Tiểu sử Đức Đệ Ngũ Tăng Thống GHPGVNTN – Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ

0

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ

CỐ ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG
THÍCH QUẢNG ĐỘ
(1928-2020)
ĐỆ NGŨ TĂNG THỐNG
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT

  • THÂN THẾ:

Hòa Thượng Thích Quảng Độ thế danh là Đặng Phúc Tuệ, sinh ngày 27 tháng 11 năm 1928, nhằm ngày 16 tháng 10 năm Mậu Thìn tại xã Nam Thanh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình trong một gia đình làm nghề nông, theo Nho học và đời đời kính tin Phật Pháp. Thân phụ Ngài là cụ ông Đặng Phúc Thiều, tự Minh Viễn. Thân mẫu là cụ bà Đào Thị Huân, pháp danh Diệu Hương, hiệu Đàm Tĩnh. Hòa Thượng có ba anh em trai, người anh cả là Đặng Phúc Trinh, anh thứ là Đặng Phúc Quang và Ngài là con út.

  • XUẤT GIA TU HỌC:

Năm 1934, Ngài theo học trường làng, đến năm 1942 xuất gia với Hòa Thượng Thích Đức Hải, trụ trì chùa Linh Quang, thôn Thanh Sam, xã Trường Thịnh, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông, được ban cho pháp danh Quảng Độ, sau đó được Bổn Sư gởi đến tu học tại Phật Học Viện Quán Sứ Hà Nội.

Năm 1944 Ngài thọ giới Sa-di và năm 1947 đăng đàn thọ Cụ Túc giới.

Năm 1952, Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập tại Bắc Việt do Hòa Thượng Thích Trí Hải – Tri Sự Trưởng, Hòa Thượng Thích Tâm Châu – Tri Sự Phó, Hòa Thượng Thích Tố Liên – Tổng Thư Ký. Tổng Hội này cử Ngài Quảng Độ đi du học ở Tích Lan, theo học tại Phật Học Viện Kelaniya Pirivena.

Tiếp đó, Ngài rời Tích Lan sang Ấn Độ du học cùng thời 1952-1953 với quý Ngài Thích Minh Châu, Thích Quảng Liên, Thích Trí Không và Thích Huyền Dung trong lúc các vị Thích Tâm Giác, Thích Thanh Kiểm, Thích Thiên Ân và Thích Quảng Minh thì được cử sang Nhật du học cũng vào khoảng thời gian này. Trong thời gian du học Ấn Độ, Hòa Thượng Quảng Độ có dịp đi chiêm bái các Phật tích và di tích Phật Giáo tại Nepal, Bhutan, Tây Tạng…

  • THỜI KỲ HÀNH ĐẠO:

Năm 1958, Ngài trở về Sài Gòn, chuyên dạy học và dịch kinh sách.

Biến cố 1963, Ngài tham gia Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo trong Ban Thông Tin Báo Chí. Trong chiến dịch “Nước Lũ” – tổng tấn công chùa chiền – đêm 20 tháng 8 năm 1963, Ngài bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt cùng hơn 2.000 Tăng Ni, Phật Tử trên toàn quốc, nhiều nhất là tại Sài Gòn và Huế.

Sau cuộc đảo chánh của giới quân nhân ngày 1/11/1963 Ngài được thả về cùng toàn bộ Chư Tăng Ni, Phật Tử. Trong thời gian bị giam cầm, vì không chịu khai báo nên bị tra tấn dữ dội. Ngài và Cư sĩ Cao Hữu Đính là hai người bị tra tấn dã man nhất, đến mức di chuyển phải bò vì không thể đứng bằng đôi chân. Vì vậy, sau khi được phóng thích, Ngài phải trị bệnh ba năm mà vẫn không dứt. Năm 1966 phải sang Nhật giải phẫu phổi. Một năm sau, 1967, Ngài mới bình phục trở về nước. Trên đường về Ngài ghé qua các nước Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan, Miến Điện để khảo sát tình hình Phật Giáo Á Châu. Về nước Ngài tiếp tục dịch kinh sách và giảng dạy tại các trường: Phật Học Viện Từ Nghiêm, Phật Học Viện Dược Sư, Viện Đại Học Vạn Hạnh (Saigon), Viện Đại Học Hòa Hảo (An Giang) v.v…

Năm 1972, Hòa Thượng là Phát Ngôn Nhân kiêm Thanh Tra của Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Tháng 11 năm 1973, tại Đại Hội kỳ V công cử Ngài giữ chức vụ Tổng Thư Ký Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Thập niên 1970-1980: Vì không chịu để cho nhà nước cộng sản giám sát Giáo Hội, Ngài đã soạn thảo, tập hợp nhiều tài liệu gởi đến chính quyền mới để tố cáo nhiều hình thức bạo hành và đàn áp Giáo Hội nên Ngài cùng với Hòa Thượng Huyền Quang và 5 vị giáo phẩm cao/trung cấp khác ở Viện Hóa Đạo đã bị nhà chức trách Việt Nam bắt giam từ tháng 4/1977, đến tháng 12/1978 thì được “tha bổng” sau một phiên tòa tại Sài Gòn nhờ áp lực của chính giới và truyền thông Âu Châu sau chuyến đi Pháp đầu tiên của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Đến năm 1982, bản thân Ngài và mẫu thân của Ngài bị trục xuất khỏi Sài Gòn, cưỡng bách an trí tại nguyên quán là xã Vũ Đoài, huyện Vũ Thư, Thái Bình.

Mười năm sau Hòa Thượng tự ý bỏ nơi cưỡng bách cư trú, tìm vào Nam hoạt động công khai đòi tự do tôn giáo tại Việt Nam. Chính quyền đã ra lệnh trục xuất Ngài về Bắc nhưng Ngài không thi hành, vì Ngài cho rằng công dân Việt Nam có quyền cư trú ở bất cứ đâu trên đất nước theo hiến pháp quy định.

Tháng 8 năm 1995, để cấm đoán Giáo Hội chuyến đưa phẩm vật đem về miền Tây Nam Phần ủy lạo hàng chục nghìn nạn nhân bão lụt, công an Sài Gòn đã thực hiện lệnh bắt tạm giam Hòa Thượng, sau đó, tòa án Sài Gòn đã xét xử, tuyên phạt Hòa Thượng 5 năm tù giam và 5 năm quản chế về tội “phá hoại chính sách đoàn kết và lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước”. Các vị khác cùng bị án tù cùng vụ: Thầy Không Tánh, Thầy Nhật Ban, Thầy Trí Lực và 2 Cư sĩ Đồng Ngọc, Nhật Thường.

Năm 1998, dưới áp lực của chính phủ Hoa Kỳ, Hòa Thượng được trả tự do và bị yêu cầu phải đi tỵ nạn tại Mỹ nhưng Hòa Thượng từ chối và nói rằng Ngài phải ở lại trong nước với quần chúng Phật Tử. Tuy mang tiếng là được thả ra, nhưng thực chất Hòa Thượng vẫn bị quản thúc và cấm thuyết pháp. Có một đồn công an nằm trước Thanh Minh Thiền Viện giám sát gắt gao mọi người ra vào thiền viện.

Năm 2003, trong phiên Đại Hội Đặc Biệt của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tổ chức tại Tu viện Nguyên Thiều, Bình Định, Đại Hội cung thỉnh Ngài Huyền Quang vào tôn vị Tăng Thống, còn Hòa Thượng được cung cử vị trí Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Cùng năm 2003, Hòa Thượng Thích Quảng Độ được tổ chức People in Need, Cộng Hòa Czech, trao giải thưởng Homo Homini vì những hoạt động bảo vệ nhân quyền, tự do dân chủ và tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Năm 2006, Hòa Thượng được trao giải Thorolf Rafto vì đã “dũng cảm và kiên trì chống đối ôn hòa chế độ cộng sản Việt Nam”. Ngài là nhà lãnh đạo dũng mãnh không chùn bước trước thế quyền, dõng dạc đòi quyền tự do sinh hoạt của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất từ sau năm 1975 tới nay. Do vậy, Ngài cũng đã nhiều lần được đề cử giải Nobel Hòa Bình.

Năm 2008, sau khi Hòa Thượng Thích Huyền Quang viên tịch, theo Chúc Thư để lại thì Hòa Thượng Thích Quảng Độ được ủy thác thừa đương tôn vị Đức Tăng Thống thứ năm của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Trong khi chờ chính thức suy tôn, Ngài là Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống.

Tháng 11 năm 2011, trong Đại Hội kỳ IX của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tổ chức tại chùa Điều Ngự, Westminter, California, Hoa Kỳ, Hòa Thượng chính thức được suy tôn Đệ Ngũ Tăng Thống của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Sau 20 năm lưu trú tại Thanh Minh Thiền Viện, cuối năm 2018, Hòa Thượng đã rời thiền viện, tá túc tại một số ngôi chùa và ngày 5 tháng 10 năm 2018 lên tàu về quê ở Thái Bình. Đến ngày 18 tháng 11 năm 2018 thì Ngài trở lại Sài Gòn và đến ngụ tại chùa Từ Hiếu, quận 8 cho đến ngày viên tịch.

  • CÔNG TRÌNH PHIÊN DỊCH & BIÊN SOẠN:

Trong suốt cuộc đời tu tập và hành đạo của Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, dù phần lớn thời gian bị quản thúc trong chốn lao tù, và bận rộn quá nhiều Phật sự quan trọng của Giáo Hội, nhưng sự nghiệp trọng đại của Ngài vẫn là hoằng dương Chánh Pháp để cứu độ chúng sanh qua việc thuyết giảng, phiên dịch kinh luận và giáo nghĩa Phật học để truyền bá giáo lý thậm thâm vi diệu của Đức Thế Tôn. Một số tác phẩm và dịch phẩm của Hòa Thượng để lại cho đời gồm:

– Kinh Mục Liên (3 quyển).
– Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân (7 quyển).
– Truyện Cổ Phật Giáo.
– Thoát Vòng Tục Lụy (lịch sử tiểu thuyết, nguyên tác của Thích Tinh Vân).
– Dưới Mái Chùa Hoang (truyện).
– Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận (nguyên tác của Kimura Taiken).
– Tiểu Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận (nguyên tác của Kimura Taiken).
– Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận (nguyên tác của Kimura Taiken).
– Chiến Tranh Và Bất Bạo Động (nguyên tác của S.Radhakrishnan).
– Từ Điển Phật Học Hán Việt (Ngài được mời hiệu đính).
– Phật Quang Đại Từ Điển (9 tập).
– Thơ Trong Tù (1977-1978).
– Thơ Lưu Đày (1982-1992).
– V…v…

  • VIÊN TỊCH & TANG LỄ:

Sau vài ngày pháp thể khiếm an, Đại Lão Hòa Thượng đã thuận thế vô thường, an nhiên viên tịch tại phương trượng chùa Từ Hiếu, Sài Gòn vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 22 tháng 2 năm 2020, nhằm ngày 29 tháng Giêng năm Canh Tý, Phật lịch 2563, trụ thế 93 năm và 73 hạ lạp.

Theo thông báo của Hòa Thượng Thích Nguyên Lý, trụ trì chùa Từ Hiếu, gởi đi ngày 23 tháng 2 năm 2020, Di Huấn của Cố Đại Lão Hòa Thượng tăng Thống là tổ chức tang lễ đơn sơ, không để quá 3 ngày; Tăng Ni, Phật Tử đến lễ bái, thọ tang không phúng điếu, kể cả vòng hoa và trướng liễn; không có điếu văn, tiểu sử, cảm tưởng và các hình thức thông thường khác; sau khi hỏa táng thì rải tro cốt xuống biển.

Trải suốt cuộc đời gần một thế kỷ, từ khi xuất gia, hành đạo cho đến lúc viên tịch, Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã nỗ lực không ngừng trong công cuộc xiển dương đạo pháp. Cuộc đời Ngài là một tấm gương sáng ngời về đạo hạnh, và sự nghiệp hoằng hóa của Ngài xứng đáng cho Tăng Ni và Phật Tử noi theo. Đặc biệt, tinh thần vô úy của một vị Bồ-tát tại nhân gian. Mặc dù sắc thân của Ngài không còn nữa nhưng pháp thân và sự nghiệp hoằng hóa của Ngài sẽ mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho Tăng Ni – Phật Tử Việt Nam ở hiện tại và mai sau.

oOo

Nam Mô Việt Nam Phật Giáo Thống Nhất Giáo Hội, Nguyên Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, Đệ Ngũ Tăng Thống Húy Thượng Quảng Hạ Độ Đại Lão Hòa Thượng Giác Linh thùy từ chứng giám.

Nguồn gốc & xuất xứ tài liệu: Văn Phòng Thường Trực Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Tại Úc Đại Lợi – Tân Tây Lan.

Share.

Leave A Reply

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.