Sống đã chịu nhiều bề phiền não
Thác lại nhờ hớp cháo lá đa
(Văn tế Thập loại Chúng sinh)
“Hớp cháo lá đa” là tận cùng của bất hạnh, đói khổ, cơ cực, nhưng cũng là tận cùng của tình nhân ái, yêu thương đầy nét đẹp trong sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng dân tộc Việt.
Người Việt thế hệ trước hầu hết ai cũng biết đến phong tục cúng cháo lá đa. Thường vào những dịp lễ, tiết Âm lịch như Tết Nguyên Đán, Thượng Nguyên (rằm tháng giêng), Sóc Vọng (ngày mùng một, ngày rằm) hằng tháng, đặc biệt là đầu năm mới và trong tháng Bảy âm lịch, khi ‘cúng Cô hồn’, ‘cúng Đất’, nhiều gia đình hay nấu cháo loãng, múc ra chén nhỏ hoặc lót lá đa, lá mít rồi đặt ngoài sân, dưới gốc cây hay góc vườn, đốt mấy nén hương (nhang) thơm khấn vái. Ngoài ra trước khi cúng xong người ta còn rảy cháo loãng quanh sân nhà, trong vườn hay bên vệ đường mỗi khi gia đình có thiết lễ ‘cúng Cô hồn’, mà trong Phật giáo gọi là ‘cúng Thí thực’…
Loại cháo cúng là cháo trắng không nêm gia vị này dân gian nhiều địa phương miền Trung gọi là “cháo thánh” hay “cháo cúng thí” (theo giáo nghĩa đạo Phật là ‘bố thí’); miền Nam gọi là “cháo cô hồn”; còn “cháo lá đa” là một tục lệ cúng Cô hồn đặc trưng, nhiều nhất là ở miền Bắc trước… 1975, trước… 1954, trước… 1945, và một số địa phương miền Trung. Cháo không cúng trong nhà, không đặt chung với mâm cúng ông bà Tổ tiên. Phần cúng này dành cho những vong hồn vô tự lang thang, bơ vơ không nơi nương tựa; những bé thơ sút sảo tảo vong, yểu tử yểu mệnh; những tử sĩ vô danh hy sinh bởi lằn tên mũi đạn chốn sa trường; những người tha phương bạc mệnh bỏ mình nơi quê người đất khách…, họ là những vong giả dễ bị rơi vào lãng quên, cô độc, nhất là trong những ngày các gia đình đoàn tụ sum vầy cúng bái.
Cháo cúng Cô hồn được nấu thật loãng, khi cúng sẽ đổ vào những chiếc lá đa hay lá mít đã được cuốn và tỉ mỉ ghim lại như những cái phễu nhỏ, có tên gọi tùy theo vùng là “bồ đài” hay “bồ kề”. Có khi cháo cúng nhiều thì cứ đổ một muỗng nhỏ ngay trên những lá đa, lá mít lật ngửa, không cuốn, vì lá khi hơi héo thì cong vành lên tựa như một cái dĩa cạn. Những chiếc “dĩa” cháo này được đặt lên các manh chiếu sạch sẽ hay trong nong, nia, trẹt…, hoặc các “bồ đài” sẽ được cài vào một cái que cắm vào gốc cây hay cắm xuống đất trong vườn, bên vệ đường, vỉa hè, ở ngã ba, ngã tư gần nhà, ở đầu cầu, đình quán…, đơn giản hơn, “bồ đài” đựng cháo được cài vào chân hương của một cây hương đã thắp rồi cắm, thay vì ghim một cái que riêng.
Loại lễ phẩm cúng Thí “ít ỏi” ấy, không thể gọi là bát cháo, chén cháo mà chỉ có thể gọi là hớp cháo – vì chỉ vừa một hớp – như trong ‘Văn tế thập loại chúng sinh’ của đại thi hào Nguyễn Du: “Sống đã chịu nhiều bề phiền não, thác lại nhờ hớp cháo lá đa”. Thuở nhỏ, khi chứng kiến cái phong tục cúng cháo lá đa theo cách thuở sơ khai này, nhiều người trong chúng ta không tránh khỏi cảm giác hơi rờn rợn, sợ sợ, muốn “nổi da gà” rất khó tả.
Tại sao cúng cháo? Vì lúa gạo, ngũ cốc là thực phẩm chính yếu của người Việt, do đó cháo trở thành vật phẩm hiến cúng cho các vong giả Cô hồn. Tại sao cúng cháo loãng? Theo giáo lý Phật giáo, loài ngạ quỷ bị quả báo có thân thể “cổ nhỏ bụng to” khiến thức ăn khô, đặc không thể nuốt qua cổ họng nên cúng cháo, và cháo càng loãng thì họ càng tiếp nhận được một cách dễ dàng. Theo quan niệm dân gian thì những linh hồn ma đói lâu ngày không được ăn cổ họng sẽ teo hẹp lại nên những thức ăn cứng như cơm, bánh, họ không ăn ngay được như người trần thế và vẫn sẽ bị đói khát, nên phải cúng cháo loãng. Quan niệm này cho thấy đức tin ấy thể hiện lòng từ bi, nhân ái khá đặc biệt của người Việt bất luận tín ngưỡng tôn giáo nào.
Ngoài ý nghĩa ngày lễ Vu Lan được giải thích theo kinh điển Phật giáo, đối với tín ngưỡng dân gian Việt Nam, dù là Khổng giáo, Đạo giáo – hay không theo cả 3 đạo Phật, Khổng, Lão – người Việt vẫn truyền tụng bao đời nay về ngày Rằm tháng Bảy là ngày ‘Xá tội vong nhân’ (Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân – Ca dao Việt Nam), và vào dịp này, trừ những ai theo chủ nghĩa vô thần hoặc độc thần, còn lại thì rất nhiều gia đình bày biện lễ cúng thí thực, cúng cô hồn, cúng cháo lá đa để bố thí cho những vong hồn phiêu dạt lang thang, loài ma đói, ngạ quỷ, các Âm linh trong thập loại chúng sinh không được cúng tế đầy đủ trong “tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt, toát hơi may lạnh buốt xương khô” (Văn tế thập loại chúng sinh), để tất thảy Âm linh Cô hồn đều được dịp ăn uống, không bị đói khát, nghe kinh kệ hay lời khấn nguyền trong ngày “mở cửa địa ngục – xá tội vong nhân” mà được siêu sanh thoát hóa về nơi một cảnh giới không còn nhiều khổ lụy.
Trước hoặc sau lễ cúng – không kể đến các chùa chiền, niệm Phật đường – những gia đình sung túc, đời sống tương đối đầy đủ, họ còn thành tâm phân phát gạo cơm, vải vóc hay quà bánh bố thí, ủy lạo cho những gia cảnh nghèo khó, cơ nhỡ, bần hàn.
Dẫu cách gọi về lễ cúng hay lễ phẩm cúng tiến có những dị biệt theo vùng, theo miền, tuy vậy đó hoàn toàn không hề là việc cúng bái do mê tín hay cầu xin bởi dị đoan; trái lại đây là cách mà người xưa thể hiện tinh thần nhân ái, nhân bản và nhân văn bao la rộng lớn, khuyên bảo, khuyến khích nhau cũng như truyền thừa cho con cháu đời sau rằng sống trên đời phải có trước có sau, người đủ đầy thì phải nhớ nghỉ và chăm lo đến kẻ còn bơ vơ thiếu thốn. Chỉ một muỗng cháo, một nén hương nhưng hàm chứa tình cảm xót thương và sự xẻ chia, từ bi cứu giúp các vong giả vơi đi phần nào nỗi đói khát và nhận được niềm an ủi trong cơn khổ nạn; đồng thời người thí chủ cũng ước nguyện cho Âm cũng như Dương đều được ấm no, đủ đầy và an ổn.
Hiện nay phong tục cúng cháo lá đa tuy đã ít nhiều mai một, chỉ còn thấy ở một số làng quê hoặc các lễ cúng Cô hồn do các “thầy pháp”, “thầy cúng” chủ trì. Các tín đồ Phật giáo thì thường cúng Thí thực, còn phần lớn công chúng theo các đạo giáo cổ truyền khác thì cúng Cô hồn định kỳ hoặc bất định kỳ; và tục cúng cháo lá đa vẫn chưa phải là đã thất truyền hẵn, chưa hẵn chỉ còn là hoài vọng…
Cúng cháo lá đa là một nét văn hoá tâm linh lặng lẽ, dung dị nhưng vô cùng nhân hậu, từ ái của dân tộc Việt xưa nay trong tâm hồn thuần hậu từ giới bình dân cho tới hàng quyền quý./.
QUANG MAI
