Tản mạn chuyện thắp hương

HƯƠNG CỦA NHANG

Cây hương có mặt trong đời sống tâm linh của người Việt từ lâu đời, và có thể lâu đời hơn tại hai nước lớn có truyền thống văn hóa xa xưa là Ấn Độ và Trung Hoa. Trong tập ký sự “Mùi Trầm Hương”, tác giả Nguyễn Tường Bách cho biết, ở Ấn Độ: “Vào ngồi chiếc taxi cũ kỹ của họ, tôi đã thấy ngay cây hương”, “hương hầu như màu đen”. Gần đây có loại hộp nhang Ấn Độ, mùi đậm đặc, cây nhang chỉ dài 1 tấc. Còn ở Thái Lan, cũng theo tác giả trong tập ký sự đó: “Hương của họ không khác hương của ta bao nhiêu”. Tác giả có thêm nhận xét về hương Trung Quốc: “Hương có mùi giống như hương Việt Nam, nhưng lạ thay, cây nào cây nấy to giống như que củi”.

Cây hương có thể có nhiều công dụng, nhưng công dụng đầu tiên mà con người nghĩ đến là dùng vào việc thờ cúng. Hương không chỉ trong chùa, trong nhà, hương còn được thắp trong vườn để cúng những người khuất mặt, hương thắp trên nấm mồ, hương trong những buổi lễ tưởng niệm… Hương là vật phẩm không thể thiếu trong đời sống lễ nghi của quốc gia, của tôn giáo và trong đời sống tâm linh của mọi người.

Hương trầm Huế vốn là đặc sản lâu đời của đất Cố đô, và ngày nay vẫn được thị trường trong nước ưa chuộng. Không những hương có mùi vị đặc trưng của trầm mà còn vì có hình thức thanh, hương xe mịn, đều và cháy hết. Thật ra, ở Huế người ta cũng dùng hương loại thường, nhưng phổ biến trong các nghi lễ vẫn là hương trầm, cho dầu trầm có thể chất lượng cao; có thể là chút ít bột trầm; và cũng có thể là các sản phẩm và phụ gia đem lại hương thơm tương tự trầm.

Được làm ra từ bàn tay của những người lao động chân chất, cây hương được thắp trên bàn thờ để con người thả hồn vào thế giới tâm linh, và trãi qua thời gian, công dụng đó vẫn là độc tôn. Một ngôi nhà không chỉ là nơi ăn ở, sinh hoạt, vui thú của những thành viên trong gia đình, mà còn là nơi phảng phất hình bóng người xưa. Bàn thờ, lư hương, bát nước là thiêng liêng, cho dầu cửa nhà sa sút, gia chủ cũng luôn luôn giữ những vật thờ thiêng liêng này.

Nhìn đốm đỏ, một chút khói, một mùi hương nhẹ, một lúc lắng đọng tâm, con người quên đi những lao xao vọng động. Việc thắp hương trên bàn thờ là bài học luân lý đi sâu vào tàng thức và một thực tập định tâm nhẹ nhàng. Đốm lửa hương nhỏ thế mà làm ấm cả ngôi nhà, gắn kết mọi người trong gia đình, gắn kết cả người đương thời và người khuất mặt.

Đốm lửa đó cũng được thắp lên từ tay bà mẹ khi người thân trong gia đình đang nhập viện chờ ca mổ, đốm lửa đó cũng sáng lên niềm hy vọng từ cha mẹ nghèo vừa tiễn đứa con lên đường thi tuyển sinh đại học, đốm lửa đó cũng là lời kính cẩn tường trình ‘Ôn Mệ’ của đứa cháu mới từ phương xa trở về nhà…

Bao nhiêu chuyện buồn vui cũng biểu thị qua cây hương, cho nên, khi con đã trưởng thành, lập gia đình và ra riêng, người con lại nối tiếp thắp hương trên bàn thờ.

Thắp hương là để tưởng nhớ đến người xưa. Người xưa là danh nhân, anh hùng, tử sĩ, là chiến sĩ vô danh, là đồng bào tử nạn… Người xưa không chỉ là Tổ tiên, người thân qua đời, mà biết bao người đã ngã xuống, ở khắp nơi, kể cả trong khu vườn, bên vệ đường… Riêng ở thành phố Huế, biết bao nhiêu nghĩa tử, oan hồn, biết bao nạn nhân do chiến tranh, nạn đói, bệnh dịch… ít nhất là từ thời nhá nhem tranh chấp giữa lưu dân Việt và cư dân Chàm, rồi đến những biến cố như thất thủ kinh đô (23/5 Ất Dậu, tức 5/7/1885), nạn đói năm Ất Dậu (1945), biến cố chiến sự thảm khốc Tết Mậu Thân (1968) và nhất là qua giai đoạn chiến tranh khốc liệt vừa qua. Những đau buồn đó khiến dân Huế có tập tục cúng cô hồn, và thắp hương ở nhiều nơi.

Một số chùa ở Huế còn thắp hương và bày mâm cúng cô hồn người Chiêm Thành (mâm cúng không bày trên bàn mà đặt trên đất). Nhiều hàng quán hàng ngày đều thắp hương tại nơi bán, có quán thì hai ngày rằm, mồng một thắp hương, khấn vái, như thỉnh cầu Trời-Phật chứng minh lòng thành và van vái những oan hồn phù hộ, cho họ yên ổn làm ăn. Ngay những người đạp xích lô cũng thắp hương và khấn vái tại nơi thường xuyên đậu xe, và lư hương của họ có thể đặt ở gốc cây đa, gốc cây bồ đề hoặc gốc cây cổ thụ mà họ tin là linh thiêng.

Chuyện tín ngưỡng như thế diễn ra một cách đơn giản và âm thầm, với hình thức thắp hương khấn vái, và thỉnh thoảng có dâng hoa quả đơn sơ vào thời điểm đêm hôm vắng người, hoàn toàn không ảnh hưởng đến phố phường nhộn nhịp, xe cộ qua lại. Một sự kiện rất cảm động mà sau này tôi mới biết là chính những người xích lô và xe ôm hành nghề ban đêm đã thường xuyên thắp hương tại Đài Thánh Tử Đạo[*] (góc dốc cầu Trường Tiền và đường Lê Lợi – Huế), và đã thay lư hương mới khi có kẻ xấu hủy hoại lư hương.

Chuyện thắp hương của những người lao động hoặc buôn bán nhỏ hai bên đường đã làm cho họ hiền thiện hơn: Ông xích lô biết thương bà mệ tần tảo buôn bán thường đi xe mình; chị bán quán có thể bán rẻ cho sinh viên nghèo; anh sửa xe có thể cho mắc nợ ông già đi xe đạp…

Kết tụ tinh anh từ cây tre Việt Nam, từ những cây lá thơm hiền của núi rừng Việt Nam, cây nhang tỏa hương với niềm tin hiền thiện đến trời đất, với đạo lý uống nước nhớ nguồn, với niềm san sẻ đau khổ nhân gian. Không cần nhiều, một cây hương là đủ. Thắp một cây hương ngay ngắn, thành kính, đủ để mình tịnh hóa thân tâm.

Cây hương đang cháy là hình ảnh của vô thường. Một cây hương với đốm lửa, tinh anh tỏa ra, rồi từ từ ngắn lại, cho đến một chút khói cuối cùng. Cũng như thế, một kiếp người!

CAO HUY HÓA

[*} Đài tưởng niệm 8 Thánh Tử Đạo Phật Giáo Việt Nam đầu tiên bị thảm sát tại Đài phát thanh Huế trong đêm lễ Phật Đản PL. 2507 (1963) – Thư Viện GĐPT chú thích thêm.

ĐỌC THÊM

Có một thói quen nhỏ, nhưng ở một số gia đình, nó thành một nếp sống.

Trước khi rời nhà đi xa, dù chỉ vài hôm, dù chẳng phải chuyện gì quan trọng. Không dặn ăn mặc cho đủ, cũng chẳng dặn tiền nong. Chỉ một câu quen thuộc:

“Nhớ thắp cho ông bà một nén nhang rồi hãy đi.“

Nén nhang ấy không làm con đường bớt gập ghềnh, nhưng nó khiến bước chân bớt chênh vênh. Vì người đi biết: mình không đơn độc. Có một cái nhìn vô hình đang tiễn đưa, một chỗ dựa tinh thần đang đi theo. Còn người ở lại, nhìn thấy con cháu cúi lạy bàn thờ trước khi đi trong lòng cũng yên. Yên vì biết rằng, đứa con ấy vẫn còn nhớ gốc. Không đi vội vàng, không đi hững hờ, mà đi với sự tri ân.

Thờ cúng trong nhà Việt vốn là vậy. Nó không phải chuyện cầu xin mà là chuyện giữ mạch.

Một nén nhang trước khi đi xa rằng: Ta có nơi để trở về. chính là cách để nhớ. Dù ra phố thị, ra xứ người, hay đi tận đâu, trong lòng vẫn neo lại một góc quê nhà.

Đôi khi, sức mạnh không nằm ở những điều lớn lao mà chỉ nằm trong một thói quen giản dị: Thắp cho ông bà một nén nhang trước khi đi xa. Để biết rằng, đi đâu cũng không lạc gốc.

Hãy giữ lấy thói quen giản dị ấy, đừng bỏ.

Vì khi còn nhớ thắp một nén nhang trước lúc rời nhà, thì ta vẫn còn biết mình từ đâu mà đi. Và chính điều đó mới làm ta yên lòng trên mọi nẻo đường.

Không có mâm cúng. Không có mâm trái cây. Chỉ một nén nhang, lửa mồi từ chiếc đèn nhỏ bên bàn thờ, khói bay nghiêng nhẹ. Chắp tay trước tổ tiên, không cầu xin gì nhiều chỉ là: “Con đi đây, mong các Cụ giữ nhà yên”.

Với người Việt, thắp nhang không chờ dịp. Mỗi sáng có mặt ở nhà là thắp để chào. Mỗi lúc đi xa là thắp để thưa. Không rình rang, không lễ lớn, chỉ là một nếp nhắc rằng: “Con còn nhớ mình là ai, từ đâu mà đi.”

Có người bảo: “Cúng xin gì?”

Nhưng với người xưa, thắp nhang không phải để xin, mà là để thưa – trình – báo – gửi.

Trong tâm thức ấy, tổ tiên không phải ông thần để ban phước mà là người thân đã khuất vẫn bên mình, vẫn giữ cửa, vẫn biết lối con cháu ra vào. Và vì vậy. đi đâu cũng phải nói cho các Cụ biết.

Có người công tác gấp, quên thắp nhang. Trên đường, tự nhiên thấy lấn cấn, không vì mê tín, mà như một nỗi day dứt nhẹ, giống cảm giác ra khỏi nhà mà quên khoá cửa. Không sợ mất, chỉ thấy thiếu một thứ không nên thiếu. Vì một nén nhang buổi sáng, không phải để bảo vệ, mà là để nối sợi lòng từ người đi đến người ở lại.

Một hình thức rất yên để giữ kết nối giữa ngày hôm qua và hôm nay.

Người ta có thể gọi đó là tín ngưỡng, nhưng không, gọi đó là nếp nhớ. Một nén nhang là cách người Việt chào Tổ tiên, khi không thể nói bằng lời.

Một nén nhang cắm xuống là một lần dặn lòng: đi cho đàng hoàng, sống cho có hậu.

Có người thắp rồi mới đi. Cũng có người… chỉ cần cắm một nén nhang xong là đổi ý vì chợt thấy lòng mình chưa thẳng. Việc mình sắp làm, chưa chắc đã đúng.

Vậy nên thắp nhang không chỉ là nghi lễ, mà là một khoảng dừng để soi lại mình. Một khoảng dừng đủ để ta nhớ có người khuất vẫn dõi theo. Đủ để biết: Mình không đi một mình mà mang theo gia phong, lòng người, và một nếp sống biết kính trên nhường dưới.

Giữa đời sống bận rộn, nhiều người đi đâu cũng vội quên mất một nén nhang từng là lời lặng giữa bao điều ồn.

Thắp lên không phải để được phù hộ mà để biết: lòng mình vẫn còn một chỗ để lặng lại trước khi bước ra đời.

Nhiều người trẻ bây giờ không hiểu, tưởng đó là phong tục cũ. Thực ra, không phải để “xin phù hộ”. Mà là để dặn lòng mình, đi đâu, làm gì cũng không quên mình là con nhà ai. Đi đâu cũng có người chờ mình về, và khi mình biết có chốn để về, bước đi mới có chừng mực.

Tổ tiên không cần mình báo nhưng người sống cần nhắc mình còn gốc. Cây có gốc thì cành mới vững, người có biết mình từ đâu, mới không dễ trượt khi ra đời.

Còn một điều nữa:

Người xưa tin rằng, khi mình rời nhà đi xa, khí trường trong nhà sẽ đổi. Báo Tổ bằng một cây nhang cũng là để “thông” cho khí nhà không trống đột ngột. Cho người ở nhà biết nếp sinh hoạt sẽ khác, tâm lý sẽ khác, để người giữ nhà giữ yên hơn.

Ngày nay, có người bay đi chục chuyến một năm, nhưng bàn thờ không đụng, nhang không thắp, Tổ tiên không nhớ mặt. Đi nhiều, mà rốt cục không còn biết đâu là chốn để về.

Đó mới là điều đáng tiếc.

Một cây nhang báo tổ, không làm mình giàu, không làm mình giỏi. Nhưng làm mình biết giữ mình. Mà người biết giữ mình, ra đời không dễ trượt.

FB Ven Tịnh

LuHuong.gif

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *