Lê Lợi vi quân – Nguyễn Trãi vi thần

Truyền thuyết về dòng chữ “LÊ LỢI VI QUÂN – NGUYỄN TRÃI VI THẦN” trên những chiếc lá trôi sông năm nào mà chúng ta biết đến hiện nay không phải là một ‘mưu kế’, một chiến thuật nhất thời của đại công thần Nguyễn Trãi (1380-1442) trong cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh (Trung Hoa) xâm lăng suốt mười năm dài đăng đẳng. Nó là một trong các chiến lược tài ba “đánh vào lòng người” ghi trong BÌNH NGÔ SÁCH mà Ức Trai Nguyễn Trãi dâng lên Thủ lãnh Nghĩa binh Lê Lợi (13851433) ở Lỗi Giang năm 1423, sau khi ông rời khỏi Đông Quan, gia nhập lực lượng Nghĩa binh kháng chiến Lam Sơn. Việc này được ghi lại trong sách ‘Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục’.

Lúc bấy giờ giặc Minh sang đô hộ nước ta, bóc lột thậm tệ nhân dân nước Đại Ngu(1). Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý vơ vét đầy túi lũ tham tàn. Trên rừng chúng bắt đồng bào ta ngày ngày phải vào núi sâu săn ngà voi, sừng tê giác, lùng gỗ thơm, tìm mỏ vàng, mỏ bạc. Dưới bể, chúng hành hạ dân chúng lặn xuống biển sâu đánh bắt thủy sản quý, mò san hô, ngọc trai…, Giữa thị tứ và nơi lân ấp, bản làng chúng bắt thợ giỏi, gái đẹp đem về nước.

Căm hờn sự bất công, điếm nhục trước giặc xâm lăng, Lê Lợi chiêu mộ các nghĩa sĩ lập thành đội quân kháng chiến chống Minh. Lực lượng Nghĩa binh Lam Sơn chiêu mộ được ban đầu, đại đa số họ chỉ là những nông dân, ngư dân, diêm dân chân chất, hiền lành bất bình trước nổi đau nô lệ và bị trị.

Trong số nhân sĩ gia nhập đội quân Lam Sơn, có văn quan Nguyễn Trãi vốn là con của Nguyễn Phi Khanh, con rể của Trần Nguyên Đán – quan Tư đồ nhà Trần. Khi Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần lập nên nhà Hồ, Nguyễn Trãi dự thi và đỗ Thái học sinh rồi ra làm quan Ngự sử đài Chính chưởng dưới triều Hồ.

Ông tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo sau khi nước Đại Ngu rơi vào ách thống trị của nhà Minh. Trong công cuộc kháng chiến chống Minh, Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi, hai trí tuệ lớn này hợp thành những chiến lược gia tài ba ‘văn – võ song toàn’. Nguyễn Trãi là nhân vật thân tín giúp Lê Lợi trong việc soạn thảo các văn thư ngoại giao với quân Minh theo các chiến lược trong Bình Ngô Sách.

Bình Ngô Sách (sách đánh đuổi quân Minh) – Ngô cũng tức là Minh, do Chu Nguyên Chương là vua đầu nhà Minh đã nổi lên ở đất Ngô, sau khi diệt nhà Nguyên, đóng đô ở Kim Lăng là đất Ngô cũ, cho nên nhà Minh cũng gọi là nhà Ngô, nước Minh là nước Ngô, quân Minh là quân Ngô – Bình Ngô Sách gồm ba kế sách rất quan trọng để có thể đánh thắng quân Minh. “Chiến thư” này không đề cập đến việc ‘đánh thành’ mà chỉ chú trọng ‘đánh vào lòng người’, kháng chiến chống giặc dựa vào tinh thần, ý chí và sức dân. Chiến lược “MƯU PHẠT TÂM CÔNG” (đánh vào lòng người) là một chiến lược căn bản đặc biệt trong Bình Ngô Sách mà Nguyễn Trãi đệ trình Lê Lợi ngay lúc cuộc khởi nghĩa Lam Sơn mới manh nha, khiến ông được Lê Lợi trọng dụng và Nghĩa quân tôn kính, nhanh chóng trở thành một trong những lãnh tụ xuất sắc của phong trào Lam Sơn.

“Đánh vào lòng người” là đường lối kết hợp giữa đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao của Nguyễn Trãi. Theo đường lối đó, Lê Lợi và Nguyễn Trãi “đánh vào lòng địch” với hai phương thức chủ yếu là dụ hàng các tướng lĩnh và binh lính địch; khi Nghĩa binh bị dồn vào thế bất lợi thì tạm thời hòa hoãn với địch qua phương thức gởi hòa ước thư hay hòa đàm để bảo toàn lực lượng; khi ưu thế thuộc về Nghĩa quân thì dùng lý lẽ để buộc địch phải ngưng chiến, giảng hòa, băi binh, rút quân về phương Bắc (năm 1427). Phương châm đánh vào lòng người của Nguyễn Trãi đã được thực hiện triệt để từ giai đoạn phôi thai hình thành, xây dựng lực lượng Nghĩa binh cho đến suốt quá trình phát triển, chiến đấu trường kỳ và đã đem lại kết quả huy hoàng kết thúc cuộc kháng chiến. (Rất tiếc Bình Ngô Sách hiện nay không còn một truyền bản nào ngoài những ghi chép tản mạn của một số thư tịch cổ).

Trở lại giai đoạn đầu phong trào khởi nghĩa Lam Sơn; lúc bấy giờ tuy rất căm hận giặc nhưng lòng dân vẫn còn phân tán, e dè. Để quần chúng nơi nơi mạnh dạn tin tưởng vào công cuộc dấy binh khởi nghĩa, Nguyễn Trãi sai vài Nghĩa binh thân tín lấy mỡ (hay mật?) trộn với nước cơm viết vào những lá cây trên rừng tám chữ: 黎 利 為 君 阮 廌 為 臣 “LÊ LỢI VI QUÂN NGUYỄN TRÃI VI THẦN” (Lê Lợi làm vua, Nguyễn Trãi làm tôi). Sau vài ngày, sâu, kiến tìm ăn mỡ, khoét lá rỗng thành chữ, lá rụng trôi theo dòng nước đến các vùng hữu ngạn, tả ngạn hạ nguồn rồi lan truyền khắp mọi nơi. Dân chúng nhặt được đọc và truyền tai nhau là ý trời thương dân Việt nên nhờ tay Lê Lợi và Nguyễn Trãi diệt hung, trừ bạo cứu muôn dân, bèn rủ nhau ồ ạt tìm về Lam Sơn tụ nghĩa, tham gia Nghĩa binh, dốc lòng khuông phò đại nghĩa cùng Lê Lợi trong cuộc kháng chiến kéo dài, nhiều gian khó nhưng vô cùng oai dũng.

Nói theo ngôn từ hiện tại, có thể cho rằng Nguyễn Trãi là một chính trị gia ‘Chiến tranh Chính trị’ lỗi lạc đã áp dụng chiến lược ‘Tâm lý chiến’ xuất sắc và thành công; là một chiến lược gia tài ba cả về ‘Dân vận’, ‘Binh vận’ và ‘Địch vận’, đã giúp Lê Lợi đại thắng quân Minh từ phong trào kháng chiến Lam Sơn cho đến khi lên ngôi vua Đại Việt lấy đế hiệu Lê Thái Tổ, sau khi ông thay lời Bình Định Vương Lê Lợi tung ra “Bản tuyên ngôn Độc Lập” thứ hai là Bình Ngô Đại Cáo năm 1428 (sau bài “hịch” Nam Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt) tuyên bố khẳng định nước Đại Việt là “Văn Hiến chi bang”.

oOo

(1) Quốc hiệu Đại Việt được đổi thành Đại Ngu vào tháng 3 năm 1400 khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền. Đến tháng 4 năm 1407, nhà Hồ bị thất bại trước nhà Minh và tên Đại Ngu không còn dùng làm quốc hiệu từ đó. Khi nhà Hậu Lê kháng chiến giành độc lập, quốc hiệu của Việt Nam lại đổi thành Đại Việt. Một điểm cần lưu ý nữa là chữ “Ngu” (虞) trong quốc hiệu “Đại Ngu” (大 虞) của nhà Hồ có nghĩa là ‘sự yên vui, hòa bình‘, chứ không phải là chữ “Ngu” (愚) có nghĩa là ‘ngu ngốc‘. “Đại Ngu” có thể hiểu được là ‘ước vọng về sự bình yên rộng lớn khắp giang sơn‘.

QUANG MAI

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.