Trong các phong tục cổ truyền của dân tộc Việt trong dịp Tết Nguyên Đán, câu thành ngữ “mồng một tết Cha, mồng hai tết Mẹ, mồng ba tết Thầy” không chỉ mang tính chất chỉ dẫn thứ tiết nghi lễ hay cung cách ứng xử trong ngày Tết dân tộc – nó nhắc nhở chúng ta lòng tôn kính, tình thương yêu và sự lưu tâm đặc biệt đối với các bậc sinh thành và giáo dưỡng. Đây là biểu hiện của nền đạo hiếu thấm nhuần đã lâu đời qua bao thế hệ truyền đời của một giòng người Việt nhân bản, nhân văn.
Chữ “Tết” trong câu thành ngữ này là một động từ, diễn đạt ý nói về việc đi “chúc Tết”. Cũng chưa ai có thể khẳng định chính xác rằng phong tục chúc tết của người Việt hình thành tự bao giờ. Chỉ biết rằng, khi “Tết” trở thành ngày hội lớn nhất năm và ngày Tết Nguyên Đán được coi là ngày khởi đầu một năm mới (theo truyền thống âm lịch), thì việc trao gởi nhau những lời chúc đầu Xuân cũng dần trở thành nếp sinh hoạt đẹp đẽ, ấn tượng, ăn sâu vào tâm thức dân chúng Việt. Và tập quán “mồng một tết Cha, mồng hai tết Mẹ, mồng ba tết Thầy” vô hình trung đã phản ánh nếp ứng xử và lòng tri ân trong những ngày đầu năm của người Việt. Phong tục này đóng vai trò gìn giữ các giá trị gia đình, huyết thống; truyền thống hiếu học và “tôn Sư trọng Đạo”.
Theo quan điểm của người Việt lưu truyền từ cổ đại cho đến hiện đại, “bên Cha” là bên Nội, “bên Mẹ” là bên Ngoại. Với quan niệm ngày mùng một Tết là ngày đầu tiên trong một năm mới, tượng trưng cho sự khởi đầu, cho nên “Mồng một tết Cha” nghĩa là ngày đầu năm mới, vợ chồng, con cái, anh chị em trong gia đình tập trung đến vấn an, chúc tết Ông Bà, Cha Mẹ và Gia tộc bên Nội. “Mồng hai tết Mẹ” là ngày thứ 2 của đầu năm mới (mùng hai Tết) các thành viên cả gia đình cùng đến nhà Ông Bà, Cha Mẹ và Gia tộc bên Ngoại thăm viếng, chúc tụng để bày tỏ lòng thành kính, hiếu thảo. “Mồng ba tết Thầy” có nghĩa là sau khi đã làm tròn bổn phận vấn an, chúc tết hai bên Nội, Ngoại – những người có ơn sinh thành, dưỡng dục – thì ngày tiếp theo (mùng ba Tết) từng cá nhân hay toàn thể cả gia đình, hoặc cha mẹ dẫn theo con cái mình đến chúc tết quý Thầy Cô giáo cũ của mình và Thầy Cô giáo đang dạy dỗ con cái mình – những người đã có công dạy bảo, giáo huấn các thành viên trong gia đình trở nên người hữu dụng.
“Mồng một tết Cha”
Theo cổ lệ truyền thống, ngày mùng một Tết được dành trọn cho gia đình bên Nội – nơi gắn liền với cội nguồn giòng họ và từ đường Tổ tiên, Gia tộc. Thời khắc “minh niên” là thời khắc con cháu sum vầy, dâng hương tưởng nhớ tiền nhân và kính lời chúc thọ đầu năm tới Ông Bà, Cha Mẹ, vấn an và chúc tết Gia tộc bên Nội. “Mồng một tết Cha” không chỉ là ngày mở đầu năm mới mà còn thể hiện chân thật tinh thần hiếu đạo; nền tảng đạo đức bền chặt, miên viễn của giống nòi, của dân tộc Việt tự bao đời. Dù nhịp sống hiện đại sống nhanh, sống vội, sống thực dụng khiến nhiều mỹ tục truyền thống thay đổi theo thời cuộc biến thiên, tuy vậy nguyên tắc dành ngày đầu năm cho bên Nội vẫn được nhiều gia đình gìn giữ như một nếp nhà khó lòng thay đổi. Những ai lãng quên truyền thống này cũng xem như đã vô ý hay cố tình đánh mất nếp sống hiếu đạo, tinh thần Gia tộc và bổn phận truyền thừa huyết thống vậy.
“Mồng hai tết Mẹ”
Tập tục “mồng hai tết Mẹ” thể hiện sự hài hòa trong mối quan hệ gia đình, tôn trọng tình cảm và thể hiện sự hiếu thảo với cả hai bên Nội, Ngoại. Trong xã hội truyền thống chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phụ hệ, tục lệ “mồng hai tết Mẹ” cho thấy chiều sâu nét nhân văn khi người phụ nữ vẫn luôn giữ mối gắn kết bền chặt với gia đình ruột thịt. Không khí ngày mùng hai Tết thường gần gũi, ấm áp và đây là dịp để con cháu tụ tập về dâng hương tưởng niệm Tổ Tiên giòng tộc bên Ngoại, chúc thọ Ông Bà ngoại, chúc tết các Cậu, các Dì; quây quần trò chuyện và thắt chặt tình thân giữa các thế hệ, mà ngày thường từng gia đình hoặc cá nhân thành viên do công việc xã hội hay gia sự đa đoan ít có dịp gặp gỡ, sum vầy.
“Mồng ba tết Thầy”
Cổ lệ “mồng ba tết Thầy” phản ánh rõ nét nhất truyền thống tôn Sư trọng Đạo của người Việt từ trước đến nay, thể hiện sâu sắc đức tính coi trọng tri thức và hết lòng tri ân người đã truyền trao, dạy dỗ mình cũng như con cháu mình. Người xưa xem Thầy không chỉ là người dạy chữ mà còn là người chỉ dạy, bậc “dẫn đường” về đạo lý và nhân cách. Những ngày đầu năm đến thăm viếng, chúc tết Thầy là cách bày tỏ lòng biết ơn, đồng thời gửi gắm kỳ vọng về con đường học hành hay nghề nghiệp được hanh thông, thành đạt. Khái niệm “Thầy” trong tập quán này nên được hiểu rộng ra không chỉ là quý Thầy Cô giáo sư, giáo viên, giảng viên dạy học chữ mà bao gồm các vị thầy dạy nghề, dạy võ, thầy thuốc, thầy đồ ‘cho chữ’… và những người có ân tình truyền trao tri thức, kỹ năng, đạo lý chân chính trong đời sống xã hội, cộng đồng, trong lãnh vực tín ngưỡng, tâm linh.
Ngày nay, dù hình thức tri ân đã nhiều phần thay đổi, linh hoạt hơn, đa dạng hơn, thậm chí đáng buồn là nhiều người xem nhẹ hơn, tuy nhiên tinh thần kính trọng và biết ơn Thầy vẫn được thành viên những giòng họ, những gia đình gia giáo duy trì, dù họ đang sống trong một gia cảnh phong lưu, giàu có hay chật vật, cơ hàn.
oOo
Trong bối cảnh xã hội hiện thời ngày càng sôi động, đua tranh; giữa nhịp sống nhanh, sống vội – thậm chí sống bất chấp! – việc thăm viếng ngày Tết đã không còn nhất thiết câu thúc theo tập tục, thông lệ và trình tự, khuôn mẫu ngày xưa. Để thuận tiện cho mỗi cá nhân và gia đình sắp xếp thời gian phù hợp với điều kiện sống và công việc, nhiều nhà đã linh động việc “đi thăm Tết” sao cho thuận lợi về thời gian và địa lý nhất. Tuy nhiên, câu thành ngữ “mồng một tết Cha, mồng hai tết Mẹ, mồng ba tết Thầy” vẫn giữ được nguyên ý nghĩa cốt lõi như một nền nềp gia phong và đạo lý; là điểm tựa tinh thần giúp con người hiện đại quay về với những mối quan hệ nền tảng cân bằng trong tình cảm và lòng biết ơn với nguồn cội Tổ tiên, Gia tộc, cũng như với các bậc trưởng thượng tiền nhân giáo dưỡng mình và thế hệ con em mình có kiến thức và tri thức; gìn giữ và thể hiện tinh thần tri ân, báo ân; tiếp nối các giá trị truyền thống bền vững của nền văn hóa Việt./.
QUANG MAI
(Hình ảnh minh họa sử dụng A.I từ MUC New & Canva)



