Nhị Thập Tứ Hiếu – trọn bộ video film hoạt họa 24 gương hiếu thảo

24 GƯƠNG HIẾU THẢO

Tác giả video: Sakyabrama – 2010

    1. Hiếu cảm động thiên (Lòng hiếu cảm động trời).
    2. Thân thường thang dược (Tự mình nếm thuốc).
    3. Niết chỉ tâm thống (Mẹ cắn ngón tay tim con đau nhói).
    4. Đơn y thuận mẫu (Quần áo đơn sơ hiếu thuận mẹ).
    5. Phụ mễ dưỡng thân (Vác gạo nuôi cha mẹ).
    6. Lộc nhũ phụng thân (Lấy sữa hươu phụng dưỡng cha mẹ).
    7. Hý thái ngu thân (Áo màu đùa giỡn làm vui cha mẹ).
    8. Mại thân táng phụ (Bán thân chôn cha).
    9. Vị mẫu mai nhi (Chôn con cứu mẹ).
    10. Dũng tuyền dược lý (Suối phun cá chép nhảy).
    11. Thập tang cung mẫu (Nhặt dâu nuôi mẹ).
    12. Khắc mộc sự thân (Khắc gỗ thờ cha mẹ).
    13. Hoài quất di thân (Dấu quýt cho mẹ).
    14. Hành dong cung mẫu (Làm thuê nuôi mẹ).
    15. Phiến chẩm ôn khâm (Quạt gối ấm chăn).
    16. Văn lôi khấp mộ (Nghe sấm khóc mộ).
    17. Tứ văn bão huyết (Để mặc nhiên cho muỗi hút máu).
    18. Ngọa băng cầu lý (Nằm trên băng chờ cá chép).
    19. Ách hổ cứu phụ (Vật hổ cứu cha).
    20. Khốc trúc sanh duẩn (Khóc làm măng mọc).
    21. Thường phẩn ưu tâm (Nếm phân lòng lo âu).
    22. Nhũ cô bất đãi (Luôn cho mẹ chồng bú sữa).
    23. Khí quan tầm mẫu (Từ quan tìm mẹ).
    24. Địch thân niệu khí (Tự mình rửa sạch bô).

LỜI PHI LỘ

1. HIẾU CẢM ĐỘNG THIÊN
Lòng hiếu cảm động trời

Ngu Thuấn là con ông Cổ Tẩu, tính tình rất có hiếu. Cha Thuấn là người hung bạo, không phân biệt được hay dỡ nên người đời gọi là Cổ Tẩu, tức xem như kẻ mù, mắt không có con ngươi. Mẹ kế tối ngày rầm rĩ, sanh ra đứa con đặt tên là Tượng, một đứa trẻ ngổ nghịch, kiêu căng. Cha thường đài Thuấn đi cày ở đất Lịch Sơn vốn có nhiều thú dữ, nhưng khi tới nơi thì có đàn voi ra cày giúp, có chim muông đến nhặt cỏ giùm. Lòng hiếu của Thuấn đã cảm hóa được những loài vật đó.

Vua Nghiêu nghe được điều ấy rồi sắp xếp mọi việc để họp bàn với quần thần về người đàn ông này. Khi rõ mọi việc vua Nghiêu đã gã hai con gái cho Thuấn. Sau thời gian theo dõi vua Nghiêu thấy vừa lòng mà nhường thiên hạ, truyền ngôi vua lại cho Thuấn.

2. THÂN THƯỜNG THANG DƯỢC
Tự mình nếm thuốc

Vua Văn Đế nhà Tây Hán tên Hằng, là con thứ ba của Hán Cao Tổ Lưu Bang, mẹ sinh ra ông là Bạc Thái Hậu. Buổi đầu ông được phong chức Vương ở đất Đại. Đến khi làm vua rồi mà vẫn phụng dưỡng mẹ chu đáo, không ngại mình đang đảm đương công việc của một vị vua.

Lúc bấy giờ mẹ ông bị bệnh kéo dài ba năm, Văn Đế mắt không ngủ yên, thường mặc đại phục của vua đến thăm mẹ sau buổi chầu. Thường ở bên giường bệnh để lo thuốc thang không kể thân mình, mỗi khi dâng thuốc cho mẹ ông phải nếm trước vì sợ có độc. Lòng nhân và hiếu của Văn Đế được lan truyền khắp trong thiên hạ.

3. NIẾT CHỈ TÂM THỐNG
Mẹ cắn ngón tay tim con đau nhói

Tăng Sâm tự Tử Dư sống vào thời nhà Chu, là người thờ mẹ rất có hiếu. Có lần Tăng Sâm vào rừng đốn củi thì ở nhà có khách đến tìm. Mẹ ông không biết liệu thế nào vì chờ lâu mà Sâm vẫn chưa trở về, thề rồi bà bèn cắn ngón tay của mình.

Đang lúc ở trong rừng, Sâm thấy trong lòng quặn đau nên vội vàng đội củi quay về nhà. Đến nơi ông quỳ trước mặt mẹ. Mẹ nói: “Có khách đến bất chợt, ta cắn ngón tay để con biết.”

4. ĐƠN Y THUẬN MẪU
Quần áo đơn sơ hiếu thuận mẹ

Mẫn Tổn tự là Tử Khiên người đời Chu, chẳng may mẹ mất sớm. Cha cưới thêm vợ kế và sinh hạ được hai con. Hai người em thì được dùng áo lót bông còn Tử Khiên thì chỉ có áo độn hoa lau ở bên trong.

Một ngày mùa đông, vâng lệnh cha kéo xe đi dạo chơi, thân thể lạnh cóng, đôi tay không còn nắm giữ tay kéo xe được nữa. Cha quan sát và biết được mẹ kế ác nghiệt nên ông phải chịu đựng sự rét lạnh nên muốn đuổi người mẹ kế của Khiên đi. Khiên thưa rằng: “Mẹ ở lại thì chỉ một mình con phải mặc áo đơn, nếu cha đuổi mẹ đi rồi thì có tới ba người phải mặt áo đơn mà chịu rét.” Mẹ kế nghe được sự tình, biết được lòng hiếu thảo của Tử Khiên mà hối cải.

5. PHỤ MỄ DƯỠNG THÂN
Vác gạo nuôi cha mẹ

Trọng Do tự là Tử Lộ, người ở ấp Biện, thuộc nước Lỗ, sinh vào đời Xuân Thu, học trò Khổng Tử, thờ cha mẹ rất có hiếu. Nhà nghèo, ông thường đi đội gạo đường xa hàng trăm dặm về nuôi cha mẹ. Không có tiền mua thức ăn, phải tìm các thứ rau về nấu canh dâng lên cha mẹ dùng tạm.

Sau khi cha mẹ mất, ông sang nước Sở, được vua Sở trọng dụng, phong ban tước cao sang, cấp nhiều bổng lộc. Ông thường than phiền là không còn cha mẹ để được phụng dưỡng như xưa để ngày ngày đội gạo, bữa bữa nấu canh rau. Khổng Tử thường khen Tử Lộ là người hiếu để và thận trọng từng hành vi.

6. LỘC NHŨ PHỤNG THÂN
Lấy sữa hươu phụng dưỡng cha mẹ

Đàm Tử sinh vào đời nhà Chu, thờ cha mẹ hết lòng. Cha mẹ già đôi mắt lòa không trông rõ, thèm muốn được uống sửa hươu. Đàm Tử liền lấy da hươu khô làm áo mặc vào giả hươu con rồi vào rừng tìm đến gần các hươu mẹ có sữa, vắt lấy đem về dâng cho hai thân.

Một hôm, Đàm Tử gặp bọn thợ săn tưởng lầm là hươu, dùng cung tên toan bắn. Đàm Tử vội vàng bỏ lớp da hươu ra trình bày mọi lẽ, bọn thợ săn thôi không bắn nữa.

7. HÝ THÁI NGU THÂN
Áo màu đùa giỡn làm vui cha mẹ

Lão Lai Tử là người ở nước Sở, sinh vào đời Xuân Thu, đã 70 tuổi mà cha mẹ vẫn còn sống, ông thờ cha mẹ rất có hiếu. Không muốn cha mẹ thấy con già nua mà lo buồn, ông thường mặc áo sặc sỡ, rồi tay múa miệng hát trước mắt cha mẹ.

Lại có khi bưng nước hầu cha mẹ, ông giả vờ trượt té rồi ngồi khóc oa oa trước mặt cha mẹ như trẻ nít mới lên năm lên ba vậy. Cha mẹ vui cười trước trò ngộ nghĩnh của con mình.

8. MẠI THÂN TÁNG PHỤ
Bán thân chôn cha

Đổng Vĩnh là người đời Hán, nhà rất nghèo. Cha chết phải bán mình vay tiền để lo ma chay chôn cất. Đến kỳ trả nợ vay, Vĩnh phải bỏ nhà để đến nơi làm công. Trên đường bổng gặp một người con gái tỏ lời cầu hôn và hứa hẹn sẽ làm vợ cho Vĩnh. Thế rồi hai người cùng nhau đi đến gia chủ, chủ nhân ra lệnh phải dệt đủ 300 tấm lụa thì mới trả xong món nợ đã vay.

Từ khi mới gặp đến lúc quay về, người con gái giúp Vĩnh dệt trong một tháng là hoàn thành. Trên đường trở về, khi đến nơi hai người đã từng gặp gỡ dưới bóng cây cây hòe trước kia, nàng từ giả Đổng Vĩnh rồi chợt biến mất…

9. VỊ MẪU MAI NHI
Chôn con cứu mẹ

Vào đời Hán có người tên là Quách Cự, nhà rất nghèo. có một đứa con trai mới vừa lên ba. Mẹ Cự thường ngày phải giảm bớt phần ăn để nhường cho cháu. Một hôm, Cự gọi vợ đến rồi bảo: “Nhà mình nghèo khó, thiếu thốn. Con trai mình lại phải chia phần thức ăn của mẹ. Chi bằng mình chôn sống nó đi. Con cái thì vợ chồng ta có thể đẻ đứa khác, còn mẹ mất rồi thì không thể tái sinh.” Người vợ nghe xong cũng đồng lòng mà không cải lại.

Vậy là Cự tìm chỗ đào hố định chôn con, khi đào được hơn ba tấc đất thì bất chợt thấy một hủ vàng, bên trên có đề mấy chữ: “Trời ban cho đứa con có hiếu là Quách Cự; quan không được giữ lấy, người dân không được chiếm đoạt.”

10. DŨNG TUYỀN DƯỢC LÝ
Suối phun cá chép nhảy

Khương Thi là người đời Hán, thờ mẹ rất có hiếu. Vợ là Bàng Thị hầu hạ mẹ chồng rất kính cẩn. Mẹ chồng vốn tính thích uống nước sông ở xa nhà đến sáu bảy dặm, người vợ thường phải đi gánh nước về cho mẹ chồng uống. Lại biết bà thích ăn món cá thái ra làm gỏi, vợ chồng thường kiếm về cho đầy đủ để làm món. Lo mẹ già ăn một mình không ngon miệng nên vợ chồng lại hay mời những người lân cận đến để cùng dùng bữa với bà.

Bổng một hôm, bên cạnh nhà xuất hiện một con suối có dòng nước chảy qua, nước trong suối có vị như nước sông. Ngày ngày lại có cặp cá chép từ trong suối nhảy lên, hai vợ chồng bắt lấy mà cung dưỡng cho mẹ.

11. THẬP TANG CUNG MẪU
Nhặt dâu nuôi mẹ

Thái Thuận người đời Hán mồ côi cha từ nhỏ, thờ mẹ rất có hiếu. Gặp phải thời loạn Vương Mãng, mùa màng thất bát, ruộng đất bỏ hoang, cuộc sống đói kém không đủ ăn nên Thuận phải vào rừng hái trái dâu về ăn thay cơm. Trái dâu nào chín ngon Thuận để riêng sang một bên. Tướng giặc Xích Mi đi ngang qua thấy vậy bèn hỏi nguyên do.

Thuận đáp: “Trái đen dâng mẹ, trái đỏ tôi ăn.” Tướng giặc khen Thuận là một đứa con có hiếu, bèn cho lấy ba đấu gạo trắng cùng với một đùi thịt trâu ban tặng.

12. KHẮC MỘC SỰ THÂN
Khắc gỗ thờ cha mẹ

Đinh Lan người đời Hán, chịu tang cha mẹ khi còn thơ ấu, không có cơ hội phụng dưỡng mà trong lòng luôn tưởng nhớ đến công ân cần lao của cha mẹ nên lấy gỗ khắc thành tượng thờ như còn sống.

Lâu ngày, vợ Đinh Lan trễ nải và có lòng bất kính, lấy kim đùa giỡn đâm vào ngón tay của bức tượng, bất chợt máu liền chảy ra. Đến khi tượng gỗ gặp Lan dâng bữa thì trong khóe mắt chảy ra dòng lệ. Đình Lan tra hỏi, biết được sự tình liền đuổi người vợ đi ngay.

13. HOÀI QUẤT DI THÂN
Dấu quýt cho mẹ

Thời hậu Hán, Lục Tích tự là Công Kỷ lúc sáu tuổi đã có dịp theo cha đến tận Cửu Giang để viếng Viên Thuật. Thuật lấy quýt ra thết đãi mọi người, Tích bèn lấy dấu hai trái.

Đến lúc quỳ gối lạy chào để từ giả ra về thì hai trái quýt bất ngờ rơi xuống. Thuật nói: “Chàng Lục là khách quý sao lại dấu quýt?” Tích liền quỳ đáp: “Bản tính mẹ tôi rất thích quýt, tôi định mang về biếu mẹ.” Thuật khen Tích là người hiếm có.

14. HÀNH DONG CUNG MẪU
Làm thuê nuôi mẹ

Giang Cách sinh vào đời nhà Hán, mồ côi cha từ lúc còn bé, sống một mình ở nhà nuôi mẹ. Gặp lúc loạn lạc, Giang Cách cõng mẹ đi lánh nạn. Mấy lần phải đối mặt với giặc. Có tên muốn bắt ép để giải đi, mỗi lần như vậy Cách khóc lóc van xin, nài nỉ rằng mình còn mẹ già không người nuôi nấng, nghe thế tên giặc không nở tàn nhẫn mà bắt đi.

Lúc chạy được đến đất Hạ Bì làm khách thì hai mẹ con sống cảnh bơ vơ, bần cùng khốn khổ. Áo quần không có, giày dép cũng không, Giang Cách đi làm thuê để nuôi mẹ. Dần dần những vật dùng cho mẹ, Giang Cách đã dành dụm và chu cấp chẳng món gì là không có.

15. PHIẾN CHẨM ÔN KHÂM
Quạt gối ấm chăn

Hoàng Hương là người sống ở đời Hán, lúc lên chín tuổi thì mẹ mất. Hương thương mến quyến luyến, gào khóc thảm thiết, người trong làng khen là đứa con có hiếu. Từ đó, Hương tự mình lo liệu trong ngoài, cần cù khổ cực một lòng hầu hạ, phụng dưỡng cha không dám xao lãng.

Mùa hạ trời nóng bức, Hương lấy quạt làm mát gối chăn, chiếu giường rồi mới mời cha lên giường. Mùa đông khí trời lạnh lẽo, Hương nằm ủ vào chăn mền cho ấm trước khi cha vào ngủ. Quan thái thú đầu quận là Lưu Hộ biết được lòng hiếu thảo của Hoàng Hương làm tờ biểu tâu lên vua, được vua ban cho tấm biển vàng là người con hiếu hạnh.

16. VĂN LÔI KHẤP MỘ
Nghe sấm khóc mộ

Vương Bầu sống vào đời Ngụy, thời Tam Quốc, là người con thờ mẹ rất có hiếu. Mẹ ông lúc còn sống hay sợ sấm chớp, lúc mất bà được chôn cất ở nơi núi rừng.

Mỗi lần mưa gió có kèm theo tiếng sét lớn thì Bầu vội vã chạy đến bên mộ quỳ xuống rồi chấp tay lạy mà khấn rằng: “Có con là Bầu đây, mẫu thân chớ sợ”.

17. TỨ VĂN BÃO HUYẾT
Để mặc nhiên cho muỗi hút máu

Vào đời Tấn có câu bé tên là Ngô Mãnh mới lên tám tuổi đã biết phụng dưỡng cha mẹ rất có hiếu. Nhà nghèo đến nổi giường ngủ không có mùng giăng che muỗi.

Hằng đêm có rất nhiều muỗi từ bên ngoài bay vào ẩn trong nhà. Vì sợ chúng cắn cha mẹ nên Mãnh tự mình cỡi trần để làm món đồ ăn béo bở cho lũ muỗi mà không dám xua đuổi, cốt để cha mẹ được yên giấc.

18. NGỌA BĂNG CẦU LÝ
Nằm trên băng chờ cá chép

Vương Tường sống vào đời Tấn, tự là Hưu Chinh. Mẹ mất sớm nên sống với người mẹ kế là Chu Thị, một người không được hiền từ. Trước mặt cha của Tường bà thường hay nói lời gièm pha khiến cho Tường không nhận được tình yêu thương của cha.

Vào độ tiết trời lạnh lẽo, nước đóng thành băng, bà mẹ lại thèm ăn cá tươi. Tường cởi trần, nằm trên băng để cầu bắt được cá cho mẹ. Bổng dưng, băng bị nứt ra rồi có hai con các chép nhảy lên. Tường bắt lấy và mang về dâng lên mẹ…

19. ÁCH HỔ CỨU PHỤ
Vật hổ cứu cha

Dương Hương sống vào đời nhà Tấn. Năm lên 14 tuổi thì thường đi theo hầu bên cạnh cha, lúc thì đi thăm đồng ruộng, khi thì đi xem gặt lúa.

Có lần cha bị cọp đuổi, do sức yếu và mệt mỏi nên không chạy nổi. Lúc ấy trong tay Dương Hương không có một tất sắt, nhưng trong lòng chỉ nghĩ tới cha mà không kể tới thân mình. Chàng nhảy bổ về phía trước nhanh như chớp, ôm ngay lấy cổ cọp mà cố xiết chặt. Cọp vùng vẫy nhưng rồi cuối cùng cũng ngã gục, cha của Hương thoát chết trong gang tấc.

20. KHỐC TRÚC SANH DUẨN
Khóc làm măng mọc

Thời Tam Quốc có người tên là Mạnh Tông, tự Cung Vũ, sớm mồ côi cha. Đến lúc mẹ già, bà bị bệnh nặng, nhiều tháng thèm ăn canh măng, Tông không biết phải làm cách nào để có măng nấu canh cho mẹ vì bấy giờ đang là mùa đông. Ông bèn đi vào rừng trúc rồi ôm gốc trúc mà khóc.

Lòng hiếu đã cảm động trời đất, trong chốc lát bỗng mặt đất nứt ra, nhiều chồi măng trúc xuất hiện. Mạnh Tông vô cùng vui sướng, chặt lấy mang về nấu canh dâng lên mẹ. Ăn xong bà liền khỏi bệnh.

21. THƯỜNG PHẨN ƯU TÂM
Nếm phân lòng lo âu

Dữu Kiềm Lâu người thời Nam Tề, làm chức huyện lệnh Sàn Lăng. Đến huyện nhậm chức chưa đầy một tuần thì bỗng thấy trong lòng bồn chồn, mồ hôi liên tục chảy, bèn vội vã từ quan quay về quê.

Lúc về đến nhà thì mới biết cha đau nặng trước đó hai hôm. Thầy thuốc bảo rằng: “Muốn biết bệnh có được trị khỏi hay nguy kịch thì chỉ cần nếm phân. Nếu đắng thì tốt, có thể chạy chữa được.” Kiềm Lâu về nếm phân thì chỉ thấy có vị ngọt, trong lòng rất lo âu cho việc đó. Đến đêm, ông thắp nhang hướng về sao Bắc Đẩu hành lễ cầu được chết thay cha.

22. NHŨ CÔ BẤT ĐÃI
Luôn cho mẹ chồng bú sữa

Bà cố của Thôi Sơn Nam là phu nhân của vị trưởng tôn họ Thôi, tuổi cao, răng đã rụng hết. Bà nội của Thôi Sơn Nam là Đường phu nhân hằng ngày thường tắm gội sạch sẽ rồi lên nhà trên cho mẹ chồng bú sữa, vì vậy mấy năm liền bà không thể ăn cơm được mà vẫn khỏe.

Đến một ngày nọ, bà cố của Thôi bị bệnh nặng, lúc hấp hối bà gọi già trẻ đến đông đủ rồi nói rằng: “Không biết lấy gì để báo ân cho tân phụ (con dâu). Ta chỉ nguyện cầu cho con, dâu họ Đường sau này có dâu con cũng chí hiếu và cung kính đầy đủ như Đường phu nhân vậy.”

23. KHÍ QUAN TẦM MẪU
Từ quan tìm mẹ

Chu Thọ Xương người đời Tống, mẹ ông là vợ thứ của cha tên Lưu Thị. Năm lên 7 tuổi thì mẹ ông bị đích mẫu (người vợ cả) đuổi đi. Mẹ con xa cách, 50 năm không gặp nhau. Thọ Xương luôn tìm kiếm mà không được, càng nghĩ đến mẹ lòng càng thấy chua xót.

Triều vua Thần Tông, ông xin từ quan và cùng với các gia nhân vào nước Tần để tìm mẹ. Trước lúc lên đường, ông quả quyết rằng: Nếu không tìm thấy mẹ thì thề là sẽ không trở về. Sau một thời gian tìm kiếm khắp nơi cho đến khi tới đất Đồng Châu thì gặp được mẹ. Lúc bấy giờ tuổi của mẹ ông đã hơn 70 tuổi rồi.

24. ĐỊCH THÂN NIỆU KHÍ
Tự mình rửa sạch bô

Hoàng Đình Kiên người đời Tống ở Hào Sơn Cốc, làm quan tới chức thái sử, thờ cha mẹ rất có hiếu. Bản thân ông là người giàu sang hiển đạt mà thờ mẹ tận tâm và thành thực.

Mỗi đêm, ông tự mình săn sóc và đi rửa bô cho mẹ mà chưa từng có ngày giờ nào xao nhãng, thiếu cung kính mẹ đúng như chức phận của một đứa con.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.