. Vì sao, vì tiền công đức là một loại tiền đặc biệt, được đóng góp một cách tự nguyện, không chịu bất cứ một ép buộc nào. Một khi tín đồ thấy số tiền công đức của mình cúng vào các cơ sở tôn giáo bị “nhòm ngó”, thì họ sẽ tìm mọi cách để bảo vệ nó. Thực tế, việc bỏ tiền lẻ bên ngoài, không bỏ vào thùng công đức là cách họ tẩy chay thùng công đức. Ở miền Bắc trước kia, ai cũng rõ, thùng công đức không thuộc về các nhà chùa quản lý, mà do một ban nào đó trong xã bầu ra, nhiều khi không minh bạch, không quan tâm cho việc tu sửa chùa chiền… Sau này, có nơi dù nhà nước đã giao cho nhà chùa quản lý thì vẫn chưa xoá bỏ hẳn được tâm lý tẩy chay thùng công đức của người dân.

Nếu tín đồ nghi ngờ số tiền của họ bị chi sai mục đích thì họ sẽ phản ứng. Họ tin vào chức sắc của họ hơn là tin vào các tổ chức ngoài tôn giáo. Và nếu tín đồ họ thấy giáo sản bị người ngoài nhòm ngó, thì theo tâm lý, họ vẫn muốn làm lợi cho tôn giáo của mình, bảo vệ cho được giáo sản ấy. Bởi một khi khoảng cách ý thức hệ giữa giáo quyền và thế quyền còn xa nhau, thì đặt vấn đề “quản lý” tiền công đức nhắm vào các tổ chức tôn giáo chỉ làm gia tăng thêm những mâu thuẫn về lợi ích và gần như không giải quyết được vấn đề gì cả, nếu những cơ quan “quản lý” này phát sinh tiêu cực mới.

Ngay tại ở nước Mỹ, mỗi khi cơ sở tôn giáo có kiểm tra thu chi tài chính, thì gần như họ tìm mọi cách để lách luật bằng việc lập bảng thu chi khống, nhằm làm tròn các con số, và số tiền được kê khai đó cuối cùng cũng không có gì là minh bạch cả.

Ngược lại, ở một số nước như Đức, Phần Lan, Áo, Thuỵ Sĩ… người theo đạo Tin lành còn phải đóng thuế nhà thờ. Số tiền thuế đó sẽ được chuyển cho các nhà thờ sử dụng vào các mục tiêu cộng đồng khác nhau. Luật thuế được ban hành như vậy, nhưng cũng làm giảm đáng kể số lượng tín đồ. Vì thực tế, tiền công đức phải là hành vi tự nguyện, không thể coi như một dạng thuế đánh vào thu nhập.

Nếu cơ sở tôn giáo nào để xảy ra tình trạng thất thoát tiền công đức do cá nhân biển thủ nhằm mượn đạo tạo đời, thì tín đồ phải có kiến nghị với tổ chức tôn giáo đó dùng giáo luật để xử lý. Nếu các cơ quan bảo vệ pháp luật nhà nước nhận được đơn thư tố cáo, kết hợp cùng với tổ chức tôn giáo xác minh, đem vụ việc ra ánh sáng thì sẽ làm cho cuộc sống được lành mạnh hơn, tin chắc các tổ chức tôn giáo và tín đồ sẽ phải tâm phục khẩu phục.

Chúng ta hãy nhìn vào thực tế về quản lý và sử dụng đất đai sẽ rõ. Pháp luật quy định, đất thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước quản lý. Chính những bất cập trong khái niệm “sở hữu” và “quản lý” này đã tạo ra không ít những mâu thuẫn trong quản lý đất đai, tạo ra xung đột lợi ích giữa các tầng lớp nhân dân. Trong đời sống xã hội, quản lý nhà nước còn chưa thể công khai minh bạch được hết các vấn đề, thì đụng vào việc “quản lý tiền công đức” của các tôn giáo, là việc làm mạo hiểm, thế tay thợ đẽo không khỏi đứt tay. Một khi các lực lượng thế tục phải tham gia quản lý “tiền công đức”, thì chẳng khác nào báo động cho một cuộc khủng hoảng niềm tin, bởi các tổ chức xã hội đã không còn tin vào việc “quản lý” của nhau.

Tiền công đức không phải tiền tham nhũng, hối lộ, vì thế chỉ nên khuyến khích các tôn giáo tự quản và sử dụng tiền đó cho các lĩnh vực lợi ích cộng đồng một cách minh bạch là đủ. Nếu thấy các yếu tố không minh bạch, không giúp gì nhiều cho ích lợi cộng đồng, thì tại các chùa công, chùa di tích lịch sử văn hoá cần phải có chế độ thuyên chuyển để tránh tình trạng tiêu cực, tham lam, mượn đạo tạo đời.

Trong trường hợp tiền nhà nước phải rót xuống để trùng tu các di tích lịch sử thì phải quản lý cho thật hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí. Nhiều khi giao cho các nhà sư quản lý tiền trùng tu di tích còn hiệu quả hơn, vì lợi ích của họ gắn với ngôi chùa. Kinh phí nhà nước rót xuống, cộng với tiền công đức (xã hội hoá) sẽ càng làm cho di tích khang trang hơn, tránh được tình trạng “cha chung không ai khóc”. Thực tế, nhiều nơi, tiền trùng tu di tích giao cho nhà chùa, thì họ làm thì tốt hơn hẳn so với việc giao cho các cơ quan quản lý di tích thực hiện.

Không có minh bạch nào trong tôn giáo bằng việc sống với niềm tin nhân quả. Vì các giáo lý, giáo luật đã nói rất nhiều về việc sử dụng tiền công đức của thập phương. Người sống xứng đáng với niềm tin yêu của Phật tử và làm các hoạt động Phật sự mệt mỏi được minh bạch bằng chính nếp sống tu hành thường nhật của họ. Có nhiều vị trụ trì xây ngôi chùa to đẹp cho dân đến lễ bái, sinh hoạt tâm linh, nhưng căn phòng của mình vẫn đơn sơ, không có gì xa xỉ.

Chuyện tiêu cực xảy ra trong đời sống xã hội là luôn luôn có, nhưng chỉ có thể đặt câu hỏi “tiền công đức đi về đâu?”, một khi người dân, tín đồ và người trụ trì cơ sở tôn giáo không còn niềm tin ở nhau. Có bài báo viết về vấn đề tiền công đức như sau: “Không thể nộp hoàn toàn vào ngân sách nhà nước được vì như thế sai mục đích tín ngưỡng người dân. Nhưng cũng không thể đánh thuế được vì đền chùa có phải doanh nghiệp kinh doanh đâu? Và cũng không thể coi quản lý tiền công đức là một nghề vì sẽ là mầm mống của tiêu cực” (Tù mù tiền công đức).

Thiết nghĩ, tiền công đức tự nguyện là một dạng “hợp đồng xã hội đặc biệt” được xây dựng bằng niềm tin và cả sự thành kính nữa. Nên một khi ai đó không còn tin vào hoạt động của một cơ sở tôn giáo nào đó, thì chỉ cần dừng ngay cái việc bỏ tiền vào thùng công đức là được. Bởi ai cũng rõ, người dân từ mua một lít xăng, một thẻ hương đến một cái kẹo cũng đã phải chịu thuế ở trong đó rồi. Không thể có một thứ thuế đánh vào niềm tin thiêng liêng của họ. Và những người không tôn giáo càng không thể quản lý “tiền công đức” của tôn giáo được, vì giáo quyền và thế quyền có hai chức năng chuyên biệt. Nhà nước có làm thay được việc chăm lo đời sống tâm linh, tinh thần của những người có đạo hay không? Hơn nữa, có nhiều những việc chi tiêu đòi hỏi những ứng xử cấp thời bằng lương tâm, đạo đức tôn giáo, có những phương pháp bố thí không phải lúc nào người ta cũng cần đến hoá đơn, chứng từ…

Một khi nhà nước đã công nhận tổ chức tôn giáo nào đó, thì nhà nước phải chấp nhận thực tế quản lý và truyền thống sinh hoạt của tố chức ấy. Nhà nước thực hiện chức năng quản lý đối với tôn giáo và điều chỉnh nó ở tầm vĩ mô, chứ không thể ở tầm quản lý “thùng công đức” được. Còn nếu chưa đủ khả năng tin tưởng, thì cần tác động, thúc giục các tổ chức tôn giáo cải cách hoạt động quản lý cho khoa học, thiết thực, công bằng hơn nữa. Đồng thời, bất cứ ngôi chùa nào, cá nhân nào xuất hiện những bất thường trong tài chính thì đều có thể tiến hành điều tra và xử lý khách quan.

Một thực tế khác, tín đồ tôn giáo cũng là những người trực tiếp đóng thuế cho nhà nước, họ cũng có quyền đặt ra vấn đề giám sát đối với các hoạt động “quản lý” nhà nước. Một khi quản lý nhà nước còn có những vấn đề bất cập, chưa thể công khai, minh bạch, thì làm sao có thể thuyết phục người khác về sự công khai, minh bạch. Hơn nữa, đặt vấn đề công khai, minh bạch “tiền công đức” đối với các tổ chức tôn giáo trong lúc này có vẻ chưa được tế nhị. Bởi nếu các quan hệ xã hội chỉ được nhìn ở góc độ thực dụng, thì sẽ có nguy cơ biến các tôn giáo dần trở thành những lực lượng “cát cứ”, nảy sinh lợi ích nhóm, tạo cơ hội cho những mâu thuẫn xã hội tăng lên.

Cách tốt nhất là hoàn thiện và cho ra đời Luật tôn giáo với những quy định chi tiết, bao quát hơn, thay vì phải ra thông tư “quản lý tiền công đức”. Và nếu phải ban hành thông tư trên, thì Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch cũng nên có những tham khảo từ phía các tổ chức tôn giáo.

— — — oOo — — —

Sặc cười “Thông tư quản lý tiền công đức”.

Minh Mẫn
http://chuaphuclam.vn/index.php?/phat-giao-va-doi-song/thong-tu-quan-ly-tien-cong-duc-va-su-tu-do.html

“Có thể ban hành cái gọi là ‘thông tư quản lý tiền công đức’ hay không?”. Thật ngộ nghĩnh và buồn cười khi đọc tựa đề trên ở trang web Chùa Phúc Lâm online do tác giả Quần Anh viết.

Hình như trong xã hội Việt Nam hiện nay không ngày nào mà không có chuyện “chẳng giống ai” xẩy ra như là “chuyện hàng ngày ở huyện”. Trong vòng một tháng, vụ “Đường Tông được đức Phật trao thùng bao cao su” chưa im ắng thì lại có chuyện mới về cung cách quản lý của các cơ quan thẩm quyền và phi thẩm quyền đối với Phật giáo.

Thứ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (VH-TT-DL) Huỳnh Vĩnh Ái đề nghị Vụ Kế hoạch – Tài chính tham mưu cho Bộ, phối hợp cùng Bộ Tài chính sớm đưa ra thông tư về quản lý tiền giọt dầu, công đức, cung tiến trong các cơ sở tín ngưỡng, đền chùa, nơi thờ tự. Bộ VH-TT-DL sẽ cho ra đời một văn bản quy phạm pháp luật chỉ áp dụng riêng cho các cơ sở tín ngưỡng dân gian và các cơ sở thờ tự của Phật giáo…

Chuyện nghe như trong mơ hay chuyện vui đùa của bác Ba Phi miền TâyNambộ thuở xưa khi trà dư tửu hậu mỗi lúc con nước lên con nước xuống của vùng đồng bằng sông Cửu Long. 37 năm thống nhất đất nước mà chính sách vẫn chưa thống nhất để cho các ông trời con có quyền sinh sát, ai muốn làm gì thì làm. Tác giả viết bài trên đã phân tích cặn kẽ, chúng ta không cần phải nói thêm.

Lạ là Thứ trưởng Bộ VH-TT-DL lại đòi quyền kiểm soát thùng công đức của chùa thật là lạ. Bộ Giáo thông vận tải tận thu thuế giao thông của dân nghe còn có lý mặc dù chưa ổn, nay  ngành Du lịch văn hóa đòi quản lý thùng công đức của chùa mới là chuyện “1001 đêm của Aladin và cây đèn Thần”.

Kiểm soát vàng, kiểm soát Dolla, kiểm soát tiền bá tánh cúng dường rồi sẽ kiểm soát gì nữa??? Mà tại sao chỉ kiểm soát Phật giáo trong khi chính thức bảy tôn giáo hiện hành? Có lẽ các quan lớn không còn chỗ để tận thu nên nhòm ngó đến nhà chùa.

Giờ đây tiền công đức thầy trụ trì cũng không có quyền tự do quyết định, có nghĩa quý sư chỉ là ông từ giữ chùa. Chùa đình miếu mạo là do nhân dân làm chủ, nhà nước quản lý? Âm điệu nầy nghe quen quen của thời bao cấp!!!

“Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui”, đó là bài hát trong quá khứ, hiện tại không cần phải chọn mà nhan nhản trên thông tin báo chí dồn dập những chuyện vui trái khoáy hàng ngày mà người dân không biết mình đang sống thực hay mộng!

Rồi đây, quần chúng sẽ không cúng chùa nữa, vì cúng để các sư tu bổ chùa chiền và tu tập chứ không phải cúng cho những cơ quan phi chức năng quản lý. Các sư tự động sẽ ra ngoài tim việc làm sinh sống, chùa bỏ hoang, thế là khỏi cần dẹp mà tôn giáo tự tiêu diệt. Lúc bấy giờ, chùa chỉ còn là nơi du lịch tâm linh, sẽ không là nơi tu tập tâm linh!?

Ai bảo xã hội ta không có tự do? Người dân muốn phạm pháp cứ phạm, có nhà nước xử lý. Ai muốn vi phạm giao thông cứ phạm, có tiền đóng phạt là được. Các cơ quan ban ngành muốn ra thông tư chỉ thị, quyết định…gì cứ ra theo sự thông minh đột xuất của mình, bất quá xin lỗi, kiểm điểm sửa sai là xong.

Ai muốn mặc đồ sư đi xin ăn mỗi ngày trên các phố, không cần xuất gia thọ giới, cứ mặc, chẳng ai làm gì nhau, tối về tha hồ ăn nhậu. Lũ trẻ vung vít trên  mạng, tung hình bậy bạ xúc phạm kẻ khác cũng mặc, không ai khiển trách. Ngay cả sử dụng Đức Phật và Thánh Tăng nhà Đường để quảng cáo bao cao su, quần chúng và GH phản kháng, cũng mặc, không ai có trách nhiệm tháo xuống…

Thế mà bọn Tư bản cứ rêu rao ViệtNamkhông có tự do!!! Chính vì quá tự do mà ông Thứ trưởng bộ Văn Hóa  Huỳnh Vĩnh Ái mới mặc áo qua khỏi đầu như thế, coi chư tôn đức và truyền thống Phật giáo chẳng ra gì, xem thường Ban Tôn giáo Chính phủ và các cơ quan chức năng về tôn giáo hiện hữu.

Hoan hô đỉnh cao trí tuệ Huỳnh Vĩnh Ái.

— — — oOo — — —

Quản lý tiền công đức theo Nhân và Quả.

Giác Hạnh Hoa
http://www.phattuvietnam.net/diendan/18469.html

Một điều vô lý là tiền công đức của thập phương đến các cơ sở tôn giáo đóng góp lại bị người ngoài đến đòi quản lý. Kinh nghiệm vốn cho thấy nơi nào có các ban đòi quản lý “tiền công” thì nơi đó trước hết là mất đoàn kết, nơi nào có “xin, cho” thì nơi ấy có cửa quyền nhũng nhiễu…

Sau khi có thông báo về việc chuẩn bị Bộ văn hóa ra thông tư về việc quản lý tiền công đức ở tất cả các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, rất nhiều người đang nghi ngờ và đặt ra rất nhiều câu hỏi.

Trước hết là những câu hỏi trong sáng nghiêm túc bởi vì một khi đã ra thông tư thì đó là mang tính pháp lý, mà đã là pháp lý thì phải có quyết định, có đóng dấu tròn của cơ quan công quyền.

Vậy ai sẽ là người quản lý? Các quan chức địa phương? Các đoàn thể? Các ban ngành? Hội ?…

Tiền thu được sẽ mang gửi tiền tiết kiệm? Hay đầu tư vào chứng khoán, cho vay hay mua két để giữ…?

Tiền này thu được từ nhà thờ, nhà chùa nào…thì chỉ được chi lại cho nơi đó hay được phép chi cho các nơi khác?

Một khi đã có ban thì phải có Ông hay Bà trưởng phó ban, có ủy viên? Một ban này qui định là bao nhiêu người là đủ? Ban này có những trách nhiệm và quyền hạn gì?

Ban này có được hưởng lương không? Tiền lương đó được chi từ tiền công đức? Tiền lương của ông, bà trưởng ban là bao nhiêu thì vừa và đủ? Các ủy viên là bao nhiêu?

Thứ nữa là các câu hỏi về sự nghi ngờ liệu có thất thoát tiền công đức ngay trong tay cái gọi là “ Ban quản lý” này hay không?

Người ta có quyền nghi ngờ lắm chứ bởi vì đã có không biết bao nhiêu vụ việc đã được phanh phui khi mà ngay cả tiền cứu đói cho người nghèo, cho các vùng đang bị thiên tai… Các quan chức còn nhẫn tâm ăn chặn được, thậm chí là tiền chi phí sửa, xây dựng cho nghĩa trang liệt sĩ, tiền tử tuất… nữa là tiền của thập phương mang đến cúng.

Thứ nữa là các câu hỏi về việc xin chi.

Mỗi lần xin chi thì người chủ trì nhà chùa, nhà thờ, tự đường… phải làm đơn trình ai? Trình UBND? Hay trình ngay ban quản lý tiền công đức? Ông hay bà trưởng ban có đủ thẩm quyền phê duyệt? Khi xin chi thì người chủ trì các nơi nói trên phải khai báo chi tiết xin để làm gì? Và đương nhiên là phải có quyết toán chi.

Ban quản lý này cũng phải có kế toán (vì có những nơi thu chi đến bạc tỉ) à mà còn phải biết sử dụng đến cả máy vi tính chứ, tiền tỉ ai lại cộng trừ, nhân chia bằng cách dơ ngón tay ra mà đếm bao giờ.

Đối với những Phật tử, những Con chiên nếu biết rằng tiền mình làm công đức đóng góp là để trước hết tu sửa, xây dựng mở mang nhà thờ, nhà chùa, trang trải chi phí, để in ấn kinh sách, băng đĩa, đào tạo các Tăng, Ni, Tu sĩ, ăn ở, tu tập cho các Phật tử, các Con chiên… sau đó để làm từ thiện giúp đỡ người già cô đơn, trẻ em tàn tật, giúp đỡ người nghèo, cúu trợ các vùng bị thiên tai… mà lại bị trích một phần để trả lương cho ban quản lý thì chắc chắn rằng không một ai muốn bỏ tiền vào các giỏ quyên góp, các hòm công đức nữa.

Khi đó người ta không thiếu gì cách đóng góp tiền công đức, mà không phải bỏ tiền vào thùng công đức để rồi phải trả lương cho ban quản lý, để rồi mỗi khi cần đến tiền chi cho nhà thờ hay nhà chùa lại phải giải trình ngửa tay xin tiền.

Đó là chưa kể tiền công đức này lại bị thất thoát hay biến mất dưới bàn tay của ban quản lý này.

Thông thường thì trong nhà chùa việc các khách thập phương nhất là các Phật tử khi đã được nghe các bài giảng phật pháp thì người ta lại ít khi nào cúng dường bằng tiền lại đưa trực tiếp cho Thầy trụ trì hay các Tăng Ni, mà các Tăng Ni cũng không được phép nhận giữ tiền, vì vậy mà thường là cho tiền vào thùng. Nếu thông tư này được thông qua thì việc các thùng công đức trong các nơi thờ tự cũng sẽ không còn.

Như vậy vô tình đẩy các nơi linh thiêng, vốn cấm kỵ các việc dối trá trở thành nơi phải đối phó với cái “ban quản lý” này chỉ để sao cho cần có tiền chi vào những việc vốn dĩ phải chi mà không phải đi giải trình kính thưa ông hay bà quản lý cho nhà thờ, nhà chùa chúng tôi xin tiền chi đóng tiền điện, tiền nước, tiền học phí cho các Tăng, Ni, Tu sĩ, tiền ăn cho khoảng ba đến bốn ngàn xuất ăn, sáng ,ăn trưa cho các phật tử đến tu tập…

Một điều vô lý là tiền công đức của thập phương đền các cơ sở tôn giáo đóng góp lại bị người ngoài đến đòi quản lý. Kinh nghiệm vốn cho thấy nơi nào có các ban đòi quản lý “tiền công” thì nơi đó trước hết là mất đoàn kết, nơi nào có “xin, cho” thì nơi ấy có cửa quyền nhũng nhiễu…

Tốt nhất là hãy để cho các nhà chùa, các nhà thờ, các tự đường, các thiền viện… khách thập phương đến cúng dường công , thì ở đó người có thẩm quyền cao nhất quyết định ai là người làm thủ quĩ. Họ chi tiếu ra sao đó là quyền của họ và chỉ có họ mới là người sử dụng hiệu quả nhất những đồng tiền công đức này.

“… Ta cũng không sợ gì. Đồng thời chính phật tử và nhân dân địa phương sẽ là “người giám sát” tốt nhất không chỉ về đạo đức tu hành của vị sư mà còn cả những vấn đề thu chi từ tiền công đức nữa. Vậy thì đặt vấn đề “ai quản lý” tiền công đức trong phạm vi nhà chùa là thừa, vì như thế chẳng khác gì dùng “quản lý” để chồng lên “quản lý”, nói một cách cụ thể là “thế tay thợ đẽo”.”

Hơn nữa các vị tu sĩ, các vị xuất gia chân chính họ thừa hiểu khi sử dụng tiền công dức không đúng mục đích thì họ sẽ phạm phải nghiệp báo gì và họ sẽ gặt quả ra sao trên con đường tu hành và giải thoát.

Vì vậy cấn phải xác định rõ phạm vi quản lý tiền công đức tại các di tích văn hóa, các lễ hội mang tính công đồng, thương mại thì cần thiết phải có ban quản lý vì nơi này mỗi năm chỉ mở lễ hội một lần, không có chủ thể thực sự mà mang tính quản lý  cộng đồng, do một ban lễ hội phụ trách, thì mọi việc thu, chi phải có thanh quyết toán như một doanh nghiệp.

Còn tại các nơi như Chùa, nhà Thờ là không nên vì nhà chùa, nhà thờ đều có người trụ trì( có chủ thực sự).

Hạnh nguyện tu hành của các vị xuất gia cũng được kiểm chứng trước việc quản lý và sử dụng tiền công đức đúng với lời Phật dạy, chúng ta đừng sợ.

— — — oOo — — —

Định quản lý “tiền công đức” nào?

Thích Giác Minh – (Phật Học Online).
http://phathoc.net/thoi-su/dien-dan/52741A_dinh_quan_ly_tien_cong_duc_nao.aspx


Thời gian qua, cả nước xôn xao và bàn luận về vấn đề Bộ Văn Hoá đang có đề nghị ban hành văn bản quản lý “Tiền Công Đức”. Được đọc các ý kiến phản hồi, thấy nhiều người vẫn nhầm lẫn khái niệm “Tiền Công Đức”. Xin đề nghị cần làm rõ: Đâu là “Tiền Công Đức”? Và quản lý “Tiền Công Đức” nào?

Đối với Phật Giáo thì từ xa xưa đến nay: Tiền do thập phương đem tới Chùa dâng lên cúng Phật rồi sau đó bỏ vào thùng để trong Chùa hoặc trực tiếp đem đến đưa cúng Chư Tăng thì đó là tiền “Cúng Dường Tam Bảo”, dân gian còn gọi đó là tiền “Giọt Dầu” chứ ko phải là tiền “Công Đức”!

Nếu tiền công đức phải do Thí Chủ tự nguyện phát tâm ủng hộ vào việc cụ thể như: “Công đức cho việc xây dựng”, “Công đức cho việc tô Tượng, đúc Chuông” hay “Công đức cho công tác tổ chức Lễ Hội” thì mới gọi là “Tiền Công Đức”!

Chúng ta cần phân biệt rõ:

1- Tiền Cúng dường Tam Bảo hay Cúng dàng Tam Bảo (chính xác là Cúng dưỡng Tam Bảo  (供養三寶). Đây là số kinh phí do Thí Chủ tự nguyện đến Chùa lễ Phật – lạy Phật đem tới, với lòng thành kính góp một chút ít công sức nhỏ của mình để nuôi dưỡng Tam Bảo, trong đó có Tăng Chúng. Số kinh phí này dùng để nhà Chùa tự túc chi dùng trong các việc như: mua sắm Lễ Nghi cúng Phật, mua sắm đồ thờ Phật, mua sắm đồ dùng trong Chùa, chi trong sinh hoạt cũng như các hoạt động Phật Sự, in ấn Kinh Sách và nuôi dưỡng Tăng Chúng.

2- Tiền Giọt Dầu: Khi xưa chưa có điện phục vụ sinh hoạt. Nhà Chùa dùng đèn dầu để thờ Phật quanh năm (cả ngày lẫn đêm) cho nên Thí Chủ đến lễ Phật cũng muốn phát tâm góp một chút kinh phí nhỏ để nhà Chùa mua dầu thắp đèn thờ Phật và thắp đèn phục vụ sinh hoạt. Vì kinh phí nhỏ nên gọi là cúng tiền giọt dầu. Tiền này thường để trên ban thờ rồi sau đó nhà Chùa phải đi thu lượm bỏ vào hòm. Cách làm lễ này đã trở thành phong tục, tập quán của người dân đến nay vẫn còn duy trì. Kinh phí này hiện nay, các Chùa vẫn dùng để chi trả tiền điện thắp sáng và mua dầu thắp đèn thờ Phật cũng như chi trả tiền sử dụng điện, nước sinh hoạt của Chùa. Nhiều nơi, số tiền này: “Khoản thu, không bù được khoản chi”!

3- Tiền Công Đức Xây Dựng hoặc Tiền Công đức tô Tượng, đúc Chuông: Từ xưa đến nay vẫn được Thí Chủ dâng cúng nhằm mục đích xây dựng các công trình trong mọi Tự, Viện của Phật Giáo khi các cơ sở Tự, Viện xây dựng hoặc tạc Tượng Phật, sơn sửa Tượng Phật, đúc Chuông v.v… Số kinh phí này được các Chùa có Tăng Ni Trụ Trì thâu nhận và sử dụng đúng mục đích dưới sự giám sát của gia đình Thí Chủ cung tiến, cũng như sự giám sát của Phật tử và cộng đồng dân cư tại địa phương.

4- Tiền công đức cho Lễ Hội: Đây là kinh phí của nhân dân ủng hộ trong các Lễ Hội do các Ban Tổ Chức Lễ Hội lập bàn ghi nhận công đức. Kinh phí này dùng để chi trong việc tổ chức Lễ Hội như: In ấn quảng bá cho Lễ Hội, an ninh phục vụ trong Lễ Hội, chi phục vụ mọi hoạt động của Lễ Hội, chi để nuôi dưỡng Lễ Hội. Phần Công Đức cho Lễ Hội thường ở các Lễ Hội Đình, Đền có danh tiếng hoặc tại một số nơi có danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Những Lễ Hội lớn có thể thu được số lượng kinh phí lớn. Nhưng Lễ Hội thường có mùa hoặc một thời gian ngắn.

Vậy, việc Bộ Văn Hoá đang đề nghị ban hành văn bản quản lý “Tiền Công Đức” là quản lý tiền công đức nào? Sao chưa nói thật rõ? Nếu chỉ nói chung chung và mập mờ như vậy thì không khéo sẽ nhầm lẫn giữa “Tiền Công Đức Lễ Hội” của các Lễ Hội lớn với “Tiền Cúng Dàng Tam Bảo” của các Chùa thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, do những người con Phật (Tín đồ, Phật tử) dùng công sức và mồ hôi của họ tạo ra rồi đem về cúng dường để nuôi dưỡng Tam Bảo của họ!!!

Cần xem xét rõ!!!

— — — oOo — — —

 
Một số phản hồi của độc giả:

Để bảo đảm tính trung thực, Thư Viện GĐPT giữ y nguyên văn, không chỉnh sửa, kể cả lỗi chính tả. BBT).

HaBa ThienLoi vào lúc 21/03/2012 20:03
Cần nên lói rõ hơn để tránh hiểu lầm từ nhiều phía. Đúng như bài viết này có nói đến, việc ban hành “Thông Tư Quản Lý Tiền Công Đức” này có lẽ là để áp dụng cho khu vực di tích và Đền Miếu có hòm công đức, chứ Chùa chiền , tịnh thất, tu viện của Phật giáo thì đã có hẳn tính pháp lý riêng biệt cũng như sự quản lý chặt chẻ theo từng cơ cấu phân định, dù là nhỏ nhất trong mỗi chùa. Nếu thông tư áp dụng cho Phật giáo thì có lẽ không nên vì sẽ vi phạm rất nhiều khía cạnh pháp lý.

vào lúc 21/03/2012 20:35
Thách Chính quyền sang nhà thờ Thiên chúa quản lý. Các sư sải hiền quá

Đạo Quang vào lúc 21/03/2012 20:58 AMITABHA
Tán thành ý kiến của thầy Thanh Thắng. Trương mục nếu có gởi tại ngân hàng, thì đề tên chùa, hay tu viện với thầy trụ trì hoặc hai ba thầy đại diện là đủ. Còn quần chúng Phật tử là con mắt trí tuệ của đại chúng, nếu thấy vị nào tu không đường hoàng thì họ sẽ thối lui ngay.

vào lúc 21/03/2012 21:28
khi Phat tu chung toi cung tien vao hom cong duc la chung toi CUNG DUONG TAM BAO, trong do Chu Tang, Chu Ni tru tri tai co so tho tu do la nguoi dai dien Tam Bao tho nhan su cung duong nay. Quy Ngai co toan quyen su dung tien cong duc vao viec phung su Dao Phap. Ngoai cac cap lanh dao GHPGVN ra khong to chuc va ca nhan nao duoc nhom ngo toi tien cung duong Tam Bao cua chng toi. Cac vi hay thu nhom ngo toi cac khoan dong gop cho nha tho cua cac con chien xem sao ??? Hay nho cau : CUA PHAT MAT MOT DEN MUOI.

người xa xứ vào lúc 21/03/2012 21:41
Đọc bài này bản thân tôi không biết nên vui hay nên buồn. Mà cũng thật nực cười cho cái gọi là “thông tư quản lý tiền công đức”. Xin hỏi, quản lý điều gì, và quản lý thế nào? Người đi tu, họ có được lãnh lương không? khi họ đau ốm, bệnh tật, học hành, có nhà nước nào giúp đỡ không? Khi chùa chiền xuống cấp hay mục nát, nhà nước có rót kinh phí trùng tu hay không? Chưa nói đến những người đi học phải ngửa tay xin sự bố thí của Phật tử, có người lại nhờ sự giúp đỡ của gia đình, Tôi đã ở cái chốn được gọi là tổ đình lớn nhất của giáo hội, mà thực sự khi bước chân đi học Ban Quản Trị chùa nơi tôi ở có cho cét bạc nào không? Vậy mà cuối năm GHPGVN, lại báo cáo ảo: mỗi năm GH đã tạo “điều kiện” cho hằng mấy trăm tăng ni du học…. thật buồn cười. Đó là chưa nói đến thủ tục giấy tờ khi đi du học, đến chính quyền thì chính quyền làm khó? Không sẵn lòng giúp đỡ, vậy thì quản lý cái gì? nếu muốn quản lý ai, xin thưa trước phải có sự giúp đỡ họ về mặt tinh thần lẫn vật chất, mới có thể làm “cái phép quản lý” được. Còn nữa, nói đến quản lý chùa, đâu phải chùa nào cũng có nơi để phật tử chiêm bái, thưởng ngoạn như một vài chùa đã được nếu trong bài viết. Ở TP HCM có nhiều chùa chiều ngang chỉ có 4 m thậm chí có chùa chỉ có 3m chiều ngang, dài không quá 15 mét, không đủ chỗ cho 5, 7 người tu tập, thỉnh thoảng mới có dăm ba người Phật tử trong ngày Sám hối, thì lấy đâu ra kinh tế để nhà nước gọi là “quản lý tiền công đức”, tôi chưa nói đến một số am thất, mà quanh năm chẳng có phật tử nào vãng lai. Còn những chùa to lớn thì đã có quyền quản lý kinh tế trong chùa của vị trú trì đó, thậm chí họ hết đời rồi thì chùa di chúc lại cho đệ tử mình hay người thân mình, chứ có ai tự nguyện đem giao cho giáo hội đau. Vậy thì hình thức quản lý nào cho các chùa chiền là hợp lý đây? Còn nhiều điều không thể nói hết, mong mọi người đọc kỹ bài viết ở trên mà suy nghĩ…
Nói tóm lại, hãy xem xét nét hạnh của vị trụ trì nơi chùa đó, vị ấy có sử dụng tiền công đức đúng với lương tâm của họ hay không? Có đúng với tâm nguyện của phật tử cúng dường hay không, họ có y vào luật Phật dạy trong việc nuôi dạy đồ chúng hay không? Vì “của Tam Bảo giống như tròng con mắt”. Đó là vấn đề quan trọng nhất cần xem xét.

vào lúc 21/03/2012 21:45
Tien cong duc la tien cung duong Tam Bao /PHAT, PHAP TANG / Vay tien nay se do Chu Tang, Ni /GHPGVN/ tho nhan va toan quyen chi tieu cho sinh hoat cua cac Ngai va phung su Dao Phap. Nhung co y dinh nhom ngo tien cua Tam Bao hay nho rang : CUA PHAT MAT MOT DEN MUOI.

quangphap vào lúc 21/03/2012 21:58
Một việc làm ngu xuẩn nếu điều đó thành sự thực và đây cũng là sự phát triển kinh hoàng của GHPGVN hiện nay.

trúc pháp đăng vào lúc 21/03/2012 22:39
Cái gì cũng muốn quản lí, ôm đồm, nhưng khi phát sinh hậu quả thì đùn đẩy, trốn tránh trách nhiệm là giỏi nhất thôi! Tôi ủng hộ ý kiến của tác giả bài viết trên. Nhà nước cần phải xem lại một cách nghiêm túc ý tưởng “sáng tạo” và “đột phá..phách” này! Nội cái chuyện quản lí tiền ủng hộ cứu trợ nạn nhân bảo lụt, tiền xóa đói giảm nghèo đã bị mấy ông cán bộ nhà nước xà xẻo liên tục còn chưa khắc phục được huống chi là tiền ” công đức” của bá tánh? Di tích lịch sử, đền, miếu…thì các ông cứ thương lượng với người dân tại chổ để “quản lí”. Những tôn giáo lớn đã được nhà nước công nhận, có giáo hội lãnh đạo thì hãy để giáo hội quản lí và chịu trách nhiệm. Riêng đạo Phật ở VN, cúng dường công đức đã tồn tại trên hai ngàn năm nay và do nhà chùa (chứ không phải nhà nước) quản lí sử dụng có xãy ra chuyện gì xấu đâu? Nếu vì một vài sự kiện đơn lẻ như vụ một sư cô khi viên tịch đã xãy ra tranh chấp tài sản giữa gia đình và nhà chùa trên những sổ tiết kiệm sư cô đứng tên thì giáo hội mới là ” người” có trách nhiệm điều chỉnh những bất cập đó.
Một lần nữa đề nghị chính phủ phải kiểm tra giám sát thuộc cấp của mình khi có hành động, chủ trương gì ảnh hưởng đến tôn giáo, đến tín ngưỡng của nhân dân. Đừng để xãy ra vụ việc như clip video ” bao cao su” rồi la lên là chúng tôi : “không nghe, không biết, không thấy”, nhé!

Nguyễn Quang Hùng vào lúc 21/03/2012 22:59
Nhà nước cũng nên quy định rõ việc thu –chi minh bạch, báo cáo thu- chi trong các chùa, tránh trường hợp các vị sư lấy tiền cúng dường của tín đồ đi mua máy ảnh, ti vi, xe máy loại xịn chi xài cá nhân

và sau đó lấy tiền cúng dường này đi cho người thân mượn, như vừa qua đã xảy ra 1 số trường hợp thực tế,
hoặc là đứng tên sổ tiết kiệm của nhà chùa rồi khi viên tịch lại có tranh chấp số tiền này giữa nhà chùa và gia đình ở đời của vị sư trụ trì

Nhà nước yêu cầu quản lý minh bạch, công khai số tiền thu- chi trong nhà chùa cũng hợp lý

nhut chau vào lúc 21/03/2012 23:56
Bài viết của tác gỉa rất có gía trị, có nghiêng cứu, có tầm nhìn sâu sắc. Vì trong lãnh vực tôn giáo, phải hết sức tế nhị, nếu không sẽ dễ bị phản cảm. Xin các cơ quan liên hệ nên đọc kỷ bài nầy để có phương hướng xử lý cho phù hợp.

D.T vào lúc 22/03/2012 02:41
Cách đây 25 năm, có một vị từng làm thư ký cho một cán bộ cao cấp nói: “Có những người chẳng có sáng tạo gì làm cho dân giàu nước mạnh, mà chỉ dòm ngó xem ai ắn miếng gì to hơn thì tìm cách bóp cho miệng nhỏ lại vì sợ người ta ân nhiều hơn mình”. Tôi nghiệp các thầy tu ăn chay được là bao nhiêu, có bao nhiêu tiền công đức của Phật tử đóng thì các sư chỉ lo xây chùa và làm từ thiện. Ốmn đau chẳng được tiêu chuẩn bảo hiểm y tế. Già chẳng có lương hưu. Suiốt đời chỉ có một màu áo của Phật.
Bây giờ mấy ổng l;ại có sáng kiến “quản lý” tiền công đức của nhà chùa thì quả là chuyện lạ xưa nay chưa thấy chứ không phãi có mà có thể nópi là… xưa nay hiếm (?).
Nếu Phật tử không quan tâm đến cái gọi là “quản lý” tiền công ấy thì họ lại có sáng kiến hơn thì sao. Cái đó thì làm sao quản lý? Nếu biến tướng thì dần dần là kẽ hở để phát sinh tham – sân – si.
Tiền công đức của Phật tử phát tâm đóng góp cho chùa là công khai thì hãy trân trọng như thế cho chữ TÂM được tròn trịa. Đừng nên suy diễn, b1op méo ý tưởng thùng công đức của chùa vô tình các vị đó gán tội thiếu chữ TÂm của nhà Đừng quên bóng áo của Phật đã dùng tiền công đức đi khắp mọi ngóc nghách miền quê nghèo làm từ thiện, gánh đỡ rất nhiều sức nặng xoá đói giảm nghèo cho Nhà nước.
Tôi nhớ câu nói của Các Mác từng có câu: “Sự dốt nát phá phách còn nguy hại hơn ma quỷ”.
Tiền công đức của chùa là tiền của Phật – Không ai có quyền quản lý cái gì thuộc về Phật cả.

NGHIEM BICH vào lúc 22/03/2012 02:48
CÓ QUẢN ĐƯỢC TIỀN NHÀ THỜ KHÔNG,XIN HỎI ÔNG?
(Xem một số tin liên quan)
1-Vatican nói tiền cúng dường hàng năm từ các nhà thờ khắp thế giới giảm từ mức 79,8 triệu USD năm 2007 xuống 75,8 triệu USD. Những con chiên quyên tặng nhiều nhất vẫn là từ Mỹ, Italy và Đức. (Xem tin gốc http://www.baomoi.com/Vatican-cung-tham-hut-ngan-sach/119/2921864.epi Theo FT)
2-Nguồn ngân sách duy nhất của Vatican lấy từ tiền đóng góp của các nhà thờ công giáo trên toàn thế giới, từ việc phát hành các ấn phẩm và du lịch.(http://vietbao.vn/The-gioi/5-quoc-gia-nho-be-nhat-hanh-tinh/55152592/167/)
3-Sự đóng góp của các giáo phận, dòng tu, các ngân quỹ và cá nhân tín hữu trên thế giới cho Tòa Thánh tăng quá gấp đôi trong năm 2002, và lên tới 96,9 triệu Mỹ kim. Giáo Hội Mỹ đứng hàng đầu trong sự gia tăng đóng góp cho Tòa Thánh, mặc dù người ta lo sợ vì hậu quả các vụ xì căng đan vì một số giáo sĩ lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên tại Mỹ. Sau Hoa Kỳ, quốc gia trợ giúp Tòa Thánh nhiều nhất là Đức và Italia. (Minh Tuấn: http://www.dongcong.net/TTDM/2003/Thang8/TinVatican8.htm)
4-3. Tiền của: Chúa trao cho chúng ta quyền quản lý tất cả tiền của mà chúng ta làm ra, nhưng chúng ta đã dâng lại cho Chúa bao nhiêu? Theo như truyền thống thập phân của Do Thái Giáo và Công Giáo, ta được mời gọi góp lại cho Chúa 10% tổng lợi tức theo các phần như sau: 5% để làm các việc bác ái, 1% cho Giáo Hội Hoàn Vũ, 1% cho Giáo Phận và 3% đóng góp tại Giáo Xứ mình đang sinh hoạt.Cha Quản Nhiệm
LM. Trần Quốc Tuấn (Trích trong bài NGƯỜI QUẢN LÝ CỦA THIÊN CHÚA 3. July, 2011 Các Bài Viết No commentshttp://www.cttdvnatl.org/en/?p=1057)
5-Về kinh tế, phải công nhận Vatican là một cơ sở giàu nhất thế giới, họ đã thiết lập được “truyền thống” dân các nước đóng tiền thuế về cho họ mỗi tuần mổi ngày. Có thể nói chưa một nước nào có lợi nhuận về “thuế” đánh trên đầu người khắp thế giới như cơ chế vô tiền khoán hậu Vatican. Ngân sách các quốc gia cứ đổ vào ngân hàng bí mật của Vatican đều đều.
(Bùi Thanh Tòng California, 1-1-2011  http://sachhiem.net/THOISU_CT/ChuB/BuiThanhTong.php )
6-Nơi đây có một nền kinh tế phi thương mại độc nhất vô nhị, chủ yếu do các khoản quyên góp của người Thiên chúa giáo La Mã trên khắp thế giới (thường được biết dưới cái tên đồng xu của thánh Peter) cũng như thu nhập từ bán tem, các ấn phẩm, đồ lưu niệm cho khách du lịch, phí vào các viện bảo tàng. Ngân sách vào khoảng 200 triệu USD.
(http://vnexpress.net/gl/the-gioi/tu-lieu/2009/12/3ba1712a/)

nguyen hung vào lúc 22/03/2012 05:48
Dung la nhung y kien dong gop cho cac co quan quan ly va ra thong tu mot cach xac dang. Mong rang am thanh nay se vang toi moi noi va nhat la moi nguoi cung thau hieu van de ma tac gia dat ra. Ngay ca van de viec cap so do cho cac chua nha tho, co so ton giao cung co van de. Hy vong tac gia nghien cuu va dong gop cho cac co quan

Lê Lâm Hà vào lúc 22/03/2012 07:12
Các cụ nói, “sư chùa là bùa làng”, “chùa không sư thì hư mất chùa”… Dân mang tiền đến công đức để cho nhà sư làm Phật sự, trùng tu chùa chiền, chăm sóc Tam bảo… Đương nhiên mọi tài sản phải do nhà sư quản lý. Không thể để người bên ngoài quản lý được.
Còn nói quản tiền công đức của các tôn giáo thì chẳng thể quản được, vì họ không bỏ tiền vào thùng công đức thì ông quản cái gì. Không lẽ thông tư sẽ kiểm chặt bằng cách lắp camera vào tận phòng ngủ, phòng vệ sinh của người ta để quản lý.
Một việc đã không thể làm được mà bày ra chỉ làm cho tín đồ tôn giáo dị ứng mà thôi.
Giáo hội nên có quy định các chùa phải báo cáo thu chi, mọi thu chi phải có các thành phần Phật tử trong Ban hộ tự làm chứng. Tiền công đức khi được đếm phải có người làm chứng… Tránh tình trạng có một số vị sư ở chùa giàu, nhiều người cúng mang tiền về xây biệt thự, xây nhà thờ họ… cho gia đình của mình. Có những vị còn có tài khoản riêng rất lớn đứng tên thế danh, đề nghị cũng phải minh bạch.
Các chùa phải đóng góp tiền về cho Giáo hội sinh hoạt, không phải đi xin tiền nữa. Các chùa giàu cũng nên có trách nhiệm với những chùa chưa được khôi phục, những nơi vùng sâu vùng xa nghèo và đói Phật pháp.
Giàu mà không biết cách thể hiện, ăn nói ba hoa chích choè, dùng tiền không cân nhắc… đều là hình thức trộm của thường trụ.

vào lúc 22/03/2012 08:48
GH can phan bien ngay y tuong can thiep vao giao san cua Phat giao / cac ton giao khac nhu TCG La Ma chang han, ong ba nao co the tho tay vao tien cong duc cua ho ???/. Dung de chuyen da roi moi phan doi se kho khan nhieu be.

vào lúc 22/03/2012 09:12
GH can phai dua viec quan ly giao san vao Hien chuong cua GH. Tien cong duc la cung giao san cua GH, do vay khong the de mot to chuc the tuc nam ngoai GH quan ly tien bac khong phai cua ho duoc. That vo ly va khong hien thuc, chac ho dang am muu chan nguon tien cong duc cua dan chung de bop nghet cac ton giao ma chu dich la Phat giao???

đông vào lúc 22/03/2012 09:49
Trên báo Thanh Niên, Thượng tọa Thích Kiến Nguyệt – trụ trì Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, xã Đại Đình, H.Tam Đảo, Hà Nội – đã góp ý:

“…Nếu là tiền công đức của nhà chùa thì nhà nước không nên quản lý, bởi vì đó là tiền của thường trụ Tam bảo (Tam bảo là Phật – Pháp – Tăng). Chư tăng là người TU, nên dùng tiền công đức để nuôi thân hành đạo, giáo hóa chúng sinh, xây dựng mở mang chùa cảnh, in kinh sách, cứu trợ người nghèo khổ hoạn nạn… Chư tăng ni là người từ bỏ gia đình, xả thân cầu đạo, để giáo hóa chúng sinh, xây dựng nên đức lý cho xã hội nên khác với người cư sĩ giữ đền, đình, chùa. Nếu nhà nước quản lý tiền của chùa có chư tăng – ni trụ trì, là điều không đúng đạo lý, từ xưa đến nay không ai làm như vậy. Đối với đình, đền, không có tu sĩ cai quản, mà do nhân dân địa phương lập nên tự quản lý, thì nhà nước nên tổ chức phân công cho tập thể quản lý số tiền đó, để dùng tiền đó làm những việc phúc lợi cho dân cho nước, đồng thời tránh cho kẻ tham tạo tội.”

Du Tử vào lúc 22/03/2012 11:34
Mới thấy có vài chùa chiền, đền miếu có tiền công đức là đã muốn “tham” ngay rồi. Thế có 18 nghìn ngôi chùa với biết bao việc khó khăn, vất vả trong sinh hoạt thì sao không nói đến. Nhập nhèm khái niệm quản lý này về sau sẽ gây ra rất nhiều khó dễ cho các tự viện hoạt động. Sẽ có ngày chùa muốn mua một que nhang cũng phải mang đơn xin đến chỗ “quản lý tiền công đức” mất. Thật nực cười hết biết.
Còn nữa, ngày xưa phá biết bao nhiêu đền chùa, đình miếu, nay tiền rót xuống tu sưa chùa mới chỉ ở những di tích được công nhận, thì các ban quản lý di tích không muốn giao hết cho nhà chùa làm, vì trong khi mua gỗ, mua vật tư… còn xà xẻo, kiếm trác ở trong đó.
Nói là tiền trùng tu rót xuống nhiều chứ các di tích chỉ trùng tu một thời gian ngắn là xuống cấp. Nhà nước hãy quản lý cho tốt cái ngân sách rót xuống các di tích thì dân đã mừng lắm rồi. Làm việc thánh thần mà còn ăn bớt, ăn xén được thì còn đạo đức gì đòi hỏi người khác công khai minh bạch.
Không thể để cho người ngoài qảun lý tiền công đức được, họ biết gì về giáo lý, giáo luật, họ vô thần có tin gì thần thánh mà quản tiền. Những ngôi chùa do dân và Phật tử bỏ tiền ra trùng tu còn nhiều hơn nhà nước bỏ ra.
hãy giao về cho nhân dân và tín đồ tự quản, kể cả lễ hội nữa, thì tránh được tiêu cực ngay thôi. Đằng này đầy các ban bệ đặt ra để “ăn” bằng nhiều cách mà thôi.
Lúc phá phách chùa chiền thì mượn cớ bài phong kiến, bài tôn giáo. Nay chưa làm gì nhiều cho tôn giáo mà lại đòi quản tiền công đức. Cái ông nào tư vấn cho nhà nước ra thông tư này, rõ ràng thần kinh có vấn đề. Chắc chắn sẽ lợi bất cập hại và mâu thuẫn giữa nhà nước và các tôn giáo sẽ tăng lên.
Nên dừng lại đúng lúc trước khi quá muộn.

hoavouu_dn vào lúc 22/03/2012 12:15
không cần nói gì nhiều :
Cơ sở trực thuộc giáo hội thì dó đương kim vị trụ trì có quyền quản lý vài hiển nhiên Giáo sản của GHPGVN quy định trong hiến chương thì những gì trong cơ sở tự viện trên lãnh thổ NC H X H CN VN là do giáo sản của GH vì cậy nhà nước ko có quyền quản lý
Còn những di tích lịch sự , tự viện do nhà nước , làng , xã quản lý thì nhà nước có quyền ban hành những điều trên .
Tóm lại : Tài sản từ việc cúng dường thập phương thường trú tam bảo phải do chư Tăng Ni , Giáo Hội quản lý chỉ trừ trường hợp những cơ sở do nhà nước quản lý để thu thuế , thu vé và áp dụng du lịch thì nhà nước có thể làm gì thì làm

Bạch Tầm Xuân vào lúc 22/03/2012 13:54
– Nếu Nhà nước, địa phương quản lý hòm công đức của nhà chùa có Tăng, Ni thì chúng tôi không thả tiền vào hòm công đức ấy.

– Nếu Nhà nước đánh thuế hòm công đức của chùa thì chúng tôi cúng dường tiền trực tiếp hoặc chuyển khoản đến nhà Sư.

Nguyen Dung vào lúc 22/03/2012 15:40
Ai quản lý cũng được, nhưng phải ý thức một điều đừng có lạm dụng tiền công đức, làm không đúng chỗ. Nhà nước thích quản lý thì cứ vào chùa tu học rồi quản lý. Nên nhớ nếu nhà nước quản lý thì các Phật tử sẽ không bao giờ cúng dường đâu. Là người tu hành chân chính, chẳng ai thích tiền bạc và càng không làm dụng nó.

Nguyễn Hùng vào lúc 22/03/2012 17:23
Nhiều tờ báo bên ngoài vẫn còn nhầm lẫn giữa đền, miếu và chùa nên gom vào tùy tiện. Có những nơi một số người ở xã còn đòi quản lý cả tiền trong chùa có sư trụ trì.
Đề nghị nhà nước ra thông tư quy định, tất cả tiền công đức, tiền giọt dầu, tiền cúng tiến đều phải trả về cho các nhà sư và phật tử quản lý. Thông tư như vậy là hợp lý nhất. Còn những nơi đền miếu thì giao cho một cơ quan cấp xã phường quản lý.
Một hạt cơm của tín thí cúng dường cũng nặng như núi Thái. Các nhà sư tu hành có công đức mới có thể dùng được những hạt cơm ấy. Người không hàng ngày công phu tu hành, tụng niệm bái sám thì làm sao có tư cách để quản tiền công đức của thập phương?
Giao sự quản lý tiền công đức về cho nhà chùa là hợp lòng dân hơn cả.

THIỆN BÌNH vào lúc 22/03/2012 18:18
uản lý như vậy chắc hàng tháng phát lương cho các sư luôn chắc,không phát lương tiền đâu sư mua tương chao gạo muối. mấy vị có dám qua nhà thờ đòi quản lý không, bên đó tiền nhiều lắm,tiền con chiên tuần nào đi lễ cũng phải đóng, tiền Vatican rót về, qua đó quản lý coi mà được đó. nếu như các vị quyết quản lý thì đảm bảo không ai bỏ vào thùng công đước nữa mà cúng dường cho các sư để lo phật sự, các vị cứ ngồi đó mà canh thùng công đức đi.

Le Tuyen vào lúc 22/03/2012 18:36
Lich su chua chien VN tu lau da duoc vua,quan,nha hao san,dong bao PT cap ruong nuong,dat cat,tinh tai… de nuoi tang chung va xay dung thanh nhung ngoi chua tam linh cho ca dan toc duoc truyen thua cho den hom nay.
Nay CP co thong tu muon kiem soat nguon cung duong cua PT thi cac ngoi chua se tro thanh “CHUA BA ĐANH” ngay
Rieng chu Tang-Ni dang tru tri cung can nen lam sang to su menh thieng lieng truong tu Nhu Lai trong quan ly ngoi tu vien,tinh xa de giup do,bao tro cac chua dang gap kho khan (Khong noi chua giau- ngheo),cac cong tac xa hoi-tu thien va nuoi duong bao tro cap hoc bong cho cac Tang Ni sinh dang hoc cac TTC.HVPG de can bang tam phat trien PG trong tuong lai

pham van hai vào lúc 22/03/2012 19:31
Tại sao những chùa nghèo nhà nước không giúp đỡ,những người nghèo sao không thấy ai giúp,mà cứ ngó vào chùa hay nhà thờ có được ít tiền cúng dường.thì đòi quản lý(chuyện lạ của thế giới)không thể hiểu nổi ,trên thế giới này chưa có nước nào làm như vậy.

Thằng bờm vào lúc 22/03/2012 21:19
xin 2 chữ bình yên! hãy đừng để cuộc sống trở lên bề bộn nữa! ai muốn thu tiền công đức của chùa chiền? ai muốn thu thuế của chùa chiền? mời xuống tóc xuất gia! từ bỏ vợ đẹp con khôn, từ bỏ nhà lầu xe hơi,từ bỏ rượu chè cờ bạc, học theo hạnh bồ tát xả thân vì đạo. mời xin mời giữ luôn chìa khóa hòm công đức.

minh ngọc vào lúc 22/03/2012 22:54
“Thông tư quản lý tiền công đức” có lẽ chỉ áp dụng cho các chùa, đình, đền, miếu, phủ… thôi, không thể nào áp dụng cho các giáo xứ, hội thánh được mặc dù giáo dân góp tiền cho giáo xứ, hội thánh rất lớn.

chiendala vào lúc 22/03/2012 23:51
Trong một xã hội mà đạo đức quá suy đồi như xã hội chúng ta ngày hôm nay thì niềm tin giữa ngưòi và người không còn tồn tại, mà thay vào đó chỉ là so đo, tính toán hơn thua , hại người lợi mình mà thôi. Sở dĩ xã hội ngày nay còn chút sức sống ấy là do con người trong xã hội vẫn còn đặt niềm tin vào tôn giáo của mình. Niềm tin đặt vào tôn giáo là thành trì cuối cùng của niềm hy vọng về một xã hội lương thiện cho con người ngày nay.

Tôi xin đưa ra một trường hợp cụ thể để bàn luận.

Nếu có dịp đến những tự viện như Thường Chiếu ở Bà Rịa hay Hoằng Pháp ở Hóc Môn chúng ta sẽ dễ thấy một quang cảnh như thế này. Khắp cả sân chùa rộng lớn với hàng ngàn người (trong ấy có rất nhiều trẻ em) ra vào, nhưng rất ít có xả rác; không có cảnh bẻ cành, ngắt hoa, dầu có rât nhiều cây cảnh ở những nơi ấy; không có cảnh chen lấn, giành giựt, chửi lộn,… Và ở những nơi ấy hoàn toàn không có công an, binh lính, tòa án… để kiểm soát, răn đe, bắt bớ… Đó là quang cảnh hoàn toàn tương phản với xã hội bên ngoài.

Vậy thì cái gì đã làm nên điều ấy?

Có ngưòi sẽ bảo rằng, ấy là do ngưòi đi chùa sợ Thần, Phật phạt nên mới tỏ ra tử tế như thế. Nếu sợ Thần Phật phạt thì đâu phải chỉ ở trong chùa, vì Thần Phật ở khắp nơi mà. Thêm nữa, khi đến chùa thì mọi người đều hoan hỉ mà đến, hoàn toàn không có ai thúc bách, đe dọa cả. Thế thì đâu phải vì sợ nên mới đến chùa?

Sự thật rất đơn giản. Một phần là ngưòi ta tỏ lòng tôn kính Phật. Nhưng một phần khác- và đây là động lực chính để người ta đến chùa – là tỏ lòng tôn kính “những tấm gương đạo đức sống”, tức là ngài trú trì cũng như chư tăng/ni trong chùa ấy. Và một khi người ta có lòng tôn kính thì họ sẽ đặt niềm tin vào đó. Và khi có được niềm tin thì người ta mới tự giác chỉnh sửa hành vi cá nhân của mình; nói cách khác là ngưòi ta biết hướng thiện.

Khi đến chùa mà tín hữu bỏ tiền vào thùng công đức thì ấy là họ đang thể hiện niềm tin, sự tín nhiệm và kính trọng của mình vào chư tăng/ ni ở nơi ấy. Ở nơi hành động này họ đưọc tự do, tự quyết trong suy nghĩ ; và họ cảm thấy hân hoan vì được suy nghĩ và hành động hướng thiện một cách chân thành, không bị một sự thúc bách hay gò ép nào cả. Khi đóng góp những đồng tiền thiện nguyện ấy họ chỉ mong nhà chùa dùng để mua hoa quả cúng Phật, để lo cuộc sống đạm bạc của chư tăng/ni trong chùa, để sửa sang chùa, lo phần cứu tế xã hội,… Như vậy ngay trong hành động cúng dường ấy, tín hữu đã tự trong thâm tâm phát nguyện một tâm tưởng rất tốt đẹp rồi. Mỗi người có mỗi tâm ý tốt đẹp sẽ tạo nên một cộng đồng, một xã hội tốt đẹp.

Cho nên khi mà cánh tay dài của nhà nước muốn thọc vào quản lý luôn cái thùng công đức ấy thì phản ứng tất nhiên của đại đa số mọi người là sẽ không bỏ tiền vào thùng ấy nữa. Người ta không có cơ hội để thể hiện niềm tin thì niềm tin ấy sẽ mai một dần.

Cúng dường là hành động thể hiện niềm tin tưởng vào một giá trị hướng thiện còn hy hữu sót lại giữa con ngưòi và con người trong xã hội ngày nay. Nếu vì lý do nào đó mà niềm tin này bị tước đoạt thì xã hội này sẽ đi về đâu ? Con ngưòi và con ngưòi không còn tin tưỏng nhau nữa thì khi đó liệu có được gọi là một xã hội loài người nữa chăng ?

TTC vào lúc 22/03/2012 23:57
Đọc cái đầu đề (cái tít của bài viết) mà tôi ớn lạnh cả xương sống. Chùa nhà quê, bà con rất nghèo và khó …tuần rằm hay mùng 1 kể cả ngày như Phật Đản,giỗ Mẫu,vào hè,ra hè,rằm tháng giêng,tháng 7 bà con chỉ lễ bằng tấm lòng thành của mình thôi (bây giờ là 500 đ và 1000đ hay 2000 đ.Chứ tiền đâu mà ra nghị định,thông tư ĐÒI QUẢN LÝ CƠ CHỨ!!! Chùa cảnh thì xập xệ dột nát,ngày tuần không ai ra chùa lễ….Vậy mà ra thông tư hay nghị định này nọ như thế thì nguy hại quá ….Tôi nhớ như in là những năm 1980-1984 ở quê tôi cũng vin vào chính sách nghị định,thông tư này nọ mà lãnh đạo xã và thôn dám phá bỏ ngôi đình cổ 8 mái thật uy nghiêm và hạ bệ,quăng cả tượng Phật,tượng Đức Chúa,tượng Mẫu xuống ao,xuống giếng chùa hay xuống mương ngoài ven làng….ôi thật đâu lòng và chua xót, đắng cay….tội lỗi (thiện tai,thiện tai….)
Tôi còn nhớ năm 1998 khi Đại đức mới về trụ trì chùa làng-quê tôi – chùa không có pho tượng Phật nào -Đại Đức vận động và hôm khánh thành thì ông NQM ( là trưởng ban mặt trận thôn)dám thu nhặt từng đồng tiền lẻ (loại 100 đ và 200đ ở trên các ban thờ )liền bị một vài Phật tử phản đối gay gắt..
ở chùa nhà quê vùng lõm,vùng sâu….bà con còn nghèo…lễ vậy đó! Làm sao đủ tiền trả tiền điện ánh sáng ;chứ chưa nói là tiền sinh hoạt đời sống tu hành của sư….
Mong rằng đừng vì ngân khố quốc gia bị vỡ nợ bởi VINASIN hay ÊVN…mà túng quẫn làm càn,làm xiên…..thế giới sẽ không để yên về việc làm,chính sách VI PHẠM NHÂN QUYỀN như thế đâu?!!!

Sen Hồng vào lúc 23/03/2012 01:32
Lấy gì để đảm bảo là khi nhà nước quản lí thì sẽ tốt đẹp hơn các giáo hội ( ở đây tôi muốn nhấn mạnh là giáo hội PGVN ) khi mà tình trạng tham nhũng, tham ô của cán bộ nhà nước hiện nay tràn lan như ” một căn bệnh ung thư di căn..” ( lời nguyên TBT Lê Khả Phiêu), khi đã là ” một bộ phận không nhỏ…”- ai cũng hiểu là rất lớn, rất nhiều và rất trầm trọng- ( lời của nguyên TBT Nông Đức Mạnh và TBT Nguyễn Phú Trọng), và giống như ” một bầy sâu..” ( lời chủ tịch nước Trương Tấn Sang) ??
Trong khi đó chuyện sử dụng tiền cúng dường tam bảo trong đạo Phật đã có nề nếp tốt đẹp từ ngàn năm nay, hy hữu lắm mới xãy ra chuyện nhũng lạm và nếu có thì chính những người Phật tử đã gián tiếp xử lý bằng cách tẩy chay ngôi chùa hoặc vị trụ trì phạm giới đó. Hiệu nghiệm vô cùng! Hơn hẳn mấy cái UB chống tham nhũng mà càng chống thì tham nhũng càng ” năm sau cao hơn năm trước”, “vụ sau bạo hơn vụ trước”, vậy!
CB.CNV của chính phủ hãy cố gắng làm thật tốt những nhiệm vụ mà trước nay mình làm chưa tốt, chưa hoàn thành, chưa xứng đáng với đồng lương vẫn lãnh hàng tháng bằng tiền đóng thuế của nhân dân rồi hãy nghĩ tới chuyện ” sáng tạo” , “đột phá” (?). Thời bao cấp, bao biện, bao che có câu nói rất chí lí: ” nhàn cư vi..sáng tạo” và ” bần cùng sanh..sáng kiến” xem ra vẫn còn giá trị tham khảo đấy!
Tóm lại chúng tôi hoàn toàn không đồng ý với cái ” thông tư quản lí tiền công đức” của nhà nước nếu áp dụng cho các chùa chiền của Phật giáo VN.

Nguyễn Long Giang vào lúc 23/03/2012 05:44
Quá bất cập trong việc quản lý tiền công đức ở các nơi thờ tự thuộc tín ngưỡng dân gian nư Dinh , Đình, Miếu…do nhà nước thống nhất quản lý từ trước đến nay. Để tránh mất đoàn kết trong Ban quản lý, mất niềm tin trong nhân dân Nhà nước cần có thông tư hướng dẫn sử dụng số tiền này là thật cần thiết. Riêng đối với chùa thuộc giáo hội quản lý thì thuộc trách nhiệm của giáo hội, chúng ta nên tách bạch 2 trường hợp này để có ý kiến cho rõ ràng nhé.

THIỆN TRÍ vào lúc 23/03/2012 10:17
Thầy Thích Thanh Thắng phân tích đầy đủ và quá chuẩn. Không ý kiến gì thêm. Tâm phục khẩu phục.

Minh Thanh, Canada vào lúc 23/03/2012 11:19

Bài nhận xét của Thấy ở trên rất hay. Minh Thanh là một cư sĩ đang sống ở Canada và là thành viên trong ban diều hành của ngôi chùa. Ở Canada, chính phủ từ liên bang đến địa phương không có trợ cấp tài chánh cho tôn giáo mà chính phủ liên bang cho phép nhà thờ hay chùa được quyền cấp biên nhận, nếu nhà thờ hay chùa là một cơ sở tôn giáo hợp pháp, cho người hiến tặng tiền hoặc qu`a , người hiến tặng sẽ dùng biên nhận này để khai thuế lợi tức cuối năm và chính quyền địa phương giúp cho các cơ sở tôn giáo bằng cách miển đóng thuế đất ( property tax ). Cuối năm, các cơ sở tôn giáo phải báo cáo tài chánh cho cơ quan thuế vụ liên bang và tỉnh bang về chi thu tài chánh trong năm, không có đóng thuế như cơ sở kinh doanh.Phương cách cho các tôn giáo có quyền cấp giấy biên nhận được trừ thuế cho người hiến tặng tài chánh đến các tôn giáo là cách khuyền khích người dân tiếp tay với tôn giáo có điều kiện để duy trì và phát huy chức năng tâm linh cũng như những việc từ thiện mà chính phủ không làm được. Đối với ngôi chùa mà Minh Thanh đang giúp, tài chánh phải minh bạch , công khai và phải báo cáo ít nhất là một lần trong năm cho tất cả Phật tử biết và điều này cũng là quy định mà chính phủ luôn khuyến khích các tổ chức tôn giáo và tổ chức từ thiện phải làm. Thường Minh Thanh thấy, tịnh tài đóng góp vào thùng Công Đức là thuộc về của chùa, tịnh tài mà Phật tử cúng dường cho Quý Chư Tăng Ni là phần tịnh tài riêng Quý Thầy hoặc Quý Sư Cô giữ để Quý vị này tùy nghi sử dụng,có thể xung vào quỹ của chùa hoặc xài vào việc cá nhân. Phật tử dường như không quan tâm đến phần này. Minh Thanh có vài hàng cùng chia sẻ về ” Tiền Công Đức ” mà Minh Thanh thấy ở địa phương của mình như thế.

Tố Nhiên – TGĐ vào lúc 23/03/2012 11:

Pháp lệnh Tín ngưỡng tôn giáo điều 26 ghi rõ: “Tài sản hợp pháp thuộc cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ, nghiêm cấm việc xâm phạm tài sản đó”.
Điều 28 cũng ghi: “Cơ sở tín ngưỡng tôn giáo được tổ chức quyên góp, nhận tài sản hiến, tặng, cho trên cơ sở tự nguyện của tố chức, cá nhân trong nước và tổ chức cá nhân nước ngoài theo quy định của pháp luật”.
Vậy thì tiền công đức, cúng dàng cũng là tiền tự nguyện, là tài sản hợp pháp của nhà chùa, không ai có quyền xâm phạm, hay đòi “quản lý” nó. Nhà chùa quản lý rất tốt tài sản đó theo tinh thần giáo lý, giáo luật, số tiền nhận được nhiều hay ít do sự tự nguyện cúng tiến cũng được phục vụ cho các hoạt động Phật sự.
Giáo hội cũng nên có quy chế để các hoạt động thu chi ở các tự viện được minh bạch. Tránh tình trạng như vị nư sư nào đó, đến khi mất mới phát hiện ra có tài khoản hàng 100 ngàn đôla ở ngân hàng. Có nghĩa rằng, tài khoản của các nhà sư cũng phải công khai cho Phật tử biết và có cơ chế giám sát thu chi sao cho phục vụ tốt nhất cho các hoạt động Phật sự và xã hội. Để tránh việc kiện tụng như vị ni sư kia, khi gia đình thế tục của vị này đòi chia tài sản, Giáo hội phải có quy định rõ về việc này, đề nghị các cơ quan pháp luật chỉnh sửa luật trong đó có ghi tài sản của các vị chức sắc tôn giáo sẽ thuộc về tôn giáo quản lý.
Đạo lý xã hội cần sự minh bạch, và sự minh bạch bắt đầu từ phạm vi nhà chùa càng có ý nghĩa giáo dục xã hội. Các chùa cũng phải tiến tới việc quản lý thu chi một cách chuyên nghiệp hơn. Càng minh bạch thì càng có uy tín đối với xã hội, tin chắc các công tác Phật sự cũng như từ thiện xã hội càng hiệu quả.
Một ngôi chùa hàng năm thu về hàng vài chục tỉ chẳng hạn, thì số tiền đó cũng nên được giải ngân, hoặc ủng hộ các chùa nghèo vùng sâu, vùng xa, hoặc ủng hộ việc xây trường học, trạm y tế, cầu đường, trung tâm từ thiện. Hoặc nếu trong dự án chùa có xây dựng trung tâm từ thiện, nhà dưỡng lão, tuệ tĩnh đường thì số tiền đó cũng nên được quản lý hiệu quả để phục vụ cho các hoạt động về sau.

Nguyên Tú vào lúc 23/03/2012 11:43
Nam mô A di Đà Phật ! xin thành thật chia sẽ
Thường tịnh có khói thì mới có lửa , hiện nay thực tế đa phần các chùa không minh bạch tài chính đúng theo luật chư Phật chư Tổ định ra cũng như giáo hội tăng đoàn không tự quản lý được nên mới xảy ra nhiều tiêu cực trong Phật giáo thiết nghỉ HDTS TWGH thừa biệt mọi việc cái quan trọng la nghỉ ra phương pháp nào để quản lý hạn chế bớt các tiêu cực trong sử dụng tiền Tam Báo . Các vị Trụ Trì phải hiểu và làm đúng theo giáo luật để không uổng phí một đời tu hành
Nam Mô Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo từ bi gia hộ .

Minh Tâm vào lúc 23/03/2012 12:01
Thiết nghĩ nên gửi bài này cho ông Thứ trưởng Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch Huỳnh Vĩnh Ái để đọc mà mở mang tầm nhìn và trình độ!

Hoài Bảo vào lúc 23/03/2012 16:14
NẾU NHÀ NƯỚC RA THÔNG TƯ “QUẢN LÝ TIỀN CÔNG ĐỨC” THÌ CHỈ XIN GHI RÕ:
1. Ở NHỮNG NƠI CHƯA ĐỀN, MIẾU, DI TÍCH KHÔNG CÓ NGƯỜI TU HÀNH THÌ TẠM THỜI GIAO CHO CHÍNH QUYỀN XÃ QUẢN LÝ.
2. NHỮNG CHÙA CHIỀN, TỰ VIỆN, THÁNH THẤT, NHÀ THỜ THÌ GIAO CHO CÁC TU SĨ TÔN GIÁO QUẢN LÝ.
(VÌ CÓ NHIỀU NƠI, DÙ CÓ SƯ TRỤ TRÌ VẪN BỊ CHÍNH QUYỀN ĐÒI QUẢN TIỀN CÔNG ĐỨC – VI PHẠM PHÁP LỆNH TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO)

Minh Nhật vào lúc 23/03/2012 16:24
Kính gửi ông Huỳnh Vĩnh Ái.Tiền Công Đức là đồng tiền do thiện nam tín nữ cúng dường Đức Bổn Sư THích Ca Mâu Ni Phật, Kinh Phật và mười phương Tăng,trong đó có các vị Thánh.Mục tiêu để các vị Sư chi dùng bảo tồn Phật Pháp làm chỗ dựa cho sự tu hành của Phật Tử, Không ai được dùng đồng tiền này cả, ngoài mười phương Tăng. Đây là qui định của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, Tôi xin khuyên ông không nên có ý kiến vào chỗ này, nếu như ông còn quan tâm đến bản thân ,và gia đình ông cũng như sự tồn vong của đất nước.

vô thường vào lúc 23/03/2012 16:42
Lại… “tác phẩm lạ” nghe sao giống đường lưỡi bò, cướp tiệm vàng…
Đời-đạo, luật-lệ, tình-lý, cổ-kim, trong nước-ngoài nước… đều sai trái be bét!

Như Trung vào lúc 23/03/2012 17:05
Kính gởi ngài thứ trưởng.
Đề nghị trước khi ban hành thông tư quản lý tiền công đức, xin ngài cho làm một điều tra thăm dò dư luận xem người dân khi đóng tiền làm từ thiện thì họ tin vào các Thầy ở Chùa và các Cha ở nhà thờ hơn hay tin vào các cơ quan quản lý nhà nước hơn.
Nếu mức độ tín nhiệm của người dân vào hệ thống quản lý nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội trong việc quản lý ngân sách cũng như các khoản đóng góp từ thiện mà cao, chứng tỏ các ngài đang quản lý tốt, lúc đó có lẽ các Thầy cũng như các Cha cũng vui lòng để các ngài quản lý luôn tiền công đức, vì thực tế tiền công đức là của bá tánh, các đấng tu trì phải quản lý là vì trách nhiệm, bây giờ có các ngài quản lý giúp thì tốt quá.
Nhưng nếu qua khảo sát, mức độ tín nhiệm vào các ngài của người dân không còn, thì hãy tự quản lý phần việc của mình cho tốt đi để dân tin, xin đừng dài tay.

Minh Thành vào lúc 23/03/2012 17:31
sao mấy ông nhà nước rảnh nhỉ! có hàng khối bất cập trong chính mỗi cơ quan của họ, sao không tự giải quyết đi. Lúc nào cũng nói là “không có thời gian, không đủ nhân sự” thế mà việc tín ngưỡng lại cứ xen vào quản lý hoài.

Người lương thiện. vào lúc 23/03/2012 20:19
Chuyện tài sản của mấy vị cán bộ cao cấp chỉ dám “kê khai” ( nhưng chưa chắc là chính xác vì nhân dân đâu có được tham gia kiểm tra, điều tra, giám sát..) nhưng không dám công khai trước bàn dân thiên hạ mà đòi ” quản lí”, để “minh bạch” tiền công đức của bá tánh? Một trò hề rẻ tiền!! Là người đàng hoàng lương thiện thì hãy công khai chuyện đó đi rồi mới đủ tư cách mở miệng nói minh bạch, rõ ràng. Xem ra tội nghiệp cho mấy từ quản lí, minh bạch quá!

Kit Ty Tha Nom vào lúc 23/03/2012 20:46
Có lẫm cẩm không vậy? Riêng tôi thì rất nực cười đấy các bác ạ! Bây giờ hòm công đức cũng bị nhòm ngó nữa là sao chứ lị! Chắc nhà thờ Gia tô giáo cũng đang “run” khi nghe tion này đây ?

TINHTUAN vào lúc 23/03/2012 23:24

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.Cảm ơn rất nhiều bài viết của thầy Thích Thanh Thắng, bài viết rất đầy đủ và có ý nghĩa,Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch trước khi ra thông tư nên đọc kĩ bài viết này.

Hồng Hòa Vi vào lúc 24/03/2012 08:40
Xét riêng trong giáo hội, HHV nghĩ rằng việc bắt các cơ sở tự viện đóng góp cho giáo hội rất khó. Hiện tại ngoại trừ một số nơi nổi tiếng có nguồn thu từ tiền công đức, các tự viện còn lại thường nghèo và không đủ tiền hương hoa.

Hơn nữa các tự viện lâu nay tự thân vận động giáo hội lâu nay cũng ít có sự trợ giúp nhất định về mặt vật chất… nên rất khó để tự viện đóng góp tài chinh.

Theo HHV thông tư quản lý này chỉ nên có phạm vi áp dụng đối với các cơ sở do MTTQ quản lý, đối với các tự viện cơ sở do giáo hội quản lý thì giáo hội cần có một công văn quy định và hướng dẫn riêng… Về mặt pháp lý tiền công đức của các cơ sở này không phải thuộc sở hữu của nhà nước.

Hai Ho vào lúc 24/03/2012 08:57

Chuyện ni nghe mà mắc cười. Giống như ai đó có đề xuất những vị giảng sư và lãnh đạo Giáo Hội khi ra đường phải có …vệ sĩ bảo vệ! Rầu quá!

Thế Tài vào lúc 24/03/2012 12:21
Theo sự hiểu biết của tôi, suốt hơn 2000 năm từ khi Phật Giáo du nhập vào Việt Nam, Phật Giáo đã vui bồi cho nền văn hóa Việt mỗi ngày mỗi sáng đẹp, cho dân tộc Việt mỗi ngày mỗi thuần hậu, chính vì lẽ đó mà suốt hơn 2000 năm qua, (hiểu được giá trị vô song đích thực của Phật Giáo) cho nên có triều đại nào, có chính quyền nào muốn quản lý tiền công đức của tín đồ cung tiến đâu, (trừ các triều đại và chính quyền bị ảnh hưởng bởi học thuyết và giáo điều của các tôn giáo khác) nếu không muốn nói là các chính quyền còn tạo nhiều điều kiện cho Phật Giáo để phát huy tiềm năng, giúp chính quyền một tay trong công việc cân bằng trật tự, đạo đức, kinh tế, y tế, giáo dục, từ thiện xã hội…
Tôi hoàn toàn đồng ý với bạn Sen Hồng: “CB.CNV của chính phủ hãy cố gắng làm thật tốt những nhiệm vụ mà trước nay mình làm chưa tốt, chưa hoàn thành, chưa xứng đáng với đồng lương vẫn lãnh hàng tháng bằng tiền đóng thuế của nhân dân rồi hãy nghĩ tới chuyện ” sáng tạo” , “đột phá” (?). Thời bao cấp, bao biện, bao che có câu nói rất chí lí: ” nhàn cư vi..sáng tạo” và ” bần cùng sanh..sáng kiến” xem ra vẫn còn giá trị tham khảo đấy!”
Thêm vào đấy, nếu các CB_CNV các cấp chính quyền nào muốn nhà chùa phải công bố tài khoản thu chi hằng năm, theo tôi, để làm gương cho việc công bố tài chính, thì các CB_CNV các cấp phải cần công bố tài sản chi thu của mình hàng năm trước khi bắt các tự viện Phật Giáo công bố qua tiêu đề: “Thông tư quản lý tiền công đức” sắp được ban hành. Nếu chính quyền thực thi được như vậy, sẽ không gây nhiều phản cảm trong nhiều từng lớp của xã hội và tôn giáo. Đó cũng là cách tốt nhất, giữ vững được an ninh và trật tự xã hội. Mong lắm thay, sự lắng nghe của: “Thứ trưởng Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch Huỳnh Vĩnh Ái đã đề nghị Vụ Kế hoạch – Tài chính tham mưu cho Bộ, phối hợp cùng Bộ Tài chính sớm đưa ra thông tư về quản lý tiền giọt dầu, công đức, cung tiến…”

Liên Hà vào lúc 24/03/2012 21:04
Tôi bắt đầu tìm hiểu Phật pháp chưa được bao lâu. Song tôi thực sự cảm thấy vô cùng kính tín các vị chư tăng ni, vì lợi ích của chúng sanh mà hóa độ và xả thân vì Đạo.
Như một vị con chiên trên có phản hồi “thách chính quyền vào nhà thờ mà quản lý tiền công đức. Các vị sư thật quả là hiền”. Cái mà gọi là thông tư “quản lý tiền công đức” thì chỉ nhìn vào “công đức” nhà chùa mà thôi.
Tôi thấy xã hội bên ngoài quá nhũng nhiễu về quản lý và tham nhũng của một số không ít cán bộ có chức có quyền.(bởi ở đó họ không tìm hiểu về luật nhân quả). Rất mong tình trạng này không tràn vào nhà chùa. Để các thiền môn được thanh tịnh và trong sạch mãi mãi.
Nam Mô A Di Đà Phật.

Thằng khùng vào lúc 25/03/2012 01:06
Nhà nước cố tình muốn quản lý thì cứ quản lý,dân cúng sư thì cứ cúng sư.Không bỏ tiền vào hòm công đức nữa, bỏ thẳng vào túi sư.Chẳng lẽ lại ban hành”thông tư quản lý túi sư”.Đuổi nhau như đèn cù rồi dân lại sẽ có cách khác.Bó tay với sáng kiến tăm tối mù mịt của ông thứ trưởng.Xã hội còn nhiều rối ren chờ quí ông động não giải quyết.Chùa chiền là chốn bình yên dân chúng tôi tự lo được rồi.

Minh vào lúc 26/03/2012 14:44
Nói thiệt nha. Từ lâu rồi tui cũng ngại bỏ tiền vào thùng công đức lắm. Cúng trực tiếp không hè. kha kha kha ……..

Minh Tâm vào lúc 27/03/2012 00:43
bộ mấy ổng tính kiếm chổ để “ăn” nữa hay sao vậy. bộ hết chổ “ăn” rồi sao. thiệt là!!! Việc quản lý tiền bạc của nhà nứớc có rắc rối như thế nào thì ai cũng biết rồi, miễn bàn. Chỉ thấy tiếc là sáng kiến tối tăm đó được thực hiện mà thôi. mà cũng lạ thiệt, sao mà tôn giáo lại được cơ quan “văn hoá, du lich, thể thao” quan tâm chứ, họ không làm việc của họ đi, viẹc của tôn giáo dính dáng gi với họ đâu chứ.

Minh Thành vào lúc 27/03/2012 00:52
thực ra đến giờ này chưa ai được biết là đối tượng của thông tư đó là gì? chứ nói quản lý thùng công đức là nói về PG, chứ không phải tôn giáo khác, vì các tôn giáo khác không có khái niệm thùng công đức.
Mà nghĩ cũng lạ, thùng công đức ở những ngôi chùa DANH LAM THANG CANH đều “được” các “Ngài” du lịch quản lý rồi, điều đó làm mọi người bức xúc lâu rồi nhưng chưa lên tiếng, thế mà hôm nay lại phơi ra cho mọi người biết luôn. thế thì tại sao chúng ta không đòi lại cái mà chúng ta phải có chứ, đòi lại QUYỀN QUẢN LÝ VỀ KINH TẾ CỦA NHỮNG NƠI DANH LAM THẮNG CẢNH CỦA PG chứ. Của tôn giáo thì trả lại tôn giáo là hop lý.

mạnh đức vào lúc 28/03/2012 19:32
Tin mới nóng: Trộm đột nhập nhà thờ Đồng Xoài Bình Phước lấy trộm khoảng 1 tỷ đồng của cha xứ. Cha có kinh doanh đâu mà nhiều tiền thế. Xem ra “tiền công đức” của nhà thờ còn nhiều hơn chùa, chả là không ai để ý đến mà thôi. Mong rằng mấy ông đề ra cái thông tư này, nhòm thử vào két sắt của nhà thờ xem sao?

QUANG MAI Sưu tầm – Tổng hợp.

Share.

Leave A Reply

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.