
ĐẠO PHẬT VÀ DÒNG SỬ VIỆT
Hòa Thượng Thích Đức Nhuận
Phật Học Viện Quốc Tế California Hoa Kỳ ấn hành năm 1998
(Trích đăng từ thế kỷ thứ nhất đến thời cận đại – TK. XX)
—o0o—
ĐỀ MỤC
- LỜI MỞ ĐẦU.
- ĐẠO PHẬT VIỆT THẾ KỶ THỨ NHẤT VÀ THỜI KỲ BẮC THUỘC.
- CÔNG CUỘC DỰNG NƯỚC ĐỜI TIỀN VÀ HẬU LÝ NAM ĐẾ.
- CUỘC CHỐNG QUÂN XÂM LĂNG NHÀ NAM HÁN CỦA NGÔ QUYỀN.
- ĐẠO PHẬT THỜI KỲ TỰ CHỦ NHÀ ĐINH (968-980) VÀ TIỀN LÊ.
- KHÓA HƯ LỤC – MỘT KIỆT TÁC PHẨM CỦA NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT THẾ KỶ XIII.
- ĐẠO PHẬT TỪ THẾ KỶ XVII ĐẾN HẬU BÁN THẾ KỶ XX

“Lịch sử là ghi chép những hình ảnh, sự kiện và tư tưởng của từng thời đại; đón tìm một tía sáng bất diệt cho tương lai. Mỗi trang sử là một bài thơ hùng tráng, lẫm liệt, đôi khi lại là thất bại khổ đau. có sức mạnh làm rung động tim óc con người không ít.” (TG).
LỜI MỞ ĐẦU
Đây là tập sơ thảo về ĐẠO PHẬT VÀ DÒNG SỬ VIỆT được viết ra để giảng cho sinh viên “Chứng chỉ năm thứ nhất” của Phân Khoa Phật Học và Triết Học Đông Phương, Viện Đại Học Vạn Hạnh, niên khóa 1969 – 1970.
Mục đích của môn học là nhằm giúp cho sinh viên hiểu biết về nguồn gốc Đạo Phật Việt Nam, từ sơ khai đến hiện đại.
Ngay từ buổi bình minh tự chủ của dân tộc, Đạo Phật đã có những mối duyên liên hệ thắm thiết đến sự tồn vong của dòng sinh mệnh Việt nam: Dân tộc Việt nam, về nhân chủng, có nguồn gốc Mélanesien và Indonesien cùng với các nước Đông Nam Á láng giềng trực tiếp thụ nhận tinh hoa Đạo Phật vốn có chung một truyền thống sinh hoạt văn hóa “nông nghiệp thảo mộc”. – Một nền VĂN HOÁ NHÂN BẢN, bao dung, trí tuệ và khai phóng, đượm sắc thái hiếu sinh, hiếu hòa, và giải thoát.
Và, như chúng ta đã biết, khi hệ giáo lý Giác ngộ, Giải thoát và Tự chủ của Đạo Phật được truyền vào Việt Nam thì người Việt đã rất nồng nhiệt hân hoan đón nhận một cách chân tình, coi đó như là Mạch Sống Của Dân Tộc hợp với lối sống tình cảm, tâm linh, đạo đức, suy tư và hành xử của người bản địa.
Do những nhân duyên hội ngộ ấy, Đạo Phật có mặt tại Việt Nam, với chiều sâu và bề dày lịch sử XX thế kỷ, đã cùng với dân tộc phấn đấu giành quyền cho một nước Việt Nam tự chủ, độc lập; đã gây dựng nên một nếp sống “dân phong quốc tục” đẹp làm vẻ vang cho nòi giống Việt. Xuyên qua những đóng góp to lớn trong công cuộc dựng nước và giữ nước của Đạo Phật Việt, kể từ các Vương triều: Tiền và Hậu Lý Nam Đế (542 – 603) mở đầu nền tự chủ cho nước nhà; đến nhà Đinh (968 – 980) và Tiền Lê (980 – 1009), Đạo Phật mặc nhiên được triều đình công nhận coi là quốc giáo của toàn dân; sang nhà Lý (1010 – 1225) và tiếp theo nhà Trần (1225 – 1400), Đạo Phật lại càng được phát triển mạnh trong đời sống xã hội. đồng thời mở mang trên khắp mặt sinh hoạt quốc gia, đem an vui hạnh phúc đến với toàn dân; từ bi thương yêu tràn ngập. thì đồng thời nền văn hóa Đại Việt cũng vươn lên tuyệt đỉnh vinh quang!
Với những sự thật lịch sử như đã trình bày, tôi mạo muội đặt tên cho tập tiểu luận: ĐẠO PHẬT VÀ DÒNG SỬ VIỆT, xin thân tặng toàn thể Phật giáo đồ, những người biết thương yêu tổ quốc Việt Nam và phụng sự chính pháp.
Mùa sen nở, Phật Đản 2527 – TL. 1984
Trí Tạng THÍCH ĐỨC NHUẬN
—o0o—
1. ĐẠO PHẬT VIỆT THẾ KỶ THỨ NHẤT
VÀ THỜI KỲ BẮC THUỘC
(111 tr.TL – 542 TL)
Do hoàn cảnh địa lý và lịch sử nên về tôn giáo, chính trị và văn hóa nước Việt Nam ta đã từ nhiều thế kỷ chịu ảnh hưởng xa gần của trung Hoa. Tuy nhiên, Đạo Phật và Dòng Sử Việt, buổi ban đầu, không do Trung Hoa mà lại từ Ấn Độ du nhập.
Căn cứ vào lịch sử nước nhà thì Đạo Phật truyền vào Việt Nam (khi đất nước ta còn gọi là Văn Lang – Giao Chỉ) do hai ngả đường bộ và thủy, giao liên giữa Ấn Độ và Trung Hoa, phải ngang qua Việt Nam.
Về Đường Bộ đi qua miền Trung Á (Mông Cổ, Tây Tạng, Trung Hoa) rồi từ Trung Hoa qua Cao Ly và Nhật Bản.
Về Đường Thủy thì qua ngả Sri-lanka, Java thuộc Indonésia và Trung Hoa.
Nước ta ở vào giữa hai con đường ấy, và do sự ghé lại của những thương nhân và tăng sĩ Ấn Độ đã mang hạt giống Bồ Đề – Đạo Phật – trồng trên đất Giao Chỉ[1] ngay từ đầu kỷ nguyên Tây lịch. Rất có thể là trước kỷ nguyên Tây lịch người Việt đã có biết đến Đạo Phật rồi.
Sau năm 111 trước Tây lịch, khi nước Việt đã do người Hán đô hộ, thì sự có mặt của Đạo Phật -Tôn giáo của Trí Tuệ và Tình Thương – là những “liều thuốc an thần” làm tươi mát những tâm hồn khô héo của người dân mất nước, nên Tổ tiên ta đã tôn thờ Đức Phật, biết thâu thái những tinh hoa của Đạo làm lẽ sống, để giữ lấy mình mãi còn là mình.
Khi người phương Bắc thôn tính nước Nam Việt, chúng liền sáp nhập nước ta vào lãnh thổ Trung Hoa, lập thành quận huyện với tên gọi lúc đầu là Giao Chỉ, sau đổi: Giao Châu, đặt dưới sự cai trị của các triều đại: Hán – Ngô – Tấn – Tống – Tề – Lương – Tùy – Đường (từ năm 111 tr. TL đến năm 939 TL) qua 3 thời kỳ, cộng 1.031 năm, nền văn hóa Văn Lang – Âu Lạc có cơ nguy bị Hán tộc đồng hóa.
Cũng trên một nghìn năm ấy, ông cha ta phải ẩn nhẫn, chịu đựng gian khổ, đã biết áp dụng giáo lý giác ngộ giải thoát vào tự chủ của Đạo Phật trong thực tế cuộc sống hằng ngày. và lấy đó làm phương châm “cứu nguy” cho đất nước, dân tộc ngày mai.
Vào thế kỷ thứ 3 trước TL, Thánh quân Asoka (268 – 232 tr TL), nước Magadha, vì muốn mở mang bờ cõi, vua đã đem quân đánh lấy xứ Kalinga, gây nên cuộc huyết chiến vô cùng thảm khốc mà, về sau này, chính vua đã công khai sám hối. Hồi xâm lược Kalinga vua Asoka chưa theo giáo pháp của Đức Phật. Nhưng sau khi quy y Tam Bảo rồi vua mới thực tình hối hận và trở nên thánh thiện. Sự kiện này được ghi rõ trong một tấm bia:
“Tất cả nỗi thống khổ về nạn binh đao đã làm cho trẫm phải nặng lòng lo ngại. Dù cho số người bị sát hại đọa đày trong việc xâm chiếm xứ Kalinga nhiều đến thế nào cũng không thể so sánh được với sự đau khổ của trẫm.
Đối với trẫm, sự thắng trận cao cả hơn hết là sự thắng trận của chính pháp.
Kim ngôn này được khắc vào mặt đá để cho ngày sau con cháu của trẫm sẽ không còn nghĩ đến những cuộc thắng trận khác nữa, và chúng nó phải làm cách nào để thắng nổi trận giặc lòng”.
Khi thánh quân Asoka cho khắc bia này thì xứ Kalinga đã bị tiêu diệt mất mười vạn và bị lưu đày mười lăm vạn quân, đấy là chưa kể số thường dân bị sát hại, chết oan, cửa nhà đổ nát, cháy rụi. Đấy là chỉ mới kể có một bên nước Kalinga, chứ chưa kể số quân bị chết, bị thương, bị bắt làm tù binh và thường dân bị chết oan về phía vua Asoka (Magadha).
Chúng ta được biết, thuở Phật Giáo được 218 năm, thánh quân Asoka hết lòng hoằng dương chính pháp và đã thực hiện ba việc lớn:
- Triệu tập Đại Hội Kết Tập Kinh Điển kỳ 3.
- Dựng tháp thờ Phật và xây tu viện.
- Thành lập phái đoàn Tăng sĩ hoằng pháp.
Sau 9 tháng Đại Hội Kết Tập Kinh Điển kỳ 3 tại thành Pàtaliputra, tức Bihar và Patna ngày nay, thánh tăng Moggaliputta Tissa lĩnh sứ mệnh vua Asoka trực tiếp điều động các đoàn truyền giáo đi vào các vùng: Kashmir, Gandhàra, Mahisamandala, Vanavàsa, Aparantaka, xứ Marathe, xứ Hy Lạp, vùng Himalaya, xứ Kim Thổ tức Myanmar, cửa ngõ mở ra toàn thể Ấn – Hoa, Indonesia và Sri Lanka. Thánh tăng Mahinda truyền pháp vào Sri Lanka, hai vị thánh tăng Sona và Uttara thì truyền vào Myanmanr[2].
Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, chương 1: Đạo Phật du nhập Việt Nam – thời điểm và các thuyến du nhập, tác giả Minh Chi viết: “Một phái đoàn do hai cao tăng Uttara và Sona được phái đến Suvannabhumi, xứ của vàng. Sử liệu Phật Giáo Miến Điện chép rằng hai cao tăng đó đã đến Miến Điện truyền giáo. Nhưng sử liệu Phật Giáo Thái Lan cũng ghi là hai cao tăng Sona và Uttara có đến Thái Lan truyền giáo. Liệu hai cao tăng đó có tiếp tục hành trình và đến Việt Nam hay không, đó là một nghi vấn mà các nhà sử học Trung Hoa và Việt Nam cho đến nay vẫn chưa làm sáng tỏ được. Có học giả dựa vào tài liệu Trung Hoa nói rằng, ở Giao Chỉ tại thành Nê Lê, có bảo tháp của vua Asoka. Và học giả đó xác định thành Nê Lê, mà sử liệu Trung Hoa nói tới, chính là Đồ Sơn ở nước ta hiện nay” (Sđd, trg 21 – 22), và Đạo Phật Việt Nam, đã đưa ra những luận chứng: “Khoảng 300 năm trước Tây lịch, nghĩa là: ngay sau khi Đại Hội Kết Tập Tam Tạng lần thứ III tại Pataliputra (Hoa Thị Thành), Ấn Độ, do vua Asoka thực hiện; và cũng sau đại hội này đức vua đã gửi chín giáo đoàn đi truyền bá chính pháp tại các nước, từ Afghanistan (A Phú Hãn) tới Đông bộ Mediterrenée (Địa Trung Hải), trong đó có một giáo đoàn do hai ngài Sona và Uttara lãnh đạo đã tới Miến Điện và toàn xứ Đông Dương kể cả Việt Nam. Nói cách khác, hồi đó, ở Giao Chỉ tại thành Nê Lê, tên cũ của vùng Đồ Sơn hiện nay, cách Hải Phòng 12 cây số, có bảo tháp vua A Dục (Asoka), do các Phật tử địa phương xây nên để tri ân vua A Dục (Asoka) đã cử giáo đoàn tới đây để truyền bá Phật pháp”.
Đồ Sơn gồm có mười ngọn núi (1 núi Mẹ; 9 núi Con). Núi mẹ cao chừng 168 mét so với mặt bể; trên đỉnh núi này, có một bảo tháp Dục Vương được dựng vào khoảng 300 năm trước Tây lịch; sau khi tháp này tàn phế, tiếp đến tháp Tường Long do vua Lý Thánh Tông xây trên nền tháp cũ vào khoảng giữa thế kỷ XI TL; hiện nay, ngôi chùa Tường Long mới được tu bổ lại.
Và tác giả Đạo Phật Việt Nam kể: ngày 1.1.1994, trong một chuyến tham quan, được Thượng tọa Thích Quảng Tùng, trụ trì chùa Dư Hàng, Hải Phòng hướng dẫn ra Đồ Sơn để chiêm bái Phật tích tại chỗ, và rất may mắn là được đọc tám bài thơ tả cảnh vùng này, gọi là “Đồ Sơn Bát Vịnh”, còn ghi lại ở cuốn gia phả của họ Hoàng bằng chữ Nho, trong số tám bài thơ thì có hai bài: Bài thứ năm có tên là “Tháp Sơn Hoài Cổ” nói về tháp Dục Vương (Asoka). Bài thứ ba, nhan đề: “Cốc Tự Tham Thiền”, và đã được dân địa phương dịch ra chữ Việt như sau:
Phiên âm:
Cổ tháp di hư loạn thảo đôi
Dục Vương khứ hậu ủy yên đồi!
Thiên chung bảo khí minh lưu thủy,
Cửu cấp phù đồ hóa kiếp hôi.
Tiều tử ỷ kha miên thạch đắng.
Mục nhi khu độc há sơn ôi.
Đăng cao dục hội sơn tăng giảng,
Hà xứ chung lâu khấu nhất hồi.
Dịch nghĩa:
Tháp xưa lau cỏ tốt bời bời,
Vua Dục[3] đi vua sau[4] cũng đổ rồi!
Chuông nặng ngàn cân kêu đáy nước,
Tháp cao chín bậc hóa thành vôi.
Chú tiểu dựng củi nằm đo đá,
Trẻ mục lùa trâu vội xuống đồi.
Lên núi muốn cùng Sư giảng kệ,
Chuông đâu mà đánh thử một hồi?
Ở dưới chân núi Mẫu Sơn, hiện có một ngôi chùa Hang – Cốc Sơn Tự – tác giả kể tiếp là đã được gặp một ông cụ coi chùa kể chuyện rằng: “Thuở xưa vào cuối đời vua Hùng Vương, ở đây có một vị sư tên là Sư Bần (Bần Tăng), người Ấn Độ, lập bàn thờ Phật và tu ở trong hang núi này và sau đó, cũng viên tịch tại hang núi này. Bởi vậy, dân địa phương gọi là chùa Hang, hay Cốc Tự. Biết rằng: khi còn bình sinh, Sư Bần có giảng Đạo Phật cho Chử Đồng Tử. Theo sách Lĩnh Nam Chích Quái, thì Chử Đồng Tử có ghé thuyền vào núi Quỳnh Viên và gặp một tăng sĩ tên là Phật Quang giảng đạo Phật cho nghe. Vậy, ngày xưa gọi là Quỳnh Viên Sơn và Sư Phật Quang; thì ngày nay là Mẫu Sơn và Sư Bần. Vả lại, từ tỉnh Hưng Yên, đầu sông Thái Bình có đền thờ Chử Đồng Tử, chảy suốt ra cửa bể Đồ Sơn, cách đấy chừng năm cây số, hiện nay lại có một đền thờ Chử Đồng Tử trên bờ sông Thái Bình, vì ở đây, Chử Đồng Tử có cứu sống được người con trai của một gia đình, cho nên, theo thuyền thuyết địa phương, người ta đã lập đền thờ để nhớ ơn Chử Đồng Tử”.
Qua những dữ kiện trên mà ta có thể biết rõ được lộ trình của Chử Đồng Tử, đi bằng thuyền buôn, dọc theo sông Thái Bình, từ Hưng Yên ra tới cửa bể Đồ Sơn, rồi ghé thuyền vào núi Mẫu Sơn (mà ngày xưa gọi là Quỳnh Viên Sơn) để lấy nước ngọt và gặp Sư Bần (Sư Phật Quang) ở chùa Hang Cốc hiện nay, ngay ở sát chân núi, liền với bờ biển. Dưới đây là bài thơ thứ ba trong tám bài “Đồ Sơn Bát Vịnh” để tả cảnh chùa Hang – Cốc Tự:
Phiên âm:
Thần san quỷ tạc bất tri niên?
Thử cốc an bài nhược tự nhiên.
Ốc tự phong đài giai tự thiết,
Nham như tường bích thạch như diên.
Dạ minh hiến quả liên đài hạ,
Phong tử hàm hoa bảo án tiền.
Đảo ưởng tiêu ca hòa điểu ngữ,
Chung thanh hoán tỉnh lại Tăng miên.
Dịch nghĩa xuôi:
Thần quỷ nào đây đã tạc ra (chùa) tự bao giờ?
Hang này xếp đặt rất tự nhiên.
Mái hang như rêu xanh, bậc như đá mài,
Nhũ đá tựa vách tường, thềm tựa chiếu dải.
Đêm trăng chim dâng quả dưới đài sen,
Đàn ong ngậm hoa trước bàn thờ.
Tiếng sóng, tiều ca, hoà chim hót,
Chuông ngân gọi tỉnh Sư lúc ngủ say[5].
Sách Lĩnh Nam Chích Quái của Vũ Quỳnh chép: Truyện Đầm Nhất Dạ: Tiên Dung Mỵ Nương và Chử Đồng Tử chứng minh sự có mặt của Đạo Phật vào đời Hùng Vương, TK thứ III (triều đại 18 vua Hùng, kể từ 2879 – 257 tr.TL Thục An Dương Vương). Ở đây chỉ xin nhắc lại chỗ cần thiết trong truyện: Hai vợ chồng Tiên Dung Mỵ Nương và Chử Đồng Tử. sau khi vua cha đuổi ra khỏi nước, bèn lập ra cái chợ để buôn bán. Ngôi chợ này vẫn thường có các thương nhân ngoại quốc lui tới. Người ngoại quốc ở đây chỉ có thể là người Ấn Độ đã vượt biên giới phía Bắc Ấn Độ sang vùng trù phú Myanmar (Miến Điện) rồi vào vùng Founan (Phù Nam). Trong truyện có nói rõ là hai vợ chồng gặp một đại thương gia dùng thuyền để đi buôn và nói với Tiên Dung: “Quý nhân xuất ra một thoi vàng, năm nay cùng với người nhà buôn ra ngoài biển mua vật quý, sang năm sẽ lời được một thoi”. Hai vợ chồng bàn với nhau rồi đồng ý. Người chồng đã cùng với đại thương gia đi buôn ở biển. Ngoài biển có hòn đảo tên là Quỳnh Viên (sách Đạo Giáo Nguyên Lưu ghi là Quỳnh Vi). Nơi đây có một am và có một vị tăng sĩ tên là Phật Quang. Người đại thương gia và Chử Đồng Tử đã ghé thuyền vào đảo để lấy nước ngọt. Dịp này Đồng Tử được vị tăng sĩ Phật Quang thuyết pháp cho nghe nên giác ngộ và được truyền pháp khí là chiếc gậy và cái nón lá và bảo rằng: “Những cái ấy làm chìa khóa cho mọi năng lực thần bí”; Đồng Tử có pháp khí thần thông nên bỏ nghề buôn, rồi đưa thoi vàng cho người đại thương gia đi buôn và dặn khi nào trở về ghé vào am để chở Đồng Tử cùng về với. Khi về gặp lại nhau, Đồng Tử đem Đạo Phật nói với Tiên Dung. Tiên Dung giác ngộ và hai vợ chồng cùng nhất trí đi tìm thầy học đạo. Sau hai vợ chồng đều đắc đạo. Truyện còn nữa, nhưng đến đây có thể tạm kết thúc.
(Chuyện Chử Đồng Tử và Tiên Dung):
“Bổ Di còn chuyện trích tiên
Có người họ Chử ở miền Khoái Châu
Ra vào nương náu Hà châu
Phong trần đã trải mấy thâu cùng người
Tiên Dung gặp buổi đi chơi.
Gió đưa Đằng các, buồm xuôi Nhị Hà
Chử Đồng ẩn trốn bình sa
Biết đâu gặp gỡ lại là túc duyên.
Thừa lương nàng mới dừng thuyền,
Vây màn tắm mát kề liền bên sông.
Người thục nữ, kẻ tiên đồng,
Tình cờ ai biết vợ chồng duyên ưa.
Giận con ra thói mây mưa,
Hùng Vương truyền lệnh thuyền đưa bắt về.
Non sông đã trót lời thề,
Hai người một phút hóa về bồng châu.
Đông An, Dạ Trạch đâu đâu.
Khói hương nghi ngút truyền sau muôn đời”.
(Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca, trang 22).
Theo Jataka (Ấn Độ) kể truyện tiền thân của Đức Phật và ta cũng thường gặp cảnh hoàng tử ra khơi tìm trân châu, lương dược để cứu độ chúng sinh. Như vậy, truyện kể trên chắc chắn là người Ấn Độ chứ không ai khác.
Vào buổi ấy (thế kỷ thứ ba tr.TL), một phong trào di dân rất rộng từ xứ Kalinga sang phía đông và xuống phía nam nhưng chỉ lẻ tẻ và nhiều đợt; phong trào trở nên rầm rộ vào khoảng đầu kỷ nguyên Tây lịch. (Có lẽ) Đạo Phật du nhập nước ta cũng vào thời điểm này.
Sự truyền bá Đạo Phật ở nước ta buổi sơ khai, tuy mới chỉ mở mang và khai đạo ở trị sở Luy Lâu nhưng cũng đã gây được sự chú ý của người dân bản địa, cũng như đã có xây chùa, dựng tháp.
Một sự trùng hợp lịch sử kỳ diệu là, trong sách Lý Hoặc Luận, Mâu Tử tự xác định “ông học và theo Đạo Phật ở Luy Lâu”. Bài tựa của sách Lý Hoặc Luận đã cho chúng ta những dữ kiện quý báu:
“Sau khi vua Hán Linh Đế băng hà, thiên hạ nhiễu loạn, chỉ có Giao Chỉ là yên ổn. Các bậc dị nhân phương Bắc đều tới đây, phần lớn đều tin theo thuật thần tiên tịch cốc trường sinh. Hồi ấy có nhiều học giả, Mâu Tử thường lấy Ngũ Kinh ra vấn nạn, các đạo gia và thuật sĩ không ai đối đáp cho xuôi được, cũng tỷ như Mạnh Kha cự lại Dương Chu, Mặc Địch…” (Nguyễn Lang, VNPGSL Tì-Ni-Đa-Lưu-Chi, trang 54).
(Cũng trong bài Tựa ấy): “bèn mài chí theo Đạo Phật, cùng nghiên cứu Lão Tử, lấy huyền diệu làm rượu ngon, lấy Ngũ Kinh làm đàn sáo. Người thế tục đa số không biết, cho rằng Mâu Tử đã phản lại Ngũ Kinh mà theo dị giáo. Thực ra, nếu mở miệng ra tranh luận với họ thì cũng là phi đạo, mà im lặng thì coi như bất lực, bèn dùng bút mực, lược dẫn lời thánh hiền mà chứng giải điều mình nghĩ. Do đó gọi là Mâu Tử Lý Hoặc Luận” (Sđd, trg 55, 56).
Nguyên bản văn chữ Hán mà Nguyễn Lang trích dịch trong sách Lý Hoặc Luận:
“Thị thời Linh Đế băng hậu, thiên hạ nhiễu loạn độc Giao Châu sai an, Bắc phương dị nhân hàm lai tại yên, đa vi thần tiên tịch cốc trường sinh chi thuật. Thời nhân đa hữu học giả, Mâu Tử thường dĩ Ngũ kinh nạn chi. Đạo gia, thuật sĩ mạc cảm đối yên, tỷ chi ư Mạnh Kha cự Dương Chu Mặc Địch”.
“Ư thị duệ chí ư Phật đạo, kiêm nghiên cứu Lão Tử. hàm huyền diệu vi tửu tương, ngoạn Ngũ kinh vi cầm hoàng. Thế tục chi đồ đa phi chi giả, dĩ vi bội Ngũ kinh nhi hướng dị đạo. Dục tranh tắc phi đạo, dục mặc tắc bất năng. Toại dĩ bút mặc chi gian lược dẫn Thánh Hiền chi ngôn chứng giải chi, danh viết Mâu Tử Lý Hoặc Luận vân”.
(Đại Tạng Kinh đệ ngũ thập nhị chi sách – Sử Truyện bộ IV).
Tác giả sách Nghiên Cứu Về Mâu Tử viết: “Nếu Phật giáo không truyền vào nước ta từ thời vua A Dục (thế kỷ thứ 3 tr.TL) để đến năm 43 khi hai Bà Trưng thất trận, một trong các nữ tướng của hai bà là Bát Nàn Phu Nhân đi xuất gia như truyền thuyết dân gian đã có, thì ít nhất vào năm 100 sau Tây lịch Phật giáo đã hiện diện với tư cách một bộ phận tín ngưỡng đầy quyền uy đến nỗi dân ta đã trồng một thứ hoa để cúng Phật gọi là uất kim hương. Sự hiện diện được xác lập này đưa tới một số hệ luận đáng quan tâm, không những đối với lịch sử Phật giáo Việt Nam, mà còn đối với tư tưởng và văn học Việt Nam, trong đó nổi bật nhất là việc ra đời tác phẩm văn học tư tưởng Phật giáo xưa nhất do Mâu Tử viết hiện biết của không những Việt Nam, mà cả Trung Hoa và Viễn Đông nữa, đó là Lý Hoặc Luận”.
Kể từ Trần Văn Giáp công bố quan điểm cho rằng Mâu Tử là một trong những người truyền giáo đầu tiên của Phật Giáo nước ta trong Le Boudhisme en Annam des origines jusqu’au XIII è Siècle (1932) “Ngược lại, chính bản Tự Truyện do tay ông (Mâu Tử) viết trong Lý Hoặc Luận đã xác định ông học và theo đạo Phật tại nước ta. Nói cách khác, ông là sản phẩm của Phật giáo Việt Nam, và tác phẩm Lý Hoặc Luận có thể nói là kết tinh đầu tiên của nền Phật giáo đó”.[6]
Trong Đạo Giáo Nguyên Lưu, gồm 3 quyển thượng, trung, và hạ của thiền sư An Thiền, viết bằng Hán Tự, thế kỷ XIX, trong đó tác giả ghi lại Đạo Phật ở Việt Nam, mở đầu với đoạn dẫn nhập tổng quát: Đại Nam Thiền Học Sơ Khởi (bước đầu Thiền học ở Đại Nam). Đoạn này gồm phần Hùng Vương Phạm Tăng (Các nhà sư Ấn Độ dưới đời Hùng Vương), tác giả kể ở đây Khâu Đà La (Ksudra), cư sĩ Tu Định và con gái là A Man; Đại Nam Phật Tháp (các tháp thờ Phật ở Đại Nam). Tiếp sau là các vị sư tổ truyền giáo trong các triều đại nước Đại Nam cho đến đời Thiệu Trị (1845); các truyện thần thoại liên quan đến Đạo Phật ở Trung Hoa và ở Đại Nam. Hai quyển còn lại đặc biệt nói về Nho giáo và Lão giáo.
Trong Kho Tàng Cổ Tích Việt Nam kể truyện Tấm Cám được Bụt hiện xuống cứu người lành: “Tấm, Cám là hai chị em cùng cha khác mẹ. Tấm là con bà vợ cả; còn Cám con bà vợ lẽ. Bố của chúng không may mất sớm. Sau đó mẹ Tấm cũng mất. Nó ở với Cám và dì ghẻ là mẹ của Cám. Bà dì ghẻ ác độc hành hạ Tấm đủ điều oan khuất. Tấm đã bao phen chìm nổi luân hồi, khi là hình thái trái thị, khi là hình thái chim vàng anh. Bụt thấy thương tâm hiện ra cứu độ cho Tấm bé bỏng hiền lành. Ở hiền gặp lành, sau Tấm hưởng phúc báo được hoàng tử cưới làm vợ”.
Hẳn ta chưa quên tích truyện Mai An Tiêm buôn bán với người ngoại quốc, truyện Cây Nêu và Tấm Áo Cà Sa, truyện Trầu Cau với sự luân hồi thác sinh thành cây, đá vv… Tất cả đều nói lên sự liên lạc văn hóa Ấn – Việt. Được biết: dưới thời Sĩ Nhiếp cai trị nước ta từ năm 187 đến năm 226, thì văn hóa Trung Hoa, hay nói khác là Nho giáo và Lão giáo, lúc ấy đã chính thức công khai truyền bá ở Giao Châu; hệ thống giáo lý của hai đạo này, không có các tích kể trên qua các truyền thuyết đời Hùng Vương. Với những mẫu truyện trên, ta thấy: người Việt đã tiếp nhận giáo lý Nhân Quả, Luân Hồi và Nghiệp Báo của Đạo Phật một cách hết sức tự nhiên, không do dự, như tiếp nhận sự phát minh của chính mình vậy.
Kể từ đời Hùng Vương mở nước, đóng đô ở đất Phong Châu, người Việt đã sớm ý thức: Chỉ có sự thuần nhất mới có thể tồn tại để phát triển và tiến hoá. Dù rằng buổi ban đầu sự sinh hoạt của xã hội Văn Lang hãy còn theo lề lối bộ lạc, nhưng sự thuần nhất trong ý chí đoàn kết đã được thể hiện một cách trọn vẹn để vượt thắng các trở ngại và duy trì cho sự tồn tục của giống nòi.
Thật vậy, vì ý thức Tự Chủ của dân tộc Việt trải qua hơn một ngàn năm bị người Hán thống trị đất nước, từng làm đau khổ giống nòi ta, nên người Việt đã sớm thức tỉnh, nhận rõ dã tâm thôn tính của họ nên đã cương quyết tử thủ, ôm chặt lấy những gì thuộc truyền thống của Tổ tiên để bảo trì nếp sống, phong hóa, ngôn ngữ sáng, bén, lối y phục, cách ăn ở, xử thế; tâm hồn thì bao dung rộng mở. Điển hình như việc sử dụng chữ Nho mà người Việt đọc khác người Hoa, và đã sáng chế ra một thứ chữ riêng, thứ chữ Nôm. Chữ Nôm là một lối chữ mượn ở chữ Nho rồi ghép thêm một chữ làm thanh phù mà tạo thành, đọc theo tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt). Đó là óc sáng tạo đặc thù của người Việt đối kháng lại với mọi áp lực nguy hiểm của người phương Bắc chỉ muốn đồng hóa dân tộc ta.
Với lối sống đặc thù của người Việt khác với lối sống của người Hán. người Việt suy nghĩ, nói năng và hành động nhất nhất đều y cứ vào đại tiền đề: Lấy “Tổ ấm” làm căn bản chung, nên không bao giờ người Việt chấp nhận có sự tương tranh vì ý hệ hoặc mưu cầu danh lợi cho riêng cá nhân hay một tập thể nào rồi gây bè kết đảng hòng tiêu diệt lẫn nhau. Những ai đi ngược lại truyền thống ấy đều coi là nghịch lý, nhất định bị đồng bào chối bỏ, coi họ như những người dị chủng.
Chính quan niệm “Tổ ấm” được coi như linh hồn của Tổ quốc mà người Việt còn tồn tại đến ngày nay, không bị đồng hóa. Cá nhân làm việc để phục vụ Tổ ấm vì quan niệm Quốc gia là Đại tổ ấm. Người Việt biết trọng phép nước, nhưng không bao giờ chấp bất cứ nhân vật hay một tập thể nào coi đó là “khuôn vàng thước ngọc” lúc nào cũng đúng, cũng hay, cũng giải quyết được hết mọi vấn đề rắc rối qua mọi không – thời gian và mọi hoàn cảnh khác nhau. Vì vậy, hễ chỗ nào, nơi nào có người Việt – chúng tôi muốn nói những người Việt chân chính – sinh tụ thì chỗ ấy, nơi ấy, không có vấn đề nhân danh, hoặc nịnh trên nạt dưới, bất hiếu, bất trung, bất nhân, bất nghĩa. Dòng Bách Việt sống êm đềm, thương yêu nhau, không gây thù, trả oán, tranh giành xâu xé, chà đạp lẫn nhau nhằm đạt cho được cái danh, cái lợi hão huyền đến nỗi hãm hại nhau; nhưng đôi khi cần chống kẻ ngoại xâm để bảo toàn cương giới quốc gia thì dù phải hy sinh tính mệnh cũng không từ nan, một ý chí kiêu hùng của nòi giống Việt.
Với những tấm gương sáng mà muôn đời con cháu vua Hùng vẫn tự hào:
- Năm 542; vị khai quốc Lý Nam Đế (Lý Bí) đánh đuổi tên thái thú Tiêu Tư (nhà Lương) và bè lũ phải bỏ trị sở chạy về nước; lập nên nước Vạn Xuân, mở đầu nền Tự Chủ ở nước ta.
- Năm 938, Ngô Vương Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, giết thái tử Hoàng Thao tại trận, khiến Hán chủ đành nuốt hận thu quân về Tàu.
- Năm 1077, vị anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt đại thắng quân nhà Tống trên sông Như Nguyệt, khiến lão tướng Quách Quỳ phải phủ phục đầu hàng.
- Năm 1258, vua Trần Thái Tông và Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn chiến thắng quân Mông Cổ ở mặt trận Đông Bộ Đầu, giải phóng thủ đô Thăng Long.
- Năm 1285 vua Trần Nhân Tông và quốc công tiết chế thống lĩnh quân đội kháng chiến chống quân Nguyên – Trần Quốc Tuấn đã đánh tan giặc Mông Cổ, chém đầu Toa Đô ở Vạn Kiếp.
- Năm 1288, vua Trần Nhân Tông và thượng phụ Trần Quốc Tuấn đại phá quân Nguyên trên sông Bạch Đằng, bắt sống các tướng Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ. khiến tên tổng chỉ huy Thoát Hoan khiếp đảm phải vội vã rút quân về nước.
- Năm 1427, Bình Định Vương Lê Lợi và mưu sĩ Nguyễn Trải sau mười năm kháng chiến chống giặc Minh và đã toàn thắng, nối lại nền tự chủ của nước nhà.
- Năm 1789, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ chiến thắng quân Thanh ở trận Đống Đa (gần Hà Nội ngày nay) khiến cho bại tướng Tôn Sĩ Nghị phải “vứt bỏ tất cả sắc thư, ấn tín để lo thoát thân”, sau bảy ngày đêm mới đến được trại Nam Quan.
Vì danh dự của Tổ ấm mà người Việt không bao giờ hành động một cách cẩu thả. Và quan niệm hạnh phúc là do Tổ ấm để lại cho con cháu muôn đời về sau:
‘Người trồng cây bách người chơi
Ta trồng cây đức để đời mai sau”.
Do đó mà trong nhiều đời con cháu phải hương đăng thờ tự trân trọng giữ gìn cái “Chí lớn” của Tổ tiên:
“Cây xanh thì lá cũng xanh
Cha mẹ hiền lành để đức cho con”.
Vì quan niệm Tổ ấm mà người Việt lúc nào cũng tỉnh táo, bình tĩnh, và cương quyết trong mọi hành động trong ý niệm “âm phù dương trợ”, lúc nào cũng coi như có Ông bà, Tổ tiên theo dõi, chỉ dẫn, vì nghĩ rằng: “Sự tử như sự sinh” coi khi chết cũng như lúc còn sống, không khác.
Đạo đức cương yếu của người Việt chính là quan niệm “Phúc đức Tổ ấm” vậy.
Thuyết “Tam cương Ngũ thường” của Nho giáo chỉ chiếm một chỗ rất nhỏ trong diệu lý “Phúc đức Tổ ấm” mà thôi. Thật vậy, người Việt trước khi hành động bất cứ một việc gì, còn phải đắn đo xem có đụng chạm đến Tổ ấm và hại đến ai không đã. Quan niệm đạo đức này đã liên kết được toàn dân trong một sự thuần nhất, không cần phải “dân tứ tước ngũ”[7] gây bè kết đảng rồi khinh khi nhau, làm suy yếu tiềm năng quốc gia. Đấy là ta chưa nói đến hậu quả thảm khốc chạy theo hình thức chủ nghĩa, duy lạc hưởng thụ, kỳ thị đẳng cấp. thiếu hẳn căn bản để sống một cuộc sống cho ra sống, nghĩa là sống tốt đẹp hơn[8].
Nói tóm lại, các cá nhân đều coi mình như là một thành phần cộng đồng của Tổ ấm. Phúc đức xuất phát tự Tổ ấm rồi lại về Tổ ấm. Tổ ấm (nhỏ) là gia đình và (lớn) là quốc gia, đều được tôn trọng. Cảnh Thái bình, Hạnh phúc, Giải thoát là những mục tiêu thiết thực đã được người Việt xưa cũng như nay chấp nhận và thực hiện. Sự lao tâm khổ tứ của người Việt cốt để củng cố cho thân mệnh, tuệ mệnh của cá nhân cũng như của Tổ ấm, là nhằm đạt tới Giác ngộ Giải thoát, chứ không mang tâm ích kỷ để thôn tính, tiêu diệt nhau.
Bây giờ ta thử xét qua một vài đặc tính văn hóa Dân tộc và văn hóa Phật giáo, có thể nói: hai nền văn hóa tuy hai mà một – tự bản thân của nó đã có những nét hòa đồng mầu nhiệm một cách kỳ diệu:
– Về thực tại cuộc sống:
Người Việt rất tôn sùng thờ cúng Tổ tiên, mà Phật Giáo cũng triệt để kính trọng và còn đặt ra những nghi lễ thích hợp với nhu cầu dân tộc, như lễ “Nhập Liệm, Quy Lăng”, hay lễ Vu Lan Báo Hiếu v.v.. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân”.
- Dân tộc Việt Nam thường ưa chuộng “nâu, lam” thì hiện nay các tăng sĩ Phật Giáo đều giữ được sắc thái riêng biệt ấy hơn ai hết. Trong bài Trường Ca Mẹ Việt Nam, phần mở đầu, nhạc sĩ Phạm Duy đã viết:
Mẹ Việt Nam
không son không phấn
Mẹ Việt Nam
chân lấm tay bùn
Mẹ Việt Nam
không mang nhung lụa
Mẹ Việt Nam
mang tấm nâu sồng.
- Dân tộc ta giàu đức tính tiết kiệm, ít có ham muốn quá đáng, nên hay “hưởng thụ bình quân”, như đời Lê phân điền chẳng hạn. Thì trong Phật Giáo dạy thực hành “Bình đẳng, Thiểu dục, Vị tha”.
- Tinh thần “tự lực cánh sinh” của dân tộc ta thật phong phú, về ý hệ, người Việt tự hào đã có bốn ngàn năm Văn Hiến; và về võ công thì qua các đời: Ngô, Lý, Trần, Lê, Nguyễn ông cha ta đã từng chiến thắng oanh liệt các kẻ thù xâm lăng dưới các thời: Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh; và như lịch sử đã chứng minh: dân tộc Việt sống hiên ngang, kiêu hùng, bất khuất. Xét trong Đạo Phật có thuyết “Đại hùng, Đại lực”.
– Về phương tiện sáng tác:
Trong suốt dọc dài lịch sử (có thể nói) hầu hết những sáng tác phẩm văn học nghệ thuật do người Việt viết hoặc phóng tác, không nhiều thì ít, đều đã chịu ảnh hưởng của thuyết Nhân quả, Luân hồi, Nghiệp báo của Đạo Phật.
Thật vậy, người Việt Nam, từ lúc nằm nôi từng đã được các bà mẹ kể cho nghe những câu ca dao, tục ngữ:
“Ở hiền thì lại gặp lành,
Ở ác gặp dữ tan tành ra tro (hay tội dành vào thân)”.
“Sống đục sao bằng thác trong”.
“Ba vuông sánh với bảy tròn,
Đời cha nhân đức đời con sang giàu”.
“Làm việc phi pháp, sự ác đến ngay”.
v.v…
Cùng trong những mẩu chuyện mang một nội dung tương tự, như: Tấm Cám, Truyền Kỳ Mạn Lục, Quan Âm Thị Kính, Nhị Độ Mai, Phan Trần, Đoạn Trường Tân Thanh, v.v…
Chẳng hạn, truyện Tấm Cám, Bụt hiện ra để cứu giúp người lành; Truyền Kỳ Mạn Lục với lý nhân quả nghiệp báo được tác giả viện dẫn bàng bạc trong khắp các truyện – dĩ nhiên trong đó tác giả có đề cập luân lý Khồng Mạnh – nhằm giải thích những tình huống éo le, như người có hạnh mà nghèo, kẻ bất nhân lại khá bằng lối sống “đầu thai chuyển kiếp”, như truyện Nghiệp Oán Của Đào Thị, truyện Gã Trà Đồng Giáng Sinh.
Ta hãy nghe Nguyễn Dữ kể về câu chuyện Gã Trà Đồng:
“Có hạnh mà nghèo, hoặc bởi tội khiên kiếp trước; bất nhân mà khá, hẳn là phúc thiện đời xưa. Tuy rằng khó biết sâu xa, nhưng thực không sai tơ tóc. Cho nên không nên lập luận một bề và xem trời một mặt” (xem Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ, bản dịch Trúc Khê).
Dưới đây là những câu trích trong các truyện Quan âm Thị Kính, Nhị Độ Mai, Phan Trần, Đoạn Trường Tân Thanh:
“Đoái trông thế sự nực cười
Như đem trò rối mà chơi khác gì”.
(QATK, câu 335 – 336).
“Cho nên mến cửa Từ Bi
Dám xin nhờ đức Tăng Ni mở lòng”.
(QATK, câu 343 – 344).
Truyện Nhị Độ Mai:
“Trời nào phụ kẻ trung trinh
Dầu vương nạn ấy, ắt dành phúc kia
Danh thơm muôn kiếp còn ghi
Để gương trong sạch, tạc bia dưới đời”.
(NĐM, câu 7 – 10).
Truyện Phan Trần:
“Xa xa phảng phất hành lang
Đức Quan Âm đã giáng sinh bao giờ”.
(PT, câu 391 – 392).
“Sư còn lân mẫn chúng sinh
Xin thương đến tấm lòng thành mấy nao’.
(PT, câu 401 – 402).
Đoạn Trường Tân Thanh hay Truyện Kiều với những triết lý về nghiệp báo:
“Kiếp này nợ trả chưa xong
Làm chi thêm một nợ chồng kiếp sau”.
(ĐTTT, câu 1019 – 1020).
“Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia với bằng ba chữ tài”.
(ĐTTT, câu 3249 -3252).
Những truyện ngụ ngôn có tính cách luân lý và nhân quả thường quấn quýt lấy nhau: Kéo Cày Trả Nợ, Âm Đức, Hai Vợ Chồng Con Chiền Chiện, Ông Sư, Chẽo Cờ và Vẹt, Phù Du và Đom Đóm, v.v…
Và còn biết bao nhiêu đặc tính khác của Phật Giáo rất phù hợp với Dân tộc tính, Dân tộc trí, đã làm nảy nở trong những nếp sống hằng hữu để vươn lên cuộc sống trong sáng, cao cả, toàn mỹ. Đó là những nét điển hình để chứng minh rằng văn hóa Phật Giáo và văn hóa Dân tộc có những mối duyên gặp gỡ rất đồng nhất, tế nhị. Có thể nói hai nền văn hóa tuy hai mà một.
Không chỉ riêng nước Việt Nam mà đối với bất cứ một nước nào khi Đạo Phật truyền tới cũng đều được các nhóm dân tộc hoan hỷ long trọng tiếp nhận, không nơi nào và chẳng lúc nào bị ruồng bỏ, bởi vì Đạo Phật là đạo Từ Bi, lấy tình thương làm động lực phát triển lòng Từ, lấy Trí Tuệ làm mục tiêu nhắm tới Giác Ngộ Giải Thoát Con Người.
Một triết lý cao đẹp như thế ở xã hội nào, thời gian hay hoàn cảnh nào mà không thích hợp, vĩnh viễn.
Được như vậy là vì Đạo Phật có một tôn chỉ rất rộng rãi: tôn trọng những đặc tính của mỗi dân tộc, mà chỉ cần khai thác phần Nhân Tính để hỗ tương, với mục đích dìu dắt con người đạt tới đích Chân Thiện Mỹ; và khi Đạo Phật đến dân tộc nào cũng vẫn kính trọng nếp sống cổ truyền, những phong tục sẵn có. Chỉ vì tinh thần giáo lý Giác Ngộ – Giải Thoát – Tự Chủ của Đạo Phật không bao giờ trái với sự việc nào, bất cứ ở đâu, hạng người nào, khi họ biết hướng đến chân lý.
Đạo Phật và Dòng Sử Việt vẫn mãi mãi sống đẹp và tươi sáng!
Nước Việt Nam dù trải trên mười thế kỷ chung đụng với văn hóa Trung Hoa nhưng khi nguồn văn hóa Giác ngộ Giải thoát và Tự chủ của Đạo Phật truyền vào Việt Nam thì người Việt đã hân hoan lấy đó làm ngọn đuốc thắp sáng cho cuộc cách mạng giải phóng giống nòi khỏi ách thống trị của người phương Bắc, giành lại quyền tự chủ, độc lập cho Tổ quốc mến yêu.
Vào thời đại Hai Bà Trưng, dòng dõi Hùng Vương, hồi đầu kỷ nguyên Tây lịch, (40 – 43)[9], dân số Giao Chỉ không nhiều, chỉ có 32.000 ngàn nóc nhà, nhưng về luật pháp của nước ta thời đó hơn luật pháp nhà Hán những mười (10) điều[10]. Do đó có thể khẳng định rằng: Cách đây 2.000 năm, Việt Nam đã có pháp luật thành văn rồi, không còn ở chế độ ‘tục lệ pháp’ nữa; toàn dân thuần nhất nên với 32 ngàn nhà thì dân số hữu dụng trai tráng rất ít, thế mà với một lệnh Khởi Nghĩa ban ra, toàn dân nhất tề đứng dậy, ắt phải có một nền văn minh đặc thù và một tình nghĩa máu mủ đùm bọc keo sơn, một sự cương quyết mãnh liệt và khôn khéo lắm mới dám đôí địch với quân thù nhà Hán.
Năm Quý Mão (203) tức là năm thứ ba đời Hán Hiến Đế, Sĩ Nhiếp dâng sớ xin đổi Giao Chỉ thành Giao Châu, thì Đạo Phật đã xuất hiện rồi và rất hưng thịnh, Giao Châu trực nhận Đạo Phật do các tăng sĩ Ấn Độ truyền vào từ trước kỷ nguyên Tây lịch chứ không phải là sau này.
Trong tờ chiếu của vua Hán Hiến Đế có đoạn đáng chú ý: “Đất Giao Châu là nơi văn hiến, sông núi phong phú, của báu, vật lạ, văn vật khá đẹp, nhân tài lỗi lạc. Thường năm thường có tai họa chiến tranh, lâu nay ít có quan đầu mục, thái thú xứng đáng có tài, cho nên đất hẻo lánh chưa được thấm nhuần giáo hóa. Nay đặc ủy cho khanh trọng nhiệm, nên tuân theo phong tục họ Triệu, họ Đô, lấy ơn nhân đức mà chăn dắt dân, không phụ cái tài lương đống triều đình. Trẫm đề cử khanh làm An viễn tướng quân, phong tước Long độ đình hầu” – dẫn sách Việt Điện U Linh, mục chuyện Sĩ Nhiếp.
Truyện Cao Tăng Trung Hoa có nhận định là lúc Phật Giáo ở Trung Hoa chưa được thịnh thì ở Luy Lâu, các tăng sĩ người Ấn Độ đã hiện diện ở đây truyền bá giáo lý Đức Phật rất náo nhiệt, như xây chùa, dựng tháp, mở trường và dịch kinh.
Để chứng minh cho sự kiện trên, ta hãy đọc một đoạn văn mà Thiền Uyển Tập Anh đã ghi tại cuộc đối thoại do quốc sư Thông Biện trả lời hoàng thái hậu Phù Thánh Cảm Linh Nhân Ỷ Lan – mẹ vua Lý Nhân Tông (1027 -1127) – nhân dịp bà hội tụ các bậc cao tăng trong nước về chùa Phổ Ninh, thiết trai nghi cúng dường và vấn đạo.
Hôm ấy là ngày rằm tháng hai, mùa xuân, niên hiệu Hội Phong thứ V (1096), hoàng thái hậu hỏi về ‘Nguồn gốc đạo Phật Việt’. Quốc sư Thông Biện đã trình bày những dữ kiện lịch sử Đạo Phật truyền vào Việt Nam ra sao (Sđd):
“Theo sự tích của đại sư Đàm Thiên, Chính Pháp luôn luôn được vua Cao Tổ nhà Tuỳ ngưỡng mộ, và phán rằng: ‘Ta nghĩ đến đạo từ bi của đức Phật mà không biết làm thế nào để báo đáp ân đức của Ngài. Ta đã lạm ở ngôi cao. Ta chỉ muốn đem tất cả tài sức của ta hộ trì Tam Bảo (Phật- Pháp- Tăng). Ta đã thu thập di hài của chư Tăng và đã kiến lập bốn mươi chín cây tháp thờ ở khắp nước để làm quy củ cho nhân gian, như là bến đò và chiếc cầu cần thiết cho khách qua sông. Ngoài một trăm năm mươi ngôi chùa, ta còn muốn xây thêm nhiều chùa nữa ở khắp xứ Giao Châu, vì ta muốn rằng hạnh phúc ngự trị khắp cả thê gian. Giao Châu tuy nội thuộc Trung Hoa, lại ở quá xa. Vậy phải chọn những sa môn đức hạnh và tài ba đến đó để giáo hóa chúng dân bằng pháp Bồ Đề (Bodhi)’“.
Đại sư Đàm Thiên[11] tâu:
“Xư Giao Châu có đường thông sang Thiên Trúc, khi Phật pháp truyền vào Trung Hoa chưa đến Giang Đông, mà tại Luy Lâu đã sáng lập trên hai mươi chế-da (Caitya: tháp thờ xá lợi), đã độ hơn năm trăm tăng sĩ và dịch được mười lăm bộ kinh. Do đó, người ta nói rằng giáo pháp truyền đến Giao Châu trước Giang Đông (Trung Hoa) vậy”.
“Theo đó, người ta thấy rằng đạo Phật ở Giang Châu không khác gì ở Trung Hoa. Bệ hạ có tấm lòng thương yêu khắp nhân gian, và muốn truyền bá giáo pháp ở khắp nơi một cách bình đẳng, thì những người truyền giáo không cần thiết, mà thần nghĩ rằng phải gửi những quan viên đến đó chăm sóc các chùa chiền nơi đó mà thôi”[12].
Sang thế kỷ thứ II Tây lịch (168 – 189), Đạo Phật và dòng sử Việt đã phát triển vững mạnh, náo nhiệt do bốn vị Phạm tăng:
- Ma Ha Kỳ Vực (Marajivaka).
- Khang Tăng Hội (K’ang seng Houei).
- Chi Cương Lương (Tchi kiang Liang).
- Mâu Bác (Mécu-Fo).
Ba vị trên là người Ấn Độ. Ngài Mâu Bác (cũng gọi là Mâu Tử) thuộc người Trung Hoa. Bốn nhân vật trên đều đã lưu trú tại Bắc Kỳ, các ngài đã cùng với người bản địa dựng chùa Pháp Vân và nhiều chùa khác để tu niệm và truyền bá Đạo Phật ở khắp nơi trong nước.
Năm 255 – 256 cũng có một vị tăng tên Kalyànarùci (Chi Cương Lương Tiếp) người Bắc Ấn Độ (Indoscythe) tới Giao Châu dịch kinh Pháp Hoa Tam Muội (Saddharmassamadhi suttra), có tỳ khưu Đạo Thanh, người Giao Châu phụ dịch. Đạo Phật Việt thuở ấy đã tạo được Niềm Tin của người dân bản địa và đã có ảnh hưởng tốt trong nếp sống nhân gian.
Vào thế kỷ thứ IV, hai vị thiền sư Đạt Ma Đề Bà (Dharmadeva) và Huệ Thắng cũng đã xuất hiện trên đất Giao Châu. Thiền sư Đạt Ma Đề Bà người Ấn Độ, tới Giao Châu truyền bá Thiền học tại đây. Thiền sư Huệ Thắng người Giao Chỉ, là một trong những đệ tử xuất sắc của Đạt Ma Đề Bà, đã chứng ngộ thiền tâm. Sau, thiền sư Huệ Thắng qua Trung Hoa hoằng pháp và tịch tại chùa U Thê ở Bành Thành.
Sách Phật Giáo Việt Nam, giáo sư Nguyễn Đăng Thục đưa ra nhận định về địa thế nước ta và ảnh hưởng của nguồn văn hóa tự chủ của Đạo Phật đối với dân tộc Việt Nam:
“Điều kiện địa lý thuận lợi của đất Giao Chỉ là có đường thông với Tây Trúc tức khu vực văn hóa Ấn mà đại diện bấy giờ ở phía nam Giao Chỉ là Chiêm Thành và Chân Lạp. Do đấy mà Phật Giáo trước khi ảnh hưởng vào Trung Hoa phải từng phát triển ở Giao Chỉ trước đã. Và điều kiện Lĩnh Nam đã mở cửa xuống Đông Nam Á để tiếp đón và giao dịch với lục địa Á Châu là hải đảo Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương để sớm trở nên đất ‘ngã ba ngã tư giao lưu của các chủng tộc và văn hóa’. Phật giáo là một tôn giáo mở cửa độc nhất trong các tôn giáo thế giới đã cống hiến cho dân tộc Việt Nam đất Giao Chỉ cái nhựa sống thiết yếu để hợp nhất các khuynh hướng tư tưởng tín ngưỡng giao lưu xung khắc thành cái ý thức hệ khai phóng của địa lý đòi hỏi. Cũng vì thế mà nhân dân tự động suy tôn người con Phật họ Lý là Lý Phật Tử lãnh đạo cuộc giải phóng và xây dựng một nước Việt Nam độc lập đầu tiên. Tuy triều Tiền Lý ngắn ngủi có nửa thế kỷ, nhưng cái ý thức hệ ‘Tam giáo’ do Thiền tông hợp sáng trên căn bản thực nghiệm tâm linh Phật giáo, đến thời Hậu Lý đã giải phóng hẳn Việt Nam, trở nên một nước Đại Việt vững bền và cường thịnh tại khu vực Đông Nam Á” (Sđd).
Việt Nam là nơi hội tụ các tăng tài khắp bốn phương, nền tinh hoa Đạo Phật Việt luôn luôn đượm sắc thái đặc biệt, trong những thời gian hoàn cảnh đặc biệt. Đạo Phật đối với dân tộc Việt Nam được coi như thứ vũ khí tinh thần hiệu nghiệm để vừa đối kháng với nền văn hóa Trung Hoa, vừa thâu thái những tinh hoa của nền văn hóa đó rồi dung hòa cả hai nền văn hóa Ấn – Hoa hợp với tinh thần “Lối sống” của người Việt, hình thành một nền văn hóa Việt Nam sống động trong tâm tư mỗi người và trong cuộc sống dân tộc. Phật Giáo đã kích động tinh thần Tự Chủ của người Việt. Và, từ đó đưa đến đòi hỏi một nền tự chủ dân tộc. Khi một nền văn hóa dân tộc đã có cá tính khác biệt với nền văn hóa của đế quốc thì công việc đấu tranh giành độc lập chỉ còn là công việc thời gian mà thôi. Chính vì vậy mà trước kia, trong lịch sử Đạo Phật Việt, các vị thiền sư đã cùng với dân tộc Việt Nam phấn đấu cho một nền Tự Chủ vẻ vang của dân tộc.
oOo
2. CÔNG CUỘC DỰNG NƯỚC
ĐỜI TIỀN VÀ HẬU LÝ NAM ĐẾ
(TL. 542 – 603)
Dươi sự lãnh đạo của Lý Bôn (cũng gọi là Lý Bí), một cuộc khởi nghĩa chống ngoại xâm vào mùa xuân năm 542 được toàn dân hưởng ứng, tham gia, đứng chung trên một trận tuyến để đánh đuổi tên thái thú tàn bạo là Tiêu Tư và bè lũ về Tàu, rồi chiếm giữ lấy thành Long Biên. Đầu năm 543, triều đình nhà Lương tổ chức cuộc phản công nhưng bị nhà Lý dẹp tan.
Sau cuộc khởi nghĩa thành công, mùa xuân tháng giêng năm Giáp Tý (544), Lý Bôn tuyên cáo dựng nước, xưng là Nam Đế (vua nước Nam), đặt quốc hiệu Vạn Xuân, xây điện Vạn Thọ, tổ chức thành một triều đình của một quốc gia độc lập.
Nam Đế bỏ niên hiệu của nhà Lương, đặt niên hiệu mới là Thiên Đức (VNSL) hay Đại Đức (theo LSVN, tập 1), và dựng một ngôi chùa mới lấy tên là Khai Quốc (Mở Nuớc).
Sử thần triều Lê viết:
“Tiền Lý Nam Đế, tính rất thông minh, phía Bắc đánh đuổi Tiêu Tư, phía Nam dẹp yên Lâm ấp, lập quốc hiệu, chính ngôi tôn, dặt trăm quan, định miếu hiệu, có đại lược quy hoạch của Đế Vương”.
(Đại Việt Sử Ký Toàn Thư – Việt Giám Thông Khảo Tổng Luận, tập 1, trang 101).
Qua năm Ất Sửu (545), vua Lương sai Dương Phiêu làm thứ sử Giao Châu, và Trần Bá Tiên làm tư mã đem đại quân sang đánh Chu Diên. Trận thứ hai đánh ở Gia Ninh. Vua Nam Đế thấy thế địch mạnh đành rút quân lên đóng ở động Khuất Liêu (thuộc đất Hưng Hóa), gần một năm trời chuẩn bị quân cơ, Lý Nam Đế đem ba vạn quân đánh nhau với Trần Bá Tiên ở hồ Điển Triệt (Vĩnh Yên) lại bị thất bại, vua bèn giao quyền cho tả tướng quân Triệu Quang Phục cầm đầu một cánh quân lui về lập căn cứ ở Dạ Trạch (Hưng Yên). Còn anh ruột Lý Nam Đế là Lý Thiên Bảo cùng với Lý Phật Tử đem hai vạn quân vào Cửu Chân (Thanh Hoá), bị quân nhà Lương đuổi đánh phải chạy vào đất Lạo, đóng binh ở động Dạ Năng (biên giới Việt-Lào).
Cuộc kháng chiến kéo dài bốn năm thì Lý Nam Đế bị bệnh chết (4-546). Triệu Quang Phục khi hay tin Lý Nam Đế băng hà, ông tự xưng là Triệu Việt Vương. Nhân gặp lúc bên Tàu có loạn, vua nhà Lương phải triệu Trần Bá Tiên về chỉ để một tỳ tướng là Dương Sàn ở lại nước ta, Triệu Quang Phục đem quân giết chết Dương Sàn, chiếm lấy thành Long Biên.
Đến năm 555, Lý Thiên Bảo mất, Lý Phật Tử lên thay. Rồi năm 557, Lý Phật Tử cất quân đánh Triệu Việt Vương. Về sau, hai bên chia đôi đất nước, lấy bãi Quân Thần (thuộc làng Thượng Cát, huyện Từ Liêm, Hà Nội) làm ranh giới.
Năm 571, Lý Phật Tử lấy danh nghĩa là chính thống nhà Lý, đem quân đánh úp Triệu Quang Phục, thống nhất đất nước.
Nối nghiệp nhà Tiền Lý, cũng trong năm 571, Lý Phật Tử lên làm vua, đóng đô ở Phong Châu (thuộc huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên) mà lịch sử sau này gọi là Hậu Lý Nam Đế.
Lý Phật Tử làm vua 32 năm (571 – 603). Sách Việt Điện U Linh, tác giả Lý Tế Xuyên (đời Trần) viết:
“Nam Đế đã chiếm được nước của Triệu Việt Vương rồi, thiên đô qua xứ Lộc Loa và Vũ Ninh, phong cho anh là Xương Ngập làm thái bình hầu, giữ Long Biên, phong đại tướng quân là Lý Tấn Đỉnh làm an ninh vương giữ thành Ô Diên, ở ngôi ba mươi năm (30), khởi từ năm Tân Mão niên hiệu Đại Kiến thứ ba nhà Trần, đến năm Nhâm Tuất niên hiệu Nhân Thọ thứ hai vua Văn Đế nhà Tuỳ thì mất: con là Sư Lợi lên nối ngôi, được vài năm thì bị tướng nhà Tuỳ là Lưu Phương đánh chiếm mất nước.
“Sau khi Nam Đế đã băng hà, người trong nước chỗ nào cũng có lập đền thờ, có miếu ở tại cửa Tiểu Nha, phường An Khang rất linh dị. Niên hiệu Trùng Hưng năm đầu, sắc phong Anh Liệt Uy Hoàng Đế. Năm thứ bốn mươi, gia thêm hai chữ Nhân Hậu. Năm Hưng Long thứ hai mươi mốt, gia tặng bốn chữ Khâm Minh Thánh Vũ”.
(Bản dịch chữ Hán ra Việt văn của Lê Hữu Mục – Sđd, trang 55).
Lịch Sử Việt Nam, tập 1 ghi:
:Năm 589 nhà Tuỳ diệt nhà Trần, thống nhất Trung Quốc. Nhà Tuỳ âm mưu đặt lại ách đô hộ trên miền đất nước ta, Lý Phật Tử về danh nghĩa phải chịu thần phục nhà Tuỳ nhưng thực chất vẫn giữ quyền cai trị nước ta.
“Năm 602, nhà Tuỳ gọi Lý Phật Tử về kinh đô chầu hoàng đế. Về chầu có nghĩa là đầu hàng, mất nước. Lý Phật Tử đã chống lại lệnh đó. Phật Tử sai cháu là Lý Đại Quyền đem quân giữ thành Long Biên (Bắc Ninh), sai tướng Lý Phổ Đỉnh đem quân giữ thành Ô Diên (Từ Liêm, Hà Nội), còn tự mình tổ chức phòng ngự tại ‘thành cũ của Việt Vương’ (tức thành Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội).
“Đầu năm 603, nhà Tuỳ cử Lưu Phương đem quân theo đường Tây Bắc xuống xâm lược nước ta. Lý Phật Tử chặn đánh quân Tuỳ ở núi Đô Long, (vùng Tụ Long, xưa thuộc Tuyên Quang, nay thuộc Quảng Tây, Trung Quốc). Quân ta bị thua, giặc tiến vây thành Cổ Loa, bắt Lý Phật Tử đầu hàng và bắt giải về Tuỳ. Nhiều tướng lĩnh của Lý Phật Tử tiếp tục cùng nhân dân đánh giặc nhưng sau cùng bị tàn sát. Đất nước ta rơi vào ách thống trị của nhà Tuỳ”. (Sđđ trang 116).
Chỉ cách sau ba năm, tức năm 571, Lý Phật Tử lên ngôi vua, năm 574 ngài Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi (Vinitaruci), người Nam Thiên Trúc (Ấn Độ) qua Trung Hoa cầu pháp với Đệ tam tổ Tăng Xán, và sau khi đắc pháp, được Tổ ấn ký và khuyên nên qua phương Nam truyền đạo. Năm 580, ngài từ Trung Hoa sang Việt Nam, trụ trì chùa Pháp Vân, thuộc làng Cổ Châu, Long Biên, dịch bộ kinh Tổng Trì và lập ra phái Thiền Tông thứ nhất ở nước ta. Đến năm 594 trước khi viên tịch, ngài truyền tâm ấn cho đệ tử là tôn giả Pháp Hiền, người Việt Nam đầu tiên được vinh dự lĩnh pháp ấn để kế truyền Chính Pháp.
Triều đại nhà Lý, vua Lý Thái Tông (1028 – 1054) vì cảm mến đức hóa của ngài, đã làm bài kệ truy tán:
Sáng tự lai Nam quốc
Văn quân cửu tập Thiền
Ứng khai chư Phật tích
Viễn hợp nhất tâm nguyên
Hạo hạo lăng già nguyệt
Phân phân bát nhã liên
Hà thời hạnh tương kiến
Tương dữ thoại trùng huyền.
Mở lối qua Nam Việt
Nghe ngài hiểu đạo Thiền
Nguồn tâm thông một mạch
Cõi Phật rộng quanh miền
Lăng già ngời bóng nguyệt
Bát nhã nức mùi sen
Biết được bao giờ gặp
Cùng nhau kể đạo huyền.
Bản dịch: Thích Mật Thể.
Hệ phái Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi truyền được 19 đời (580-1216), gồm 28 vị Tổ kế thừa.
Vào khoảng cuối thế kỷ VI đầu thế kỷ VII, Việt Nam có thêm ba đoàn truyền giáo:
– Đoàn thứ nhất, ba vị: Minh Viễn, Tuệ Mệnh, Vô Hành.
– Đoàn thứ hai, ba vị: Đàm Nhuận, Trí Hoằng, Tăng Già Bạt Ma.
– Đoàn thứ ba, sáu vị: Vân Kỳ, Mộc Xoa Đề Bà (Moksadeva), Khuy Xung, Tuệ Diệm, Trí Hành, Đại Thặng Đăng.
Trong ba đoàn truyền giáo, hai đoàn là người Trung Hoa, trong đó duy có ngài Tăng Già Bạt Ma (Samygavarma) là người Trung Á. Đoàn thứ ba, đáng chú ý hơn, vì toàn người Việt Nam cả (bốn người ở Giao Châu – Hà Nội, Nam Định, và hai người ở Ái Châu – Thanh Hoá) Cả sáu ngài đã qua Trung Hoa, Ấn Độ, và đã cầu pháp, dịch kinh.
Sau thời đại Lý Phật Tử (Hậu Lý Nam Đế), nước ta bị nhà Tùy (602 – 617) đô hộ, rồi tiếp đến nhà Đường (617 – 907) cai trị, gồm 305 năm.
Trong thời thuộc Đường, năm Nhâm Tuất (722) nhà ái quốc Mai Thúc Loan, quê ở Hà Tĩnh, nổi lên giải phóng ách cai trị nhà Đường đang đè nặng trên thân phận người dân Giao Châu bị trị, đã chiêu tập ba mươi ngàn nghĩa quân chống cự với quân nhà Đường, chiếm giữ lấy đất Hoan Châu (tỉnh Nghệ an), xây thành đắp lũy chung quanh núi sông Lam dài đến hàng dặm, tự xưng hoàng đế, đóng đô ở Vạn An, tục gọi là Mai Hắc Đế (Vua Đen). Nhà Đường phải vận dụng đến mười vạn quân để chống cự với ba mươi ngàn quân. Cuộc kháng chiến đang hồi quyết liệt thì ông bị bệnh chết giữa lúc sự nghiệp quốc gia cần có người như ông.
Rồi nửa sau thế kỷ VIII (766 – 791), có vị anh hùng tên là Phùng Hưng, quê ở Đường Lâm (tỉnh Sơn Tây) nổi dậy, đem quân về chiếm giữ phủ thành được mấy tháng, công việc đang dở dang, không may cho vận nước: Ông mất! Quân sĩ lập con là Phùng An lên nối nghiệp. Dân ái mộ Phùng Hưng tôn vinh là Bố Cái Đại Vương – bậc cha mẹ của dân.
Tháng bảy năm Tân Tỵ (791), vua Đường sai Triệu Xương sang làm đô hộ sứ, Phùng An thấy thế chống không nổi xin hàng.
Đến năm 907 TL, thì nhà Đường đổ, nước Trung Hoa rất rối loạn, anh hùng hào kiệt nổi loạn khắp nơi. Ngai vàng là mục tiêu chính mà con cháu các dòng vua chúa thuở trước có cớ dấy binh. Các cuộc huyết chiến xảy ra liên miên. Hẳn ta chưa quên thời Đông Hán tan rã, Trung Hoa liền xảy ra cảnh sứ quân cát cứ tương tranh giữa ba nhà Ngụy – Thục – Ngô (220 – 280). Nay nhà Đường bị chấm dứt thì cảnh loạn lạc tranh ngôi cửu ngũ lại xảy ra. Thời này, sử Trung Hoa gọi là Ngũ Quý, hay là Ngũ Đại, gồm có Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán và Hậu Chu. Trong năm nhà Hậu này, chẳng có “nhà Hậu” nào có thực lực cả, nên chỉ được một thời gian ngắn độ dăm năm là bị khai trừ. Toàn lãnh thổ Trung Hoa bị bão tố, loạn lạc và lụn bại. Lúc này đúng là lúc “trời không có mắt” nên lãnh thổ của “thiên triều” như vô cương trên nửa thế kỷ.
Trước bối cảnh đen tối ấy, các viên chức cai trị Trung Hoa nơi viễn xứ đang phân vân, bối rối, không biết dòng họ nào sẽ cầm chính quyền điều khiển quốc gia? Còn người Việt, sau bao nhiêu năm trời đằng đẳng buộc phải sống bên cạnh người Trung Hoa, đã nhận ra cái nhược điểm ấy của nước thống trị, nên cũng như bao lần trước, cuộc biến loạn tại chính quốc (Trung Hoa) là một dịp tốt cho người dân bị trị Giao Châu vùng đứng dậy giành lại quyền tự chủ của quốc gia mình. Khúc Thừa Dụ, quê ở Hải Dương “được nhân dân khâm phục, ông nhân danh là hào trưởng một xứ mà tự xưng là tiết độ sứ”.
Ngày 7 tháng 2 năm 906, vua Đường (bất đắc dĩ) phải chấp nhận cho Khúc Thừa Dụ giữ chức tiết độ sứ, một chức quan của nhà Đường, nhưng ông đã xây dựng một chính quyền tự trị của người bản địa. Năm 907, Khúc Thừa Dụ mất, con là khúc Hạo nối nghiệp cha giữ chức tiết độ sứ. Chỉ sau đó mấy tháng, ông đã cải cách lại tất cả cơ cấu hành chính quốc gia, thay đổi các viên chức Trung Hoa, định lại thuế khóa cho công bằng và hợp lý. Tiết độ sứ Khúc Hạo mất năm 917 TL. Con là Khúc Thừa Mỹ lên thay, vẫn tự xưng là tiết độ sứ.
Năm 923, nhà Hán xua quân sang đánh nước Việt, bắt được Khúc Thừa Mỹ nhưng sau thả ra cho phục chức như cũ. Năm 931, Dương Đình Nghệ (KĐVSTGCM viết là Dương Diên Nghệ), một tỳ tướng của tiết độ sứ Khúc Hạo, đã có công nổi dậy đuổi được bọn Lý Khắc Chính (LSVN, tập 1 ghi là Dương Khắc Trinh) của quân Nam Hán về nước sau 8 năm bị đô hộ. Rồi, sau 6 năm hưng quốc, Dương Đình Nghệ bị viên nha tướng của mình là Kiều Công Tiễn phản loạn giết và soán đoạt ngôi báu. Ngô Quyền, một tướng tài và là rể của Dương Đình Nghệ, sau khi nghe tin chúa mình bị giết chết, liền cử binh từ Ái Châu (Thanh Hoá) kéo ra đánh Kiều Công Tiễn, tên tay sai của Hán chủ, để báo thù cho chúa và trừ hậu họa.
Tuy không có tài liệu chính truyền xác định Đạo Phật truyền vào Việt Nam trước thế kỷ thứ nhất dương lịch, nhưng bằng phương pháp thuần lý, do sự quy nạp các tài liệu có tính cách phong tục học và xã hội học thuộc các triều đại xa xưa của nước ta, nhận thấy có nhiều bằng chứng (gián tiếp) cho phép ta tin tưởng rằng “Đạo Phật du nhập Việt Nam trước Trung Hoa, và đã hưng thịnh rất xán lạn rồi”.
Riêng có điều này là nên chú ý: Thời Tuỳ – Đường bên Trung Hoa, Phật Giáo rất thịnh (mà) duy chỉ có một ngài Huyền Trang sang Ấn Độ học đạo và thỉnh kinh; mà ở Việt Nam đã có (cả thảy) sáu vị thiền sư qua Ấn Độ tu học. Rất tiếc là các vị ấy đều đã tịch ở xứ người (sáu vị thiền sư Việt Nam đó là các ngài: Vân Kỳ, Mộc Xoa Đề Bà, Tuệ Diệm, Trí Hành, Khuy Xung và Đại Thặng Đăng). Ta cũng không quên được là lúc bấy giờ nhà Đường không thiếu gì các bậc tài đức, thế mà các thiền sư như: Phụng Đình và Duy Giám của nước Việt Nam đã đượcc vua nhà Đường thỉnh vào cung thuyết pháp cho vua nghe. Các nhà trí thức Trung Hoa (đời Đường) rất kính mộ các thiền sư Việt Nam và đã làm thơ tán dương các ngài. Trong Kiến Văn Tiểu Lục của Lê Quý Đôn có ghi laị những bài thơ ấy. Nguyên bản bài thơ chữ Nho của thi sĩ Dương Cự Nguyên viết để tặng thiền sư Phụng Đình:
“Cố hương Nam Việt ngoại
Vạn lý bạch vân phong
Kinh luân từ thiên khứ
Hương hoa nhập hải phùng
Lộ đào thanh phạm triệt
Thần các hóa thành tùng
Tâm đáo Trường An mạch
Giao Châu hậu dạ chung”.
Quê nhà trong cõi Việt
Mây bạc tít mù xa
Cửa trời vắng kinh kệ
Mặt biển nổi hương hoa
Sóng gợn cò in bóng
Thành xây hến mấy tòa
Trường An lòng quấn quít
Giao Châu chuông đêm tà.
Thích Mật Thể dịch.
Và dưới đây là bài thơ của thi hào Giả Đảo[13] viết để tiễn thiền sư Duy Giám:
“Giảng kinh luân điện lý
Hoa nhiễu ngự sàng phi
Nam hải kỷ hồi quá
Cựu sơn lâm lão quy
Xúc phong hương tổn ấn
Lộ vũ khánh sinh y
Không thủy ký như bỉ
Vãng lai tiêu tức hy”.
Giảng kinh nơi cung điện
Vườn ngự hoa xuân bay
Xa quê từ mấy độ
Núi cũ về từ nay
Mưa sa dầm áo bạc
Gió táp ấn hương phai[14]
Biển vắng như thế đó
Tin tức làm sao hay[15].
Nguyễn Lang dịch.
Cũng như Thẩm Thuyên Kỳ tự Vân Khanh, đổ tiến sĩ, làm quan đời Vũ Hậu, bị biếm xuống Hoan Châu, là một thi sĩ nổi tiếng đầu thế kỷ VIII, có lần đến yết kiến vị thiền sư trụ trì chùa Sơn Tĩnh, quận Cửu Chân, đã viết bài thơ truy tặng Vô Ngại Thượng Sĩ, tỏ ý tôn xưng ngài (Vô Ngại) là vị hóa Phật và tự nhận mình là đệ tử may mắn được diện kiến tham tu Chính Pháp:
“Đại sĩ sinh Thiên Trúc
Phân thân hóa Nhật Nam
Nhân trung xuất phiền naõ
Sơn hạ tức già lam
Tiểu giản hương vi sát
Nguy phong thạch tác am
Hầu thiền thanh cốc nhũ
Khuy giảng bạch viên tham
Đằng ái vân gian bích
Hoa thê thạch hạ đàm
Tuyền hành u cung hảo
Âm quải dục y kham
Đệ tử ai vô thức
Y vương tích vị đàm
Siêu nhiên hổ khê tịch
Chính thụ hạ hư lam”
Phật xưa sinh Thiên Trúc
Nay hoá thân Nhật Nam
Vòng não phiền ra khỏi
Dưới núi dựng già lam
Khe suối thơm là cảnh
Đá non cao là am
Chim xanh tập thiền định
Vượn trắng nghe giảng đàm
Vách đá dây mây cuốn
Mặt đầm hoa leo thang
Theo suối vào bóng mát
Giặt áo phơi rừng hương
Đệ tử hận mình dở
Phật pháp chưa am tường[16]
Qua khe Hổ nhìn lại[17]
Dưới cây sương khói lam.
Nguyễn Lang dịch.
Cách hơn 300 năm sau, khoảng thế kỷ thứ IX, Việt Nam lại xuất hiện một phái Thiền Tông nữa, do ngài Vô Ngôn Thông từ Trung Hoa truyền vào. Ngài đắc pháp với Sư tổ Đại Trí Bách Trượng Hoài Hải, và năm 820 thì qua Việt Nam, trụ trì chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, sau truyền pháp lại cho tôn giả Cảm Thành. Dòng thiền này truyền được 15 đời, gồm 40 vị Tổ kế thừa (mà) tôn giả Cảm Thành là Sơ tổ của Việt Nam, thuộc phái Thiền Tông thứ hai, dòng Vô Ngôn Thông.
oOo
3. CUỘC CHỐNG QUÂN XÂM LĂNG
NHÀ NAM HÁN CỦA NGÔ QUYỀN
(939 – 967)
Ngô Quyền[18] người ở Đường Lâm (cùng quê với Phùng Hưng), một dòng dõi quý tộc, cha là Mân làm quan Bản Châu, ông có chí lớn, mưu cao, tài kiêm văn võ, khi quân Nam Hán còn ngấp nghé bên ngoài bờ cõi, ông đã sửa soạn công cuộc ứng chiến, và việc trước hết là chiếm lấy thành Đại La, giết tên phản chủ bán nước Kiều Công Tiễn để trừ nội họa; ổn định tình hình trong nước.
Cuối năm 938, vua Nam Hán ra lệnh cho hàng trăm vạn quân, do thái tử Lưu Hoằng Thao chỉ huy, ồ ạt kéo sang xâm chiếm nước ta. Trận chiến oanh liệt diễn ra trên sông Bạch Đằng, Hoằng Thao bị chết, còn quân giặc phần bị giết, phần bị chết chìm hoặc bị bắt, thiệt hại quá nửa. Hán chủ đành phải nuốt hận thu tàn quân về Tàu, chấm dứt thời kỳ mất nước kéo dài 1031 năm (một nghìn không trăm ba mươi mốt năm).
Năm 939, Ngô Quyền xưng vương, thành lập một quốc gia độc lập, đóng đô ở Cổ Loa (tỉnh Phú Yên) ở ngôi mới được sáu năm thì mất. Đáng lẽ ngôi cửu ngũ phải về tay Ngô Xương Ngập, con trưởng Ngô Quyền, nhưng Dương Tam Kha (em vợ Ngô Quyền và là con trai Dương Đình Nghệ) lại đoạt mất và xưng vương. Năm 950, Ngô Xương Văn là em Ngô Xương Ngập nhờ có Dương Cát Lợi và Đỗ Cảnh Thạc giúp sức, liền từ Sơn Tây kéo quân về vây thành và bắt được Tam Kha, nhưng vì nể tình cậu cháu tha cho Tam Kha tội chết. Khi đã chiếm được chính quyền, Ngô Xương Văn tự xưng Nam Tấn Vương và cho người đi triệu anh là Ngô Xương Ngập, tức Thiên Sách Vương, về kinh để cùng coi việc nước. Nhưng tình hình lúc ấy rối loạn, cuối đời nhà Ngô, anh em Ngô Xương Văn và con cháu bất lực nên mới có cảnh Thập Nhị Sứ Quân[19].
Mỗi sứ quân chiếm giữ một vùng đất, xây thành đắp lũy nhằm thôn tính lẩn nhau. Loạn 12 sứ quân kéo dài hai mươi hai năm (945-767), gây ra không biết bao là tổn thất về nhân mạng và tài sản; dân tình phải chịu cực khổ lầm than. Sự sống còn của một dân tộc không thể để tình trạng ấy kéo dài thêm nữa; hoàn cảnh và lịch sử đòi hỏi phải chấm dứt cuộc nội loạn, thống nhất đất nước về một mối.
(Đạo Phật Việt Nam từ thời Bắc thuộc thứ II qua thời Lý Nam Đế và suốt thời Bắc thuộc thứ III tuy có phát triển nhưng chưa được hưng thịnh như các triều đại Đinh – Lê – Lý – Trần sau này).
oOo
4, ĐẠO PHẬT THỜI KỲ TỰ CHỦ
NHÀ ĐINH (968-980) VÀ TIỀN LÊ
(981 – 1009)
Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh sau khi đã dẹp xong loạn Thập nhị sứ quân. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, tức là Đinh Tiên Hoàng, lập nên nhà Đinh, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư, lấy niên hiệu là Thái Bình nguyên niên nhằm xóa hẳn vết tích thống trị của hoàng đế phong kiến Trung Hoa, nêu cao ngọn cờ thống nhất độc lập quốc gia, lập triều chính, vua liền nghĩ đến việc chỉnh đốn hàng ngũ Giáo Hội Tăng Già và định phẩm trật cho các tăng sĩ lỗi lạc hữu công tham dự quốc chính, nên đã tặng chức Khuông Việt Thái Sư cho ngài Tăng thống Ngô Chân Lưu, ban chức Tăng Lục Đạo Sĩ cho Pháp sư Trương Ma Ly, và Thiền sư Đặng Huyền Quang làm Sùng Chấn Uy Nghi.
Về sinh hoạt chính trị, văn học trong nước lúc bấy giờ đều do các bậc tăng già hữu học nhận lĩnh trông coi. Đạo Phật Việt được vương triều công nhận là quốc giáo kể từ nhà Đinh.
Lịch Sử Việt Nam, tập 1 viết về Phật Giáo thời nhà Đinh:
“Trong buổi đầu thời kỳ độc lập, Phật giáo là tôn giáo chiếm ưu thế trong xã hội. Trong nước nhiều chùa tháp được xây dựng. Riêng ở Hoa Lư, năm 973, Nam Việt Vương Đinh Liễn là con trai trưởng của Đinh Tiên Hoàng, cho dựng 100 cột đá khắc kinh Phật (gọi là kinh tràng). Các nhà sư là tầng lớp có học thức, có uy tín và ảnh hưởng trong xã hội. Ngoài văn học dân gian, lực lượng sáng tác văn học lúc đó chủ yếu cũng là các nhà sư. Những tác phẩm văn học thành văn của giai đoạn này còn lại đến nay là một số bài thơ chữ Hán của các nhà sư như Đỗ Thuận, Ngô Chân Lưu, Vạn Hạnh, v.v…” (Sđd, trang 150).
Sau nhà Đinh[20] là nhà Tiền Lê, các tăng sĩ vẫn được trọng dụng. Vua Lê Đại Hành đã triệu thỉnh Khuông Việt Thái Sư làm cố vấn và thiền sư Pháp Thuận lo việc ngoại giao; đồng thời triều đình cũng cho thiết lập các tự viện, và năm 1008 vua sai sứ là các ông Minh Xưởng, Hoàng Thành Nhã qua Trung Hoa thỉnh Đại tạng kinh. Đây là lần đầu tiên nước ta sai sứ đi thỉnh kinh.
Năm Thiên Phúc thứ VII (986), sứ nhà Tống là Lý Giác sang nước ta[21] vua nhờ ngài Khuông Việt Thái Sư giữ việc ngoại giao để ứng tiếp với sứ giả. Còn thiền sư Pháp Thuận cải trang làm chú lái đò cho sứ giả. Tình cờ có đôi ngỗng bơi trên mặt nước, Lý Giác vốn có tài văn thơ, liền tức cảnh:
Nga nga lưỡng nga nga
Ngưỡng diện hướng thiên nha.
Song song ngỗng một đôi
Ngửa mặt ngó ven trời.
Chú lái đó – tức thiền sư Pháp Thuận – đã ứng đối:
Bạch mao phô lục thủy
Hồng trạo bãi thanh ba.
Lông trắng phơi giòng biếc
Sóng xanh chân hồng bơi.
Bản dịch của Thích Mật Thể.
Sứ giả nghe xong lấy làm ngạc nhiên và kính phục, không ngờ nước Việt lại có lắm nhân tài. Qua những lần tiếp đãi lịch sự của một thiền sư (Khuông Việt Thái Sư đại diện cho triều đình) đối với sứ giả một nước lớn là Trung Hoa, Lý Giác càng lúc càng tỏ ra kính trọng vua nước ta, nên ông đã viết tặng bài thơ:
Hạnh ngộ minh thời tân thịnh du
Nhất thân lưỡng độ xứ Giao Châu
Đông đô tái biệt tâm lưu luyến
Nam Việt thiên trùng vọng vị hưu
Mã đạp yên vân xuyên lãng thạch
Xa từ thanh chướng phiếm trường lưu
Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu
Khê đàm ba tịnh kiến thiềm thu.
Thiền sư Mật Thể đã dịch bài thơ ấy ra tiếng Việt:
May gặp minh quân giúp việc làm
Một mình hai lượt sứ miền Nam
Mấy phen qua lại lòng thêm nhớ
Muôn dặm non sông mắt chửa nhàm
Ngựa đạp mây bay qua suối đá
Xe vòng núi chạy tới giòng lam
Ngoài trời lại có trời soi sáng,
Vầng nguyệt trong in ngọn sóng đầm.
Câu thứ bảy của bài thơ tác giả có ý xưng tụng vua nước Việt cũng như vua của họ. Thật là thần tình, chỉ do khẩu khí thơ văn xướng họa mà đã làm chuyển đổi được vận mệnh của cả nước đang từ thế yếu sang hẳn một thế mạnh. Và, vì cảm mến đức hóa của người xưa, Lê Quý Đôn, nhà bác học thế kỷ XVIII, đã hết lời ca tụng hai vị thiền sư Ngô Chân Lưu, Đỗ Pháp Thuận:
“Câu thơ của thiền sư Pháp Thuận làm cho sứ giả nhà Tống phải kinh dị; điện từ của đại sư Ngô Chân Lưu đã nổi danh một thuở” (Sư Thuận thi ca, Tống sứ kinh dị, Chân Lưu từ điệu, Danh chấn nhất thời – Thiền Dật}.
Thiền sư Pháp Thuận được vua Lê tôn trọng như bậc quốc sư, vua thường hỏi ngài về những việc bình trị quốc gia và ngôi cửu ngũ dài vắn ra sao. Thiền sư trả lời bằng một bài thơ:
Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đao binh.
Vận nước như dây quấn
Trời Nam mở thái bình
Niết bàn trong điện ngọc
Đây đó hết đao binh.
Các vị quốc sư, thiền sư đã đóng góp không nhỏ cho công trình dựng nước và giữ nước, các ngài đã khai hóa nền văn học quốc gia, đã giáo hóa toàn dân. Vốn sẵn có tinh thần yêu nước cao độ, nhân dân ta lại được thấm nhuần giáo lý Giác Ngộ Giải Thoát của Đạo Phật và đã lấy đó làm chất men cho cuộc nổi dậy, chống lại sự thống trị của người phương Bắc; giành lấy quyền độc lập tự chủ cho quốc gia kéo dài hơn 5 thế kỷ, kể từ thời nhà Đinh trở về sau (968 – 1504).
TÌM HIỂU THÊM
Từ trước năm 441 TL, cõi Giao Châu bị người phương Bắc đô hộ; trong giai đoạn gian nan này Đạo Phật đã cùng với người bản địa nỗ lực phấn đấu: bằng mọi cách quyết giành lấy quyền độc lập tự do cho quốc gia Việt; nên năm 542 ngươì anh hùng họ Lý (Lý Bí) quê ở Long Hưng (Thái Bình) đã cùng với toàn dân đứng lên làm cuộc khởi nghĩa: đánh đuổi tên thái thú bạo tàn nhà Lương là Tiêu Tư và bè lũ về Tàu, tự xưng là Lý Nam Đế (Vua Nước Nam), thiết lập một triều đình Tự Chủ ở phương Nam, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, có nghĩa là nước Việt bền vững dài lâu, đồng thời sáng lập một ngôi chùa lấy tên là Khai Quốc (Mở Nuớc). Sau Lý Phật Tử lên kế vị năm 571 – 603 (mà lịch sử gọi là Hậu Lý Nam Đế), ở ngôi 31 năm. Dưới triều đại Lý Phật Tử, Ngài Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi, người Nam Ấn Độ sang Tây Thiên Trúc để khảo cứu Đạo Phật, rồi qua cõi Đông Đô, vào Trung Hoa, đến Trường An năm 574; cách sáu năm sau (580) thì ngài qua đất Giao Châu, trụ trì chùa Pháp Vân (Bắc Ninh), để truyền bá Thiền học và dịch kinh “Tổng Trì”.
Năm 603, nhà Tuỳ cử Lưu Phương đem quân theo đường Tây Bắc xuống xâm lăng nước ta. Lý Phật Tử chặn đánh quân Tuỳ ở núi Ô Long (thuộc tỉnh Tuyên Quang), nhưng quân Tuỳ quá mạnh; quân ta chống không lại. Giặc tiến vây thành Cổ Loa, bắt Lý Phật Tử đưa về Tàu, rồi bặt vô âm tín, không biết sau đó sống chết ra sao?(1) Nước ta từ đó, lại một lần nữa bị nội thuộc hết nhà Tuỳ đến nhà Đường (từ năm 603 đến năm 906) cộng 304 năm.
Niên hiệu Khai Hoàng thứ XIV nhà Tuỳ (594), ngài Pháp Hiền họ Đỗ, quê ở Chu Diên (Sơn Tây), khi mới xuất gia, thụ giới với đại sư Quán Duyên ở chùa Pháp Vân. Đệ nhất Thiền tổ Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi khi mới thấy Pháp Hiền thì nhìn chăm chăm vào mặt mà hỏi:
– Chú họ gì?
Pháp Hiền đáp:
– Hoà thượng họ gì?
Thiền sư lại hỏi lại:
– Chú không có họ à?
– Sao lại không có? Nhưng đố Hòa thượng biết?
Thiền sư liền quát lên:
– Biết để làm gì?
Ngài Pháp Hiền chợt hiểu ý Đệ nhất thiền tổ Tỳ-Ly-Đa-Lưu-Chi, liền sụp xuống lạy xin theo làm đệ tử và sau được truyền tâm ấn.
(Đoạn văn đối thoại trên dẫn theo sách Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục. Microfilm Ecole francaise D’Extrême Orient A-2767. No/Aout 1954).
Trong giai đoạn này, các thiền sư là gạch nối giữa kẻ thống trị (Trung Hoa) và người bị trị (Việt Nam), mà không gặp bất cứ một trở ngại nào, cho nên: một mặt, đối với kẻ thống trị thì khuyến cáo họ thực hiện hạnh từ bi, biết tôn trọng nhân phẩm con người mà đừng gây khổ đau cho nhau; mặt khác, đối với đồng bào đồng chủng đương bị áp bức bởi nỗi khổ của người dân mất nước, thì truyền đạt tư tưởng “Giác ngộ, Giải thoát và Tự chủ” để kích động lòng yêu nước, tạo chất men cho công cuộc giành quyền tự chủ dưới các triều đại: Ngô Vương (939 – 944); Đinh Tiên Hoàng (968 – 980); nhà Tiền Lê (980 – 1009).
Sự trao đổi văn hóa Phật Giáo và các kiến thức tổng quát giữa hai nước Việt – Hoa mỗi ngày một trở nên thắm thiết tốt đẹp: Vào thời đại Tuỳ – Đường, các thiền sư đất Giao Châu sang thuyết pháp trong cung vua là chuyện thường tình, rồi sau ở lại bên đó. Ngược lại, cũng có các vị thiền sư và trí thức Trung Hoa qua Giao Châu hoằng đạo. Các thiền sư Ấn Độ qua lại giữa hai nước Việt – Hoa cũng thường ghé lại Giao Châu. Đạo Phật tại Giao Châu buổi ấy, nhiều lúc long thịnh hơn hẳn Trung Hoa. Các vua Văn Đế (nhà Tuỳ), Cao Tổ (nhà Đường) đều hướng về Đạo Phật Việt, cúng dường những hòm (rương) lễ vật và xá lợi; đồng thời còn truyền lệnh cho các quan lại phải phụng mệnh thánh chỉ tạo dựng lại chùa, tháp ở Giao Châu. Tuy nhiên, về phương diện giáo pháp chính truyền thì Đạo Phật Việt lại trực tiếp thụ nhận tinh hoa giáo lý do chính các nhà sư Ấn Độ truyền vào. Các thiền sư Giao Châu vừa thông hiểu Phạm văn và cả Hán văn nên đã giúp các sư Ấn Độ những phương tiện cần thiết để tới Trung Hoa giảng đạo hoặc ngược lại, đón nhận các thiền sư Ấn Độ từ Trung Hoa vào Giao Châu.
Hiểu đặc tính văn hóa phương Bắc không ai khác hơn là các thiền sư đất Giao Châu. Ngay chính bên Trung Hoa, hay nơi nước Việt cũng vậy, các thầy đi hoằng hóa giữa hai nước, thường đem tư tưởng “Tự Chủ” của Đạo Phật phổ biến trong quần chúng nhắm chống lại tư tưởng nô dịch của người phương Bắc muốn đồng hóa các dân tộc nhỏ bé. Hay nói rõ hơn là, các sư Việt Nam đã chịu ảnh hưởng trực tiếp nguồn văn hóa Phật Giáo Ấn Độ khai hóa cho mình.
Luận cứ trên đây được chứng minh cụ thể bằng sự trỗi dậy của Lý Nam Đế năm 542, lập nên nhà Tiền Lý độc lập đầu tiên ở nước ta; kế Khúc Thừa Dụ (thuộc quý tộc) bằng cách tự xưng tiết độ sứ mà nhà Đường sau đó bất đắc dĩ phải thừa nhận; và cuộc khởi nghĩa năm 939 của Ngô Quyền, là những sợi dây nối kết giữa giới quý tộc (nhưng bất lực trước thời cuộc lúc ấy) với giới bình dân (chưa ý thức rõ vai trò của mình) mà điểm tựa chính yếu phải nhờ vào giới trung gian thứ ba là các thiền sư, vốn rất khôn khéo một cách tế nhị đã kết hợp nổi hai giới (quý tộc và bình dân) gần lại với nhau: tạo thành phong trào lớn mạnh mà năm 938, nhân dân ta, dưới sự chỉ đạo của Ngô Quyền, đã chiến thắng đạo quân hung hãn do thái tử Hoàng Thao chỉ huy bị chết trên sông Bạch Đằng, khiến cho vua tôi nhà Nam Hán khiếp sợ, không dám coi thường người Việt nữa. Kể từ đấy chấm dứt nạn đô hộ của người phương Bắc trên đất nước ta suốt một nghìn không trăm ba mươi mốt (1031) năm.
Có điều này thiết tưởng người Việt cũng cần tìm hiểu là: Vị Sơ tổ của Đạo Phật Việt Nam khác với vị Sơ tổ của Thiền Tông Việt Nam. (Có lẽ) Đạo Phật Việt không hẳn chịu ảnh hưởng của dòng thiền Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi chỉ mới hiện diện trên đất Giao Châu vào năm 580 – tức cuối triều đại Lý Phật Tử (Hậu Lý Nam Đế) đương trị vì nước ta – Khoảng 603 – 604 ở Giao Châu (buổi ấy) đã có quan thái thú là Lưu Phương, dâng sớ về nhà Tuỳ, tâu rằng:
“Cõi Giao Châu ngày nay dân chúng rất tôn sùng đạo Phật, lại có nhiều vị danh tăng giáo hóa nên bốn phương thảy đều quy y”.
Như vậy là chỉ có khoảng 23 hay 24 năm mà “bốn phương thảy đều quy y”. Hơn nữa, chỉ trong một thời gian ngắn sau này (618) nhà Tùy đổ, nhà Đường lên thay, thì ở Giao Châu đã có rất nhiều thiền sư biết chữ Phạm và cả chữ Nho, cả thảy có sáu ngài xuất dương du học tại Ấn Độ. Như vậy, có thể khẳng định rằng: Trước khi Đệ nhất thiền tổ Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi tới nước ta truyền bá Thiền học thì Đạo Phật Việt đang trên đà phát triển rực rỡ.
Và, trước cả ngài Mâu Bác, chắc chắn phải có các thiền sư khác đã có mặt tại Giao Châu. Ngài Mâu Bác là một trong bốn vị đến nước ta vào cuối thế kỷ II. Nhưng ngài Mâu Bác, khi đến Giao Châu với người mẹ, thì tại nơi đây đã có Đạo Phật cũng như nền tín ngưỡng dân gian đều đã xuất hiện trên đất Giao Châu.
Ngài Mâu Bác là người Trung Hoa, thông hiểu Lão giáo, Nho giáo của người Trung Hoa nên chưa chắc là ngài đã gây được sự hưng thịnh của Đạo Phật Việt. Thật rõ ràng nếu muốn tìm hiểu vị Sơ tổ của Phật Giáo Việt Nam thì điều rất hữu lý là phải tìm từ năm 111 tr.TL, hoặc từ năm 194 là năm Mâu Bác qua Giao Châu trở về trước. Mà vị Sơ tổ đó phải là người Ấn Độ, và là vị đã gây ý thức giác ngộ tinh thần tự chủ cho người Việt quật khởi để tự cường!
Đạo Phật Việt, ở thời kỳ này còn có Tông thiền Vô Ngôn Thông. Tông này rất chú trọng đến vấn đề hoằng hóa truyền thừa, ít khi có sự cẩu thả trong khi truyền pháp hoặc ấn chứng cho ai. Chính ngài Nam Nhạc, khi sắp tịch, có dạy: “Phi ngộ thượng căn thận vật khinh hứa”, nghĩa là không gặp các bậc thượng căn thì chớ có truyền bậy! Ngài Vô Ngôn Thông qua Việt Nam năm 820, cách rất xa ngài Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi (580). Do đó sự giáo hóa của ngài chắc sẽ chẳng gây được ảnh hưởng bao nhiêu trong một thời gian quá ngắn, hầu giúp tạo sự lấy lại độc lập cho quốc gia Việt dưới triều Ngô Quyền. Ở đây có thể tạm kết luận: Đạo Phật Việt trong thời kỳ đầu truyền bá Chính Pháp tại Văn Lang – Âu Lạc (rất có thể) từ đời Hùng Vương hoặc ít ra cũng từ trước kỷ nguyên Tây lịch.
Lịch Sử Việt Nam, tập 1 nhận định: dưới hai triều đại nội thuộc Tùy – Đường (từ năm 603 đến năm 906) Đạo Phật ở nước ta rất hưng thịnh.
“Dưới thời Tùy Đường, hai phái Thiền tông của Phật Giáo Trung Quốc được du nhập vào nước ta. Phái thứ nhất (do Tỳ-Ni-Đà-Lưu-Chi cầm đầu) truyền bá vào cuối thế kỷ VI, trung tâm là chùa Pháp Vân (Thuận Thành, Hà Bắc). Phái thứ hai (do Vô Ngôn Thông cầm đầu) truyền bá vào đầu thế kỷ IX, trung tâm là chùa Kiến Sơ (Phù Đổng, ngoài thành Hà Nội).
“Lúc này ở nước ta đã có nhiều chùa lớn (88 chùa ở Giao Châu), có chùa có số sư tới vài trăm; đã xuất hiện nhiều cao tăng người Việt. Chùa là một tổ chức trang viện, có nhiều ruộng đất và điền nô. Như vậy ở nước ta bấy giờ đã hình thành một lớp tăng lữ là tầng lớp trí thức trọng yếu. Nhiều vị sư đã vượt biển sang Thiên Trúc cầu đạo, thỉnh kinh và sang Trường An giảng kinh cho vua Đường” (Sđd, tr 127).
Theo sử gia Trần Văn Giáp khảo cứu trong các sách cho biết là “về đời Đường có ba đoàn truyền giáo ở nước ta. Đoàn thứ nhất có ba người Tàu; đoàn thứ hai cũng có ba người Tàu và một là người Trung Á; đoàn thứ ba: có sáu pháp sư An Nam mà bốn người ở Giao Châu (Hà Nội và nam Định) và hai người ở Ái Châu” (Thanh Hoá bây giờ). – Le Bouddhisme en Annam, trang 31 – Danh Sách Ba Đoàn Truyền Giáo, xem trang 55..
Chú thích: (1) Theo Maurice Durand nhận xét thì Lý Phật Tử có nghĩa là đồ đệ của Đức Phật, họ Lý, tên của vị anh hùng này chứng tỏ sức bành trướng của Phật Giáo thế kỷ thứ 6, thứ 7. Phật Tử ở ngôi mà năm 580 Vinitaruci (Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi) sang truyền bá Phật giáo – phần phụ chú sách Việt Điện U Linh, trang 157.
Việt Điện U Linh của Lý Tế Xuyên viết vào đời Trần (1329): “Lý Phật Tử mất năm 603 Tây lịch, ở ngôi 30 năm”.
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, theo bài tựa, sách này hoàn thành năm Kỷ Hợi, Hồng Đức thứ X (1479). Bản khắc in năm 1697 Ngô Sỹ Liên lại gán cho Lý Phật Tử “đầu hàng” nhà Tùy là cố xuyên tạc nhằm bôi nhọ Phật Giáo. Năm 603 con Lý Phật Tử là Sư Lợi đã nối nghiệp cha trị vì. Năm 603 do tướng Lưu Phương (nhà Tuỳ) điều động đại quân đánh chiếm lấy bằng được nước Vạn Xuân. Quân ta có chống mà quân giặc quá mạnh và Sư Lợi đã bị giặc bắt đưa về Tàu. Sau đó không biết sống chết ra sao; chứ không phải là “đầu hàng” như sử thần Ngô Sỹ Liên đã viết trong ĐVSKTT – ghi chú của người viết.
oOo
5. KHÓA HƯ LỤC – MỘT KIỆT TÁC PHẨM
CỦA NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT
THẾ KỶ XIII
Riêng đối với đạo Phật và dòng sử Việt, công nghiệp của Vua Trần Thái Tông thật là to lớn. Ngoài việc in kinh, xây chùa, tô tượng, đúc chuông; về diện văn hóa, Vua đã viết Khóa Hư Lục, một kiệt tác phẩm của nền văn học Phật giáo dân tộc, thế kỷ XIII. Sách gồm ba quyển Thượng, Trung, Hạ, viết theo thể văn biền ngẫu bằng Hán tự, một lối văn rất khó viết, ở người cầm bút phải có một trình độ học vấn uyên bác mới dám sử dụng tới. Về nội dung cuốn sách tác giả trình bày những tư tưởng triết lý đại thừa Phật giáo nhằm mục đích tự thức tỉnh và đồng thời có tính cách giáo dục quần chúng, nói lên niềm thao thức khổ đau cùng sự giác ngộ của một người có trách nhiệm với mình, với đời và với đồng bào, nhân loại.
Tác giả, sau bao năm đối diện với những dằn vặt khổ đau ray rứt của tự thân. Năm Vua lên hai mươi tuổi, Hoàng Hậu là Chiêu Thánh (Lý Chiêu Hoàng) mới mười chín tuổi, chỉ vì muộn có con, Trần Thủ Độ bắt ép Vua phải bỏ Chiêu Thánh để lấy người chị dâu đã có mang ba tháng là Thuận Thiên, vợ của anh mình, tức Trần Liễu. Có lẽ Trần Thủ Độ muốn Vua có con ngay để sau này nối nghiệp nhà Trần. Hiển nhiên là Vua đã kịch liệt phản đối việc làm trái lễ giáo này của Trần Thủ Độ. Nhưng uy quyền của ông ta quá lớn. Vua đành nhẫn nhục đau khổ, chịu đựng.
Người con trai hai mươi tuổi mới lớn lên, lòng mang nặng một nổi buồn u ẩn, Vua đã nhất quyết bỏ ngai vàng ra đi, tìm lên núi Yên Tử, và xin ở lại đó để tu học Phật pháp hầu tìm ra một lối thoát cho tâm tư uất nghẹn, khổ đau; mặt khác, đứng trước tình cảnh rối bời của đất nước lúc bấy giờ, tuy tâm tư Vua chưa nguôi nỗi đau buồn, do người chú họ Trần Thủ Độ gây ra, nhưng trên cương vị một người lãnh đạo quốc gia, Vua không thể nhất đán phủi tay, buông xuôi, bỏ mặc cho vận nước nổi trôi… Và nhất là van nài trước sự khẩn thiết của Trần Thủ Độ: “Xin Bệ hạ nghĩ đến trăm họ. Lòng dân như hoa hướng dương, luôn hướng về nẻo mặt trời mọc, là Bệ hạ. Vậy xin Bệ hạ gấp hồi loan”. Vua cảm động, rươm rướm nước mắt rồi cùng các quan trở về kinh sư, gượng lên ngôi báu. Trong 33 năm trị vì Vua đã làm tròn sứ mệnh của một đấng quân vương, hết lòng lo sửa sang việc nước; bên trong, bình trị nội loạn; phía ngoài, dẹp yên xâm lăng. Nhờ vậy mà toàn dân được sống an vui hạnh phúc.
Với trí sáng như mặt trời và với lòng thì rộng như biển cả, Vua quả là một vị A la hán, một vị đại Bồ tát thị hiện ở Việt Nam để cứu nước Việt Nam. Nên sau khi đã hoàn thành sự nghiệp cứu nước, Vua nhường ngôi cho con là Trần Hoảng tức là Trần Thánh Tông. Chắc chắn sau đấy vua có nhiều thì giờ rảnh rỗi để dành hết tâm tư vào việc tu niệm, và viết sách truyền lại cho đời.
Tất cả nổi thao thức khổ đau đối với bản thân, đối với cuộc đời, và với lòng từ bi thương xót chúng sanh, vì u mê tạo nghiệp xấu ác, nên phải luân hồi chìm đắm trong ba cõi, sáu ngã. Do những ý nghĩa ấy, tác giả đã viết khóa Hư lục, trước hết là để tự thức tỉnh mình trên đường tu niệm và thực hành, nhằm thanh lọc sáu quan năng, mong đạt đến chỗ “lục căn viên thông”, tức là chứng thánh quả, đồng thời khuyên mọi người hướng tâm lên đức Phật từ bi cao cả và hãy học hỏi giáo lý vô thượng của Ngài, và lấy đó làm chiếc bè đưa ta qua sông mê, tới bờ giác.
Trước hết ta tìm về hai chữ “Khóa Hư”. Chữ Khóa (trong khóa Hư Lục), theo Hán tự, có nghĩa là bài học dạy về cách thức tu trì đúng chính Pháp. Chữ Hư, nghĩa là rỗng lặng, tâm luôn luôn thức tỉnh, không chấp vào hình tướng, sự vật một cách giáo điều, cố định. Khóa tượng trưng tinh thần hữu vi, minh chánh, quả quyết. Hư, tượng trưng tinh thần vô vi, lồng trong một ý nghĩa: Vạn hữu chuyển biến, khổ, không, vô thường, vô ngã, hiểu được lẽ sanh hóa của vũ trụ vạn hữu, là đi vào cõi niết bàn, bất sanh bất diệt, là chứng đạo, đạt tới trạng thái chân lý tối cao: Phật-đà.
Bây giờ chúng ta hãy đi vào nội dung tác phẩm quyển Thượng:
– Lời tựa.
– Tứ Sơn kệ, và những bài bình giải về cảnh sanh, già, ốm, chết.
– Phổ thuyết Sắc thân, tức nói về thân phận con người trước cuộc đời.
– Khuyến phát Bồ-đề tâm (khuyên mọi người phát lòng Bồ-đề).
Lời tựa
“Xét đến ngọn nguồn thì tứ đại vốn không, ngũ uẩn (cũng) chẳng có. Do không khởi vọng, vọng thành sắc; sắc có vốn tự không. Bởi vọng theo không, không hiển vọng; vọng sanh các sắc. (Một khí) Đã trái với lẽ không sanh không hóa, nên vạn hữu mới có hóa có sanh- nếu không sanh hóa thời không hóa, không sanh. Vì có hóa sanh nên có sanh, có hóa- hoặc sanh thánh, hiền khôn, dại, hoặc sanh lông, cánh, vảy, sừng đắm ở bến mê hoài, lênh đênh trong bể khổ mãi. Lờ mờ mù mịt, nào có biết chi; Luống cuống luồng cuồng, không sao tỉnh được. Thảy đều do phóng túng cái tâm đi, không một ai hay quay đầu trở lại. Mặc kệ (cho) đi lại sáu đường; lên xuống bốn núi. Bốn núi là gì? Tức là sanh, già, bệnh, chết vậy.
Hãy xin bàn rõ bốn núi, để cho sau này cùng noi”.
Bài kệ bốn núi
Tứ sơn kiêu bích vạn thanh tùng
Liễu ngộ đô vô vạn vật không
Hỹ đắc lư nhi tam cước tại
Mạch kỵ đã sấn thượng cao phong
Rừng cây bốn núi xanh xanh biếc
Vạn vật nhìn chung chẳng thực nào
Vui tạm “lừa con ba vó gác”
Gắng lên thẳng tới đỉnh non cao.
Bài kệ trên ngụ ý diễn tả bốn núi ví với bốn tướng (Sanh, Già, Ốm, Chết) mà mọi sanh vật đều không tránh khỏi. Khi một sanh vật sanh ra đời có nghĩa là sanh vật đó đã thoát được một tướng sanh,(nói cách khác; Nếu không sanh, làm gì có già, ốm, và chết, ví như con lừa lúc nằm giấu kín một chân); nhưng còn ba tướng kia, tức già, ốm, chết, nó luôn luôn rình rập, định cướp đoạt sanh mệnh của mỗi loài… biết rằng; Mỗi loài hiện hữu trên cõi đời này là do nhân duyên sinh, nên chúng luôn mang trong mình cái lẽ dời đổi, khổ đau, vô thường, vô ngã. Sự tu của con người ta vốn thường hay lười biếng, khác nào con lừa bản tính nó chậm chạp- muốn cho nó leo núi thì phải thúc dục nó đi mau. Cũng như người tu hành phải tử công phu lắm mới mong chứng được đạo quả… (lược).
Tác giả sách khóa Hư Lục đã thống thiết nói cho ta rõ về bốn nỗi khổ; Sanh, Già, Ốm, Chết của một kiếp người. Thật vậy, không một đứa trẻ nào lúc mới ra chào đời mà không khóc. Khóc là sự báo hiệu một sự nhận chịu nỗi khổ đau ở đời, một khi con người đã mang lấy nghiệp vào thân. Con người từ khi sanh ra, lớn lên và sống trong một khoảng thời gian dài ngắn không nhất định; cuối cùng bao giờ cũng đi đến cái chết, dù (người ấy) là trai hay gái, da vàng, da trắng, da đen, thông minh hay ngu tối, đẹp, xấu, sang hèn, giàu, nghèo… tuy có khác nhau về hình thể nhưng trên danh nghĩa mọi con người đều gọi chung bằng một chữ “ Người”. Đức Phật dạy: ”Con người vốn có Phật tánh và có khả năng thành Phật”.
Có điều Phật tánh ấy hiển lộ – khi con người nghĩ và làm điều thiện – hay bị mờ – khi con người nghĩ và làm việc ác – chỉ khác nhau giữa hai tuyến Mê và Ngộ. Con người, theo đạo Phật, thường được đề cao một cách toàn triệt, vì con người có năng lực trí tuệ bén nhạy hơn hẳn muôn loài vạn vật; mà các sanh vật khác chúng thường sống theo bản năng. Do đó, con người có thể tiến hóa để trở nên những nhà bác học, vĩ nhân, hiền triết, bậc thánh, và cũng rất dễ thụt lùi, sa ngã, đắm chìm trong ba ngã, sáu đường để nhận lấy cái nghiệp hoặc “thiện” hoặc” ác” do chính mỗi người đã tạo từ kiếp trước hay kiếp này và liên hệ ở kiếp mai sau. Nói cách khác, “loài người có thể tiến hóa đi lên, nhưng cũng rất có nguy cơ bị đào thải, vì không có gì bảo đảm rằng loài người tất yếu tiến hóa tốt”.
oOo
6. ĐẠO PHẬT TỪ THẾ KỶ XVII
ĐẾN HẬU BÁN THẾ KỶ XX
Đạo Phật đời nhà Trần, về phía xuất gia có đức vua Điều ngự Giác Hoàng, tôn giả Pháp Loa, tôn giả Huyền Quang lập thành Thiền pháp Trúc Lâm Yên Tử; về phía cư sĩ có các vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông và ngài Tuệ Trung thượng sĩ… đều là những Phật tử chân chính, hết lòng hoằng dương chính pháp làm cho Đạo Phật sáng rỡ một thời; nhưng cuối đời Trần thì Đạo Phật mất dần thanh thế. Cho mãi tới thời Trịnh – Nguyễn (1576-1786), tuy có đôi lúc được hưng hiển nhưng đấy chỉ như những vì sao rời rạc lấp lánh trên bầu trời vẩn mac tỏa ánh sáng chiếu soi xuống cõi trần gian mù mịt tối tăm này!
Phật giáo suy thoái từ cuối đời Trần Hiển Tông (1329-1341) và tiếp theo các đời Trần Dụ Tông (1358-1369); Trần Nghệ Tông (1370-1372); Trần Duệ Tông (1373-1377); Trần Phế Đế (1377-1388); Trần Thuận Tông (1388-1398); Trần Thiếu Đế (1398-1400). Tiếp đó là nhà Hồ thay nhà Trần (nhà Hồ làm vua được hai đời, trị vì bảy năm (1400-1407). Sau đó nước ta, suốt hai mươi năm bị nội thuộc nhà Minh (1408-1428)1.
Ngày 29 tháng 4 năm 1428, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, chấm dứt cảnh nội loạn ngoại xâm, Lê Lợi chính thức lên ngôi vua, trị vì sáu năm thì mất (1428-1433). Các vua kế nghiệp là Lê Thái Tông (1434-1442); Lê Nhân Tông (1443-1459); Lê Thánh Tông (1460-1497); Lê Hiến Tông (1498-1504); Lê Túc Tông (1504) và Lê Uy Mục (1505-1509); Lê Tương Dực (1510-1516); Đà Dương Vương (1516-1522) và Lê Cung Hoàng (1522-1527) gồm mười đời, trị vì 99 năm (1428-1527). Rồi nhà Mạc diệt nhà Lê. Nhà Mạc làm vua được năm đời, trị vì 65 năm (1527-1592) (Lịch sử gọi thời kỳ này là thời Nam Bắc triều Lê – Mạc).Tiếp đến thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh, kể từ đời vua Lê Kính Tông (1600) trở về sau, hai họ Trịnh – nguyễn đánh nhau cả thảy bảy lần, kéo dài 45 năm (1627-1672), khiến cho dân chúng đói khổ lầm than, đất nước bị chia cắt: họ Nguyễn hùng cứ phương Nam, họ Trịnh xưng chúa phương Bắc; tuy còn vua, nhưng quyền hành về cả hai chúa. Sau đó, trong nam có Trương Phúc Loan chuyên quyền làm bậy; ngoài Bắc thì có kiêu binh làm loạn…
Năm 1786, Nguyễn Huệ, lấy danh nghĩa “phù Lê diệt Trịnh”, kéo quân ra Bắc dệt họ Trịnh xong, trao quyền hành lại cho nhà Lê, nhưng vua mẫn Đế (Chiêu Thống) nhu nhược, triều thần lại thiếu người có tài kinh luân (đến nỗi) để cho Trịnh Bồng và nguyễn Hữu Chỉnh nối nhau chuyên quyền. Vua Càn Long (nhà Thanh) nhân đấy mượn cớ cứu nhà Lê, sai bọn Tôn Sĩ nghị, Sầm nghi Đống, Hứa Thế hanh đem quân sang giữ thành Thăng Long; phong cho vua Chiêu Thống làm An Nam Quốc Vương.
Việt Nam Sử Lược chép: “Nhà Lê, kể từ vua Thái Tổ (Lê Lợi) khởi nghĩa, đánh đuổi quân nhà Minh về Tàu, lập lại nền tự chủ cho nước nhà, truyền đến vua Cung Hoàng thì bị họ Mạc cướp ngôi. Sau nhờ có họ Trịnh1 và họ Nguyễn2 giúp đỡ, nhà Hậu Lê trung hưng lên, truyền đến vua Chiêu Thống, tức là Mẫn Đế, thì hết”.
Nhà Lê, kể cả Tiền Lê và Hậu Lê, trị vì 360 năm (1428-1788) nhưng từ khi trung hưng trở về sau, nhà Lê bị học Trịnh hiếp chế, nên vừa có vua lại vừa có chúa. Vua ngồi làm vì. Chúa giữ cả mọi quyền bính. Đến khi nghiệp chúa suy thì ngôi vua cũng đổ theo!
Cuối năm 1788, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ được các tướng sĩ tôn lên làm vua, rồi tự mình thống lĩnh đại binh, từ Thanh Hóa dẫn mười vạn quân và hơn 100 voi ra dẹp giặc thanh. Ngày 5 tháng giêng năm Kỷ Dậu (1789), đoàn quân của vua Quang Trung đánh thành Thăng Long, các tướng Hứa Thế Hanh, Trương Sĩ Long, Trương Duy Thăng đều tử trận. Sầm Nghi Đống dóng quân ở Đống Đ, phải tự thắt cổ chết. Còn quân sĩ nhà Thanh sỡ hãi bỏ chạy, dẵm đạp lên nhau mà chết, “xác nằm ngổn ngang như gò đống, máu chảy như thác nước”.
Để ca tụng chiến công hiển hách năm 1789 của dân tộc ta đại thắng quân Thanh, nhà thơ đương thời Ngô Ngọc Du đã sáng tác bài thơ:
“Giặc đâu tàn bạo sang điên cuồng,
Quân vua một giận oai bốn phương.
Thần tốc ruổi dài xông thẳng tới,
Như trên trời xuống ai dám đương.
Một trận rồng lửa giặc tan tành,
Bỏ thành cướp đò trốn cho nhanh.
Ba quân đội ngũ chỉnh tề tiến,
Trăm họ chật đường vui tiếp nghênh.
Mây tạnh mù tan trời lại sáng,
Đầy thành già trẻ mặt như hoa.
Chen vai khoác cánh cùng nhau nói:
Kinh đô vẫn thuộc núi sông ta”.
Về sau bọn khách trú ở Thăng Long làm đền thờ Sầm Nghi Đống ở ngõ Sầm Công, phố hàng Buồm, Hà Nội, nữ sĩ Hô Xuân hương có thơ vịnh rằng:
“Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo,
Kìa đền thái thú đứng cheo leo.
Ví đây đổi phận làm trai được,
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?”
Vua Quang Trung NGUYỄN HUỆ khi đã dẹp yên giặc Thanh, thống nhất đất nớc, lập nên nhà nguyễn (Tây Sơn), nhưng cách 4 năm sau (1788-1792) thì ông mất, con là Nguyễn Quang Toản mới 10 tuổi, được triều đình tôn lên làm vua, xưng đế hiệu là Cảnh Thịnh, để kế nghiệp cha. Đến năm 1802, Nguyễn Phúc Aùnh diệt nhà Tây Sơn, lập nên nhà Nguyễn.
CÁC CHÚA DÒNG HỌ TRỊNH ĐỐI VỚI PHẬT GIÁO
Họ Trịnh, kể từ Trịnh Tùng đến Trịnh Khải, gồm mười đời trị vì 216 năm (1570-1786), dưới thời vua Lê Thế Tông (1578-1599), có thiền sư Thủy nguyệt, tu ở núi Hùng Lĩnh, Việt nam, qua Trung Hoa, tham học với Hòa Thượng Trí Giác Nhất Cú (người Trung Hoa), khi đắc pháp trở về nước, sáng lập phái Tào Động. sau ngài Thủy nguyệt truyền cho ngài Tông Điển v.v…
Khoảng đời vua Lê Hy Tông (1676-1707), ở bắc Kỳ lại có thêm một Bphái Liên Tông, do ngài Lân Giác thành lập tại chùa Liên Phái (Bạch Mai, Hà Nội). Ngài Lân Giác là đệ tử của thiền sư Chính Giác, ngài Chính Giác là đệ tử của ngài Minh Lương, ngài Minh Lương là đệt tử của hòa thượng Chuyết Công, người Trung Hoa1tức là chi phái của phái Lâm Tế. Vậy ở Hà Nội hiện nay có hai dòng thiền:
a) Thiền sư Thủy nguyệt lập ra phái Tào Động.
b) Ngài Lân Giác, một vương công đời chúa Trịnh, lập Pháp Liên Tông (chi phái Lâm Tế).
Cả hai thiền phái kể trên đều là chi phái của dòng thiền Bồ Đề Đạt Ma (hai trong 5 chi phái: Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn và Ngưỡng Sơn, cũng gọi là Quy Sơn), ứng với câu : “Nhất hoa hiện thụy, ngũ diệp lưu phương”.
Từ vua Lê Hy Tông trở về sau, qua bốn đời vua kế tiếp, vua Dụ Tông đến vua Ý Tông (trong khoảng thời gian từ 1678 đến 1740 các chúa đã kiến tạo những chùa, tháp – theo VNPGSL:
– Năm Vĩnh Thịnh thứ XV (1719), chúa Trịnh Cương sức cho dân ba huyện Gia Định, Lương Tài, Quế Dương trùng tu chùa Phúc Long. Làm xong chùa, chúa miễn thuế một năm cho ba huyện ấy. Chùa Phúc Long ở về làng Lãng Ngâm, huyện Gia Định (Gia Bình) do chúa Trịnh Tráng dựng từ năm Phúc Thái thứ VI (1646).
– Năm Bảo Thái thứ VIII (1727), chúa Trịnh Cương sai nội giám lập chùa Thiên Tây (ở làng Sơn Bình, huyện Tam Dương, về địa phận núi Tam Đảo) và chùa Độc Tôn (ở làng Cát Nê, huyện Phổ An, tỉnh Thái Nguyên) để khi chính sự rảnh rỗi chúa ra nghỉ tại đó.
– Năm Vĩnh Khánh thứ II (1730), chúa Trịnh Giang sức dân ba huyện Đông Triều, Thủy Đường, và Chí Linh trùng tu chùa Quỳnh Lâm và chùa Sùng nghiêm. Dân phu 6.000 người làm luôn ngày đêm đến một năm mới xong.
– Năm Vĩnh Hựu thứ III (1731), chúa Trịnh Giang dựng tượng Phật lớn để thờ ở chùa Quỳnh Lâm, sắc cho các quan thay phiên đến làm lễ. Cũng trong khỏang niên hiệu Vĩnh Hựu thứ V (1735-1739), ngài Trạm Công vâng sắc vua qua nước Đại Minh, tham yết Hòa thượng Kim Quang, tu ở non Đỉnh Hồ, thỉnh được nhiều kinh điển đem về để tại chùa Càn An.
– Đến năm Cảnh Hưng nguyên niên (1740), đời vua Hiển Tông, chúa Trịnh Giang lại tịch thu chuông các chùa để đúc binh khí.
– Năm Cảnh Hưng thứ XXXII (1771), chúa Trịnh Sâm – sau khi dẹp yên giặc ở xứ Bắc, lấy đất Thuận Hóa và đất Quảng Nam của chúa nguyễn – dựng chùa Tiên Tích ở ngoài cửa Đẹi Hưng (thuộc làng Nam ngự, huyện Thọ Xương, Hà Nội, nay là phố Hàng Lọng).
– Năm Chiêu Thống, nguyên niên (1787) lại tịch thu các đồ đồng ở chùa để đúc tiền.
Ngoài việc phát triển hai phái Thiền như vừa kể, dưới sự hộ pháp của Chúa Trịnh: kiến thiết và trùng tu tự viện, tô tượng, đúc chuông, thỉnh Đại Tạng Kinh v.v.. Cao tăng bấy giờ cũng khá đông, như các ngài: HUỆ ĐỒNG, VIÊN CẢNH, VIÊN KHOAN, HƯƠNG HẢI, TOÀN NHẬT…
Trong khi Đạo Phật Bắc Hà trỗi dậy thì Đạo Phật ở Nam Hà cũng hưng phát.
NHÀ NGUYỄN ĐỐI VỚI PHẬT GIÁO
Nguyễn Hoàng vốn người nhân đức và rất sùng tín Đạo Phật, nên khi vào trấn ở Thuận Hóa, được nhân dân ở đây thường gọi ông là Chúa Tiên. Chúa là người trước tiên khơi nguồn tín ngưỡng Phật Giáo ở miền Trung. Trong khoảng 13 năm trị vì (1600-1613) chúa đã dựng những chùa: Thien Mụ (1601) ở Huế; chùa Bảo Châu (1607) ở Trà Kiều (Quảng Nam); chùa Kính Thiên (1609) ở Quảng Bình (đời Minh Mệnh đổi tên là Hoằng Phúc). Chúa mất năm 1613, thọ 89 tuổi.
Người con thứ sáu của Nguyễn Hoàng là Nguyễn Phúc Nguyên lên kế nghiệp cha (1613-1635), đương thời gọi là Chúa Sãi. Năm 1629, Đào Duy Từ hiến kế lập đồn Trường Dực (Quảng Bình) và xây lũy đài ở cửa Nhật Lệ (Đồng Hới), ngăn đôi nước Việt Nam. Kể từ đấy, Chúa Nguyễn cắt đứt việc cống nạp đối với Chúa Trịnh.
Họ Nguyễn xưng Chúa và mở mang phần đất ở Việt Nam
Năm 1558, Nguyễn Hoàng (con thứ hai của Nguyễn Kim), làm tướng, lập được nhiều công và được vua Lê Thế Tông phong làm Thái úy Đoan quân công. Ông vận động với chị là Ngọc Bảo để nhờ Trịnh Kiểm tâu lên vua Anh Tông (nhà Lê) cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa. Khi Nguyễn Hoàng vào trấn ở Thuận Hóa, lãnh thổ nước ta lúc ấy đã gồm tới đèo Cù Mông (Bình Định) kể từ gần 100 năm rồi; do đó sự thôn tính phần đất Chiêm Thành còn lại, do Nguyễn Hoàng và con cháu không khó khăn như xưa nữa.
Năm 1611, Nguyễn Hoàng đem quân đánh lấy phần đất từ đèo Cù Mông xuống đến Phan Rang, tức tỉnh Khánh Hòa ngày nay.
Năm 1693, chúa Nguyễn Phúc Chu thôn tính nốt phần đất của Chiêm Thành đến Bình Định.
Trước khi nước Chiêm Thành hoàn toàn bị tiêu diệt, Việt Nam đã bắt đầu di dân tới hai địa điểm bỏ hoang, thuộc lãnh thổ Chân Lạp, Khmer cũ là Mô Xoài (Bà Rịa) và Đồng Nai (Biên Hòa).
Từ thế kỷ XV, nước Chân Lạp nội loạn và sự quấy phá của Tiêm La (Thái Lan) đã bắt đầu suy yếu.
Năm 1658, cuộc khủng hoảng nội bộ trầm trọng đến nỗi vua nước đó phải xin thần phục Chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần). Rồi, kế tiếp làn sóng người Việt, trên đường Nam tiến cứ mỗi ngày thêm đông hơn.
Năm 1698, nhân nước Chân Lạp có nội loạn, vhúa Nguyễn Phúc Chu lấy cớ là vua nước ấy thất hứa, không theo lệ tirều cống, liền sai ông nguyển Hữu Cảnh làm kinh lược đất Chân Lạp, rồi thừa cơ hội chính thức lập vùng đất – do người Việt và người Hoa đã tới khai khẩn lập nghiệp ở đây – làm hai dinh Trấn Biên (Biên Hoà) và Phán trấn (Gia Định) mà hiện nay là cá tỉnh miền đông Gia Định, Long An và một phần đất của Định Tường.
Năm 1759, đời chúa Nguyễn Phúc Khoát, các tỉnh Tiền Giang, Hậu Giang lại được đặt làm phủ huyện Việt Nam. Ngoại trừ An Xuyên, Hà Tiên và Kiên Giang do Mạc Thiên Tứ chiếm cứ và mở mang, dù đã được thuộc quyền nhà nguyễn từ năm 1708, nhưng mãi đến năm 1780, Việt Nam mới thực sự thu hồi 3 tỉnh An Xuyên, Hà Tiên và Kiên Giang sáp nhập hẳn vào lãnh thổ Việt Nam.
Phật giáo Đàng Trong, từ sông Giang trở vào Nam, phần lớn chịu ảnh hưởng Phật Giáo Trung Hoa, do các ngài TẾ VIÊN, GIÁC PHONG v.v.. đều là người Tàu đem Đạo Phật truyền bá ở Trung Kỳ nước ta.
Đến đời chúa thứ tư là Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) lại có các thiền sư như hòa thượng Thọ Tôn, pháp danh NGUYÊN THIỀU, từ Trung Hoa qua Việt Nam, ban đầu trác tích ở phủ Quy Ninh (Bình Định), truyền bá chính pháp và sáng lập chùa Thập Tháp Di Đà, sau ra Thuận Hóa lập chùa Quốc Aân và dựng tháp Phổ Đồng (?), hoằng truyền phái Lâm Tế. Phật giáo Trung Kỳ (và cả Nam Kỳ nữa), coi ngài là vị sơ tổ của dòng thiền Lâm Tế. Tiếp theo ngài Nguyên Thiều là các ngài Minh Hoằng Tử Dung, khai sơn chùa Aán Tông, tức chùa Từ Đàm ở Huế; ngài Minh Hải Pháp Bảo, khai sơn chùa Chúc Thánh ở Quảng Nam, và ngài Minh Vật Nhất Trí, Minh Giác Kỳ Phương v.v…
Đời chúa nguyễn Phúc Chu (1691-1725), ngài Nguyên Thiều có lần cùng với sứ nhà nguyễn, được sự ủy nhiệm của chúa qua Trung Hoa, mời các bậc danh tăng và thỉnh kinh sách, pháp khí v.v.. Trong số các bậc danh tăng nhận lời mời tới Việt Nam có hòa thượng Thạch Liêm Đại Xán (thuộc phái Tào Động) . Cuộc khởi hành sang Việt Nam ngày 15 tháng giêng năm Aát Hợi, niên hiệu Khang Hy thứ XXXIV (1695), đến Thuận Hóa ngày 1 tháng 2, Hòa thượng đươcï chúa Nguyễn tiếp đón nồng hậu và rước về chùa Thiến Lâm. Ngày 1 tháng 4 năm Aát Hợi (1695), chúa lập đại giới đàn ở chùa Thiên Mụ, cầu thỉnh Hòa thượng truyền thụ giới pháp cho 1.000 giới tử, gồm những người thụ Sa di, Tỳ khưu và Bồ tát và được hòa thượng Thạch Liêm đặt pháp danh là Hưng Long, hiệu “Thiên Túng Đạo Nhân”.
Sau đó, Hòa thượng về tàu. Nhân có dịp tàu buôn qua Việt Nam, ngài có gửi chúa Nguyễn Phúc Chu một bức thư và một bài thơ. Nguyên văn:
“Nhất giang yên lãng, đạo cách trung vân;
Bát đổ xuân phong, tuyết thiên hoa mấn.
Sổ nhân gian chi hạ lạp,
Ức thiên ngoại chi nhân duyên;
Dao trì duy điện bồ đaòn,
Dĩ chứng hoàng mai tiêu tức.
Viên khiển độ giang chi vĩ,
Thiểu thân súc địa chi hoài.
Dạ nguyệt thông triều, trì lai viễn tín;
Tân thi ký tặng, quí pháptrường ngôn”.
Thi viết:
“Đông phong tân lãng mãn giang tần,
Tưởng kiến hồ sơn vũ lộ tân.
Tự thị dương hòa qui thảo mộc,
Thái bình nhân túy hải thiên xuân”
Trời bể muôn trùng, nước mây cách trở;
Xuân về mấy độ, làn tóc nửa sương.
Bấm tay nghĩ chuyện nhân gian,
Chạnh nhớ mối tình thiên ngoại.
Tưởng chừng dưới chiếu bồ đoàn,
Đã tỏ hoàng mai lối cũ.
Thuyền lan tiện gió,
Thấu chỗ nhớ nhung.
Sóng vỗ trăng ghềnh, mây đua tin nhạn;
Mấy lời quê cạn, tỏ chút u hoài.
Thơ rằng:
Sóng rỡn hoa tần phát gió đông.
Đỉnh hồ tưởng thấy hạt mưa nhuần.
Cỏ cây vui dưới trời êm dịu,
Người ngắm thăng bình tắm bể xuân.
Bản dịch THÍCH MẬT THỂ, VNPGSL.
Ngoài phái Nguyễn Thiều ra, vào đầu thế kỷ XVII, Phật Giáo Trung Kỳ lại có thêm một dòng thiền nữa, tức chi phái Liễu Quán.
Đời chúa Nguyễn Phúc Chu năm 1711, sau khi đã trùng tu chùa Thiên Mụ xong, chúa cho đúc quả chuông lớn, nặng 3.285 cân đồng để tại chùa.
Khoảng những năm 1738-1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát, lại sức trùng tu chùa Thiên Mụ rất là tráng lệ và sai sứ qua Trung Hoa thỉnh Da95I Tạng Kinh hơn 1.000 bộ về để tại chùa. Các chúa kế tiếp cũng rất sùng kính Đạo Phật.
Từ đời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) Đạo Phật đã truyền bá vào đất Nam Kỳ.
Những ngôi chùa cổ như: chùa Vạn An ở Phước Tuy, kiến tạo năm 1711; chùa Tam Bảo ở Hà Tiên, do Mạc Cửu lập khoảng những năm 1708-1725; chùa Hộ Quốc ở Biên Hòa, lập năm 1735; và đời chúa Nguyễn Phúc Khoát, chùa Giác Lâm ở Sài Gòn – Chợ Lớn, kiến tạo năm 1744.
Sang đời Nguyễn, Gia Long thứ XIV (1815), vua Thế Tổ sắc sửa lại chùa Thiên Mụ. Và năm Minh Mệnh thứ VI (1826), vua Thánh Tổ sắc lập lại chùa Thánh Duyên (chùa dựng từ đời chúa nguyễn Phúc Chu, 1691-1725). Năm Thiệu Trị thứ IV (1844), vua Hiến Tổ, vâng di chúc của Thánh Tổ (Minh Mệnh) sắc xây ở chùa Thiên Mụ một tháp lớn bảy tầng, gọi là “Phúc Duyên Bảo Tháp”. Cũng trong năm ấy, vua sắc lập chùa Diệu Đế ở trung tâm thành phố Huế. Chùa nhìn ra con sông Hương quanh năm nước trong suốt, không gợn chút vẩn đục – một cảnh đẹp ở xứ thần kinh thơ mộng.
Nói chung, Phật Giáo đời Nguyễn, từ chúa Nguyễn Hoàng đến Bảo Đại, trong hơn ba trăm năm (1600-1954), tuy các vua, chúa hết lòng sùng kính Đạo Phật, nào xây chùa, dựng tháp, tô tượng đúc chuông… nhưng Phật Giáo trong giai đoạn này, vẫn chỉ thu hình trong phạm vi tín ngưỡng cổ truyền…, chứ thực chất thì Phật Giáo đời Nguyễn đã giản ước lắm!
Vào giữa thế kỷ XVI, khi nước ta có mầm mống phân tranh thì Thiên chúa giáo cũng bắt đầu truyền vào Việt Nam. Theo Khâm Định Việt Sử: đời vua Lê Trang Tông, niên hiệu Nguyên Hòa nguyên niên (1533), Ky Tô giáo bắt đầu truyền vào Việt Nam, do người Tây tên là I-Nê-Khu, đi đường bể vào giảng đạo ở làng Ninh Cường, xã Quần Anh (Hải Hậu, Nam Định). Và năm 1626, đời vua Lê Thần Tông, giáo sĩ Baldinoti tới Bắc Kỳ giảng đạo, chúa (Trịnh Tráng) không cho, phải bỏ đi. Nhưng, sau đo, có Jean Rhodes, từ Nam ra bắc yết kiến chúa Trịnh, được chúa cho phép ở lại kinh đô giảng đạo.
Sách Nam Sử của Trương Vĩnh Ký chép: “Năm 1596, đời chúa Nguyễn Hoàng, có giáo sĩ Diogo Adeverte, người Tây Ban Nha (Espagne) tới giảng đạo chúa ở Đàng Trong. Năm 1615, đời Chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên), có giáo sĩ P. Busomi và năm 1624, có giáo sĩ Jean Rhodes là người Pháp Lan Tây (France) đến giảng đạo và lập ra giáo đường ở Phú Xuân.
Từ khi các nước tư bản và đoàn truyền giáo phương Tây như Pháp, Anh, Bồ Đào Nha (Portugal), Hòa Lan (Hollande)… đã mở rộng hoạt động, và có chủ ý xâm lăng nước ta sau này. Tháng 7 năm 1783, Nguyễn Aùnh, bị quân Tây Sơn vây ở Côn Lôn, may chạy thoát được về Phú Quốc. Đến cuối năm sau (1784) thì Nguyễn Ánh nhờ Giám mục Bá Đa Lộc, người Pháp, làm trung gian dẫn con trai (tên là Cảnh) và mang một văn thư gửỉ chính phủ Pháp nhờ giúp 1.500 quân, tàu bè, súng đạn… và ngày 28-11-1787, ông Bá Đa Lộc và thượng thư ngoại giao bộ Montmorin, đại diện chính phủ Pháp ký bản Hiệp ước Versailles, gồm 10 khoản, nội dung chủ yếu là: “Vua nước Pháp bằng lòng giúp – theo thư yêu cầu của Nguyễn Ánh – với điều kiện: Nguyễn vương phải nhường hẳn cho Pháp đảo Côn Lôn (Poulo-Condore), cửa bể Hội An (Faifo) và cam kết để cho nước Pháp với một nước ở phương Đông”. Ngày 8 tháng 12 năm 1787, ông Bá Đa Lộc vào bái tạ hoàng đế Louis XVI rồi đem hoàng tử Cảnh xuống tàu trở lại Việt Nam.
Năm 1851, Tự Đức năm thứ IV, nghĩa là từ khi có tờ Dụ cấm đạo lần thứ hai, chính phủ Pháp liền sai ông Leheur de Ville-Sur-Arc đem chiến binh “Catinat” vào cửa Đà Nẵng, rồi cho người đem thư trách chính quyền Việt nam về việc cấm đạo. Cuối năm 1856, Tự Đức năm thứ IX, sứ thần nước Pháp là ông Montigny tới cửa Đà Nẵng, cho người đưa thư xin triều đình nhà Nguyển cho người Pháp được đi lại thông thương và đặt lãnh sự ở Huế cùng cho giáo sĩ được tự do giảng đạo.
Sách Nam Kỳ Sử Ký (Histoire de la Cochinchine) chép: “Ông giáo thành Rouen là Mgr de Bonnechose và bà hoàng hậu cũng có ý giúp ông giám mục Pellerin, nên Pháp hoàng Napoléon đệ tam mới quyết ý sai quan đem binh thuyền sang đánh nước Việt Nam” (theo VNSL).
Sách Thập Giá và Lưỡi Gươm: “Hai nhân vật quan trọng trong việc cổ vũ việc Pháp xâm lăng Việt Nam là giám mục Pelơranh (Pellerin) của quan địa phận Huế và linh mục Húc, cựu Thừa sai truyền giáo. Giám mục Pelơranh đã khẳng định trước mặt triều đình Napoléon III rằng: “Nếu quân Pháp đánh chiếm nước này, thì giáo dân bản xứ sẽ tiếp đón họ như những kẻ cứu tinh”. Linh mục Húc cũng viết thư cho vua rằng: “Chiếm lấy Nam Kỳ là việc dễ dàng nhất trần gian, nó sẽ đem lại những kết quả vô cùng to lớn. Nước Pháp hiện có tại biển Trung Quốc những lực lượng dư sức để tiến hành công việc đó. Dân bản xứ thì hiền lành, siêng năng, rất dễ đón nhận đức tin Kytô giáo và đang rên xiết dưới ách tàn bạo ghê gớm. Họ sẽ tiếp đón chúng ta như nhựng người giải phóng, những vị ân nhân. Chỉ cần ít lâu thôi là đem họ theo đạo được hết và làm cho họ nhiệt tình yêu mến nước Pháp”.
Thập Giá và Lưỡi Gươm, trang 36, bản tiếng Pháp DIEU et CÉSAR Les Catholiques dans L’Histore du viet nam của linh mục Trần Tam Tỉnh paris, 1978.
Tháng 7 năm 1858, trung tướng hải quân Pháp Rigault de Genouilly dẫn 3.000lính người Pháp và người I-Pha-Nho cùng 14 chiến thuyền vào cửa Đà Nẵng bắn phá các đồn lũy, rồi lên hạ thành An Hải và thành Tôn Hải. Năm 1861, trung tướng Charner đem cả thảy 70 chiến thuyền và 3500 quân đánh lấy Gia Định; mặt khác, thiếu tướng Page và trung tá Bourdais đi đường bộ, theo sông Mékong, tiến chiếm thành Vĩnh Long. Quân ta chống cự một cách yếu ớt. Còn triều đình Huế lo sơ, xin giảng hòa. Và Hoà Ước Năm Nhâm Tuất (1862) ra đời, gồm 12 khoản, nội dung chủ yếu là: “Nước Việt Nam phải nhượng đứt cho nước Pháp ba tỉnh Biên hòa, Gia Định và Định Tường; nước Việt Nam không được đem binh lính, khí giới đi qua những tỉnh đã nhường cho Pháp, và những chiến thuyền nước Pháp được tự do ra vào sông Mékong; các giáo sĩ nước Pháp và giáo sĩ nước I Pha Nho được tự do giảng đạo, và để cho người dân Việt Nam được tự do theo đạo; người Pháp và người I Pha Nho được tự do đi lại buôn bán ở cửa Đà nẵng, cửa Ba Lạt và cửa bể Quảng Yên…”
Năm 1867, từ Mỹ Tho thiếu tướng De la Grandière dẫn hơn 1.000 quân tiến đánh ba tỉnh phía Tây: Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.
Năm 1873, đại úy Francis Garnier đánh thành Hà Nội lần thứ nhất, Nguyễn Tri Phương tử tiết, sau đó quân Pháp đánh lấy các tỉnh: Ninh Bình, Nam Định và Hải Phòng. Và… đưa đến Hòa Ước Giáp Tuất, 1874, gồm 22 khoản, nội dung chủ yếu là: “Các giáo sĩ được tự do giảng đạo, và dân chúng được tự do theo đạo; tàu thuyền Pháp được tự do vào cửa Thị Nại (Qui Nhơn), cửa Ninh Hải (Hải Phòng), thành Hà Nội và sông Hồng, và nước Pháp được quyền đặt lãnh sự ở các cửa bể và các thành thịc Nam phải thuận nhượng đứt đất sáu tỉnh Nam Kỳ cho nước Pháp…”
Tháng 4 năm 1882, đại tá Henri Rivière đánh lấy thành Hà Nội (lần thứ hai), Hoàng Diệu tuẫn tiết. Kết cuộc đưa đến Hoà Ước năm Quí Mùi, 1883, nội dung gồm 27 khoản, đại lược: “Nước Nam chịu nhận nước Pháp bảo hộ; mọi việc giao thiệp với nước ngoài, đều do nước Pháp chủ trương; tỉnh Bình Thuận thuộc về Nam Kỳ; quân Pháp đóng giữ ở núi Đèo Ngang và ở Thuận An; từ tỉnh Khánh Hòa ra đến Đèo Ngang thuộc quyền cai trị của triều đình Huế…”
Thế là từ đó nước Việt Nam hoàn toàn đặt dưới quyền cai trị của nước Pháp. Triều đình Huế đã đầu hàng Pháp. Nhưng giới sĩ phu trong nước vẫn khẳng khái, trước sau, lần lượt đứng dậy vận động quốc dân thành lập các Phong trào kháng Pháp, như: VĂN THÂN, CẦN VƯƠNG, ĐÔNG DU, ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC, DUY TÂN… và các cuộc khởi nghĩa ở Thái Nguyên, ở Yên Bái… đều có chung mục đích: đánh Pháp, giành lại quyền độc lập cho nước nhà.
Như trên, kinh nghiệm cho thấy: hễ khi nào chính quyền và nhân dân xa lìa nguồn sống lịch sử Việt, xa lìa chính pháp, đánh mất ý thức dân tộc là chỉ có suy tàn, chỉ có chiến chinh. Xa lìa nguồn sống lịch sử Việt, là dắt quốc dân vào phiêu lưu, vào linh lạc, là làm cho xã hội Việt phân tán, nòi giống Việt gục lịm trong thân phận tù đày, nô lệ…
Bây giờ ta thử đặt lại vấn đề, để tìm ta manh mối, tại sao: “thời đại Lý – Trần nước Đại Việt hùng mạnh, toàn dân sống cuộc sống an lành, hạnh phúc?”. Là vì chính quyền và toàn dân (thời đó) đã biết khơi dậy Nguồn Sống của dòng sử Việt, phục hồi được mạch sống bất tận của sức sống Phật Việt Mà thực vậy, “khơi lại được nguồn sống lịch sử Việt, là sẽ vượt và thắng được hết, và bất chấp hết mọi âm mưu từ ngoài tới, đồng thời xua quét được hết mọi ươn hèn, ỷ lại… bị đọng bên trong phát ra, hầu giải thoát con người ra khỏi những lệ thuộc của tinh thần máy móc của không tưởng cằn cỗi, luẩn quẩn và lịm chết”.
SỰ SUY THOÁI CỦA PHẬT GIÁO CÓ NHIỀU LÝ DO
1. Theo Luật Vô Thường Chuyển Biến, Phật giáo đã hưng phát dưới hai triều đại Lý – Trần (1010-1398): thời kỳ Đạo Phật Việt được coi là quốc giáo – thời lỳ mà lịch sử ghi là một thời đại văn minh thịnh trị nhất của nước ta. Nhưng sau đó, nhân tài Phật Giáo thưa thớt, tiêu điều như cảnh lá mùa thu, nên không còn đủ khả năng và uy tín giữ địa vị lãnh đạo tinh thần (sư giả nhân chi mô phạm) của mình nữa thì, lẽ tất nhiên, Phật giáo phải suy thoái.
2. Thời Gian Nho Giáo Chiếm Địa vị Độc Tôn, về phương diện tư tưởng cũng như trên cương vị lãnh đạo quốc gia, cũng chính là lúc đất nước dân tộc ta rơi vào tình trạng phân hóa, khốn cùng. Dưới thời đại Minh Tông, tuy vua là một Phật tử, có truyền thống gia phong tin Phật, nhưng vẫn không cứu vãn nổi tình thế, vì các quan trong triều đều là những nho sĩ vốn có óc kỳ thị (không mấy tốt đẹp) đối với Phật Giáo: một thiểu số nhà Nho nhờ có thi cử đỗ đạt, được cất nhắc ra làm quan, và vì bản chất hẹp hòi đã bài xích Đạo Phật. “Chỉ nhận có nho giáo là chính giáo, ngoài ra không còn có đạo nào khác nữa” (mà) điển hình cuối đời Lý: có ĐÀM DĨ MÔNG; đời Trần: có TRƯƠNG HÁN SIÊU, LÊ BÁ QUÁT; đời Hậu Lê: có NGÔ SỸ LIÊN…
3. Đất Nước Việt Nam Không May Gặp Cảnh Nội Loạn, Ngoại Xâm, Từ Thế Kỷ XV Tới Thế Kỷ XX: nào nhà Hồ diệt nhà Trần, tiếp theo giặc Minh xâm lược nước ta, ròng rã hơn hai mươi na9m, mãi đến năm 1428, Bình Định vương lê Lợi mới đánh đuổi được giặc Minh ra khỏi đất nước, nối lại nền tự chủ của các tiền triều. Nhà Lê lấy Nho giáo làm kỷ cương trị nước. Còn Phật giáo và Lão giáo thì bị bỏ rơi. Nhà Lê cai trị đúng một trăm năm thì bị nhà Mạc lật đổ. Tiếp sau là thời lỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh. Rồi đến Pháp cai trị nước ta (1862-1945). Con người sống dưới thời Lê (và cả sau này nữa) thi đua học đạo thánh hiền (Nho giáo), đa số là những con mọt sách, ngày đêm miệt mài với những pho kinh sử văn chương hoa mỹ (nhưng vô hồn); chen chân nhau trên bước đường khoa cử để có dịp tiến thân, ra làm quan. Đầu óc họ chất nặng những mặc cảm tự tôn, tự đại: chỉ nhận có “đạo thánh hiền” mới là chính đạo, ngoài ra đều coi là tà giáo cả!
4. Thực dân Pháp Cai Trị Nước Ta 83 Năm (1862-1945), trong giai đoạn này, Đạo Phật Việt bị gạt ra ngoài lề cuộc sinh hoạt của xã hội đương thời, dù rằng: khắp nước, làng nào cũng có chùa thờ Phật (có làng có đến ba ngôi chùa, nhưng đó chỉ là dành riêng cho phái nữ, những bà già… Mỗi tháng, vào những ngày mồng một và mười rằm, tới chùa lễ Phật., Một Đạo Phật thực tiễn, linh động với mục đích giác ngộ và giải thoát con người; bỗng dưng trở thành thứ tôn giaó tiêu cực, chán đời, “mê tín dị đoan”, coi đức Phật như một Thượng Đế toàn năng… một số tăng, tín đồ thì lần lần đi xa nguồn gốc giáo lý chính thống. Thật là bi đát!
Với nội bộ như thế, Phật giáo thật khó tránh khỏi suy vi. Còn hoàn cảnh bên ngoài thì chính quyền thực dân Pháp triệt để ủng hộ, nâng đỡ Thiên chúa giáo và cố ý dìm Phật giáo, coi Phật giáo như một lực lượng dân tộc đối kháng với Nhà nước bảo hộ; vì đạo Phật đã bắt rễ lâu đời trong quần chúng, nên chính quyền Pháp, tìm đủ mọi cách hạn chế, ngăn cấm sức phát triển của Đạo Phật Việt, về cả tinh thần lẫn vật chât… Cho mãi tới năm 1930, giới tăng sĩ và trí thức trong nước mới có cơ hội đứng ra hô hào chấn hưng Đạo Phật Việt.
Và, sau 83 năm Pháp cai trị nước ta, Đạo Phật quốc gia Việt Nam chỉ được coi như một “tôn giáo bản địa”, bị gạt ra ngoài mọi sinh hoạt tập thể của quốc gia này. Chính quyền bảo hộ của người Pháp ra mặt nâng đỡ Thiên chúa giáo và kỳ thị, đàn áp Phật giáo, không cho phát triển. Như việc kiểm tra tăng chúng, việc dựng chùa phải có giấy phép, có được mới được xây cất; việc hạn chế nhà chùa, không được tạo mãi đất đai hay nhận của cải của thập phương hỷ cúng. Với chính sách hủ hóa dân tộc ta, thực dân Pháp đã rất rộng rãi với những gì là mê tín dị đoan, hạn chế giáo dục, cốt làm cho dân ta ngu dốt để chúng bảo sao tin vậy; Đạo Phật cũng bị đồng hóa với những tà thuyết ngoại đạo… Rồi từ chỗ xa lìa chính pháp, Đạo Phật nghiễm nhiên trở thành như một thần đạo không hơn không kém. Mục đích của thực dân, như đã thấy, là sự thống trị đất nước này và không muốn cho dân tộc trở mình để lớn mạnh…
Nhưng, sau gần thế kỷ bị trị, và sau trận thế chiến thứ hai chấm dứt, dân tộc Việt cùng với các dân tộc nhược tiểu khác trên thế giới đã bừng tỉnh đứng dậy, giải phóng ách nô lệ cho con người và giành quyền độc lập tự chủ cho quốc gia, chấm dứt một chế độ lạc hậu, lỗi thời.
Ngày 9-3-1945, tức ngày rằm tháng giêng năm Ất Dậu, quân Nhật làm cuộc đảo chính Pháp, lật đổ một chế độ thực dân lỗi thời của giống da trắng trên toàn cõi Đông Dương.
Tháng 8 năm 1945, nước Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh, chấm dứt trận thế chiến thứ hai (1939-1945), một tia sáng đến với toàn thể loài ngươì.
Nước Việt Nam bắt đầu mở qua một trang sử mới…
Đạo Phật Việt, qua XX thế kỷ, tuy có lúc thịnh…, lúc suy…, cho mãi tới năm 30, giới tăng sĩ và trí thức trong nương ra hô hào chấn hưng Phật giáo.
– Năm 1931, ở Nam Kỳ thành lập Hội nghiên Cứu Phật Học và năm 1933, Hội Lưỡng Xuyên Phật Học ra đời;
– Năm 1932, tại Trung Kỳ thành lập Hội An Nam Phật Học;
– Năm 1934, Bắc Kỳ thành lập Hội Việt Nam Phật Giáo.
Các Hội đều có mở các trường Tiểu, Trung, Đại Học cho các tăng, ni sinh từ các nơi về tham học, và lập các thư viện, xuất bản kinh sách, báo chí. Ở Nam, có tạp chí TỪ BI ÂM, DUY TÂM; ở Trung, có nguyệt san VIÊN ÂM; và ở Bắc cũng xuất bản tờ tuần báo ĐUỐC TUỆ. Ngoài các cơ quan trên, sau này còn có mấy thứ pháp âm, như: TIẾNG CHUÔNG SỚM, PHÁT ÂM, TAM BẢO, GIÁC NGỘ, GIẢI THOÁT, DIỆU ÂM, PHƯƠNG TIỆN, LIÊN HOA, TỪ QUANG, BỒ ĐỀ TÂN THANH, VIỆT NAM PHẬT GIÁO, THIỆN MỸ, VẠN HẠNH, HẢI TRIỀU ÂM, GIỮ THƠM QUÊ MẸ, TƯ TƯỞNG, HOẰNG PHÁP, HÓA ĐẠO, BÁT NHÃ, HÓA GIẢI v.v…
Suốt 20 năm từ 1930 đến 1951, nền Thống Nhất Phật Giáo nước nhà thật sự bừng sáng, và đã được thể hiện dưới danh nghĩa TỔNG HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM, gồm 6 Tập đoàn sáng lập viên:
- Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt.
- Giáo Hội Tăng Già Trung Việt.
- Giáo Hội Tăng Già Nam Việt.
- Hội Việt Nam Phật Giáo (Bắc Việt).
- Hội An Nam Phật Học (Trung Việt).
- Hội Phật Học Nam Việt (Nam Việt).
Dươí đây là bản Tuyên Ngôn thống nhất Đạo Phật Việt đã được công bố nhân lễ Phật Đản ngày 8 tháng 4 năm Tân Mão (1951).
Nguyên văn:
“Bánh xe Phật pháp xoay vần trên khắp quốc độ Việt Nam đến nay đã hai mươi thế kỷ, nhân tâm, phong hóa, chính trị trong nước đều đã chịu ảnh hưởng sâu xa tinh thần Phật giáo, tăng đồ và tín đồ từ Bắc chí Nam, một lòng quy ngưỡng đức Điều ngự Thích Ca Mâu Ni, sống trong Từ Bi Hỷ Xả và luôn luôn xây dựng hòa bình. Nhưng sự đời không hòa nhịp với lòng mong mỏi, hoàn cảnh trước đây đã chia ranh giới ba kỳ, nên Phật sự cũng phải tùy duyên, mặc dầu Phật pháp bất biến.
“Nay cơ duyên thuận tiện, Phật giáo Việt nam phải thống nhất. Hơn nữa họa chiến tranh gieo rắc khắp nơi, nhân loại đang lâm vào cảnh lầm than. Chính là lúc đạo Từ Bi vô thuợng phải đem nước cam lộ “tưới tắt lửa sân si”, để xây dựng hòa bình cho nhân loại.
“Theo lời hiệu triệu của các bậc trưởng lão hòa thượng, một hội nghị Phật giáo gồm 51 đại biểu, đã long trọng khai mạc ngày 1 tháng 4 Phật lịch năm 1945, tức ngày 6 tháng 5 dương lịch 1951, tại ngôi chùa lịch sử Từ Đàm (Thuận Hóa).
“Sau bốn ngày thảo luận, toàn thể hội nghị đã quyết định thống nhất Phật giáo toàn quốc Việt Nam, lấy ngày Phật Đản làm kỷ niệm thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, và bầu một Ban Quản Trị Trung Ương, đặt trụ sở tại Thuận Hóa (Huế); để thực hiện chương trình thống nhất mà hội nghị đã biểu quyết.
“Hỡi toàn thể Phật tử Việt Nam!
“Chúng ta hãy san phẳng những hình thức sai biệt, cùng chung sức chung lòng làm tròn sứ mệnh kiến tạo hòa bình, gây mầm an lạc, và nêu cao ngọn đuốc trí tuệ của Đức Thế Tôn”.
Và năm 1952, ba Giáo Hội ba kỳ Nam Trung Bác hội tụ về chùa Quán Sứ, Hà Nội, thành lập ‘Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc’, đến năm 1959, đổi là ‘Giáo Hội Tăng Già Việt Nam’./.
——— (Tập sách này còn các chương sau về Phật giáo giai đoạn cận đại) ———
PHẦN CHÚ THÍCH
[1] Sách Hậu Hán Thư (chương 33 tờ 8a), nói về sự phân chia Giao Châu với Quảng Châu như sau:
“Trị sở Giao Châu là huyện Luy Lâu. Niên hiệu Nguyên Phong thứ V (106 tr.TL), trị sở ấy sau được dời đến huyện Quảng Tín, đất Thương Ngô”.
Lời sớ của Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (quyển 2, tờ 7a, hàng 7) xác định rằng: Luy Lâu là một huyện thuộc đất Giao Chỉ, tại làng Lũng Khê, huyện Siêu Loại, tỉnh Bắc Ninh (sách Phật Giáo Việt Nam từ khời nguyên đến thế kỷ XIII, trang 66, dòng 18 – 26).
[2] Lịch sử hàng hải quốc tế xác nhận: từ thời tối cổ vùng Viễn Đông và Thái Bình Dương đã là nơi có sự buôn bán phồn thịnh hàng hải rồi. Người Trung Hoa đã biết sử dụng địa bàn từ thời tiền sử khoảng XXX thế kỷ tr.TL; hơn nữa, một phần phía Nam Trung Hoa được đặt trong vùng ảnh hưởng gió mùa định kỳ. (Rất có thể) vào năm 1398 tr TL một người Trung Hoa tên Chien-Ho đã tiếp xúc với các quần đảo rải rác hoặc đã đặt chân lên vùng đất California, thuộc nước Mỹ. Chúng ta cũng cần chú ý là kỹ nghệ đóng thuyền viễn dương của Trung Hoa. Từ nghìn xưa loại thuyền buồm Trung Hoa vẫn được nổi tiếng với thế giới. Năm 414 Tây lịch, Thiền sư Pháp Hiển – Fa hsien (Trung Hoa) đã dùng thuyền viễn dương rất đồ sộ chở được trên 200 người từ Java về Quảng Châu thuộc tỉnh quảng Đông. Mà mãi đến năm 1492 Chritophe Colomb mới đặt chân lên đất Mỹ. Không phải đợi đến thời thiền sư Pháp Hiển mới có sự thông thương bằng đường biển giữa Ấn Độ Dương với biển Trung Hoa. Sự thương mại bằng đường biển cổ thời giữa Địa Trung Hải, biển Baltique và Hắc Hải ở Âu châu không có gió mùa mà còn được phát triển rất mạnh, huống hồ các nước nằm trong hệ thống gió mùa định kỳ đã đóng góp rất mạnh mẽ vào chương trình đi về một cách rất chính xác, giúp cho các thương nhân đỡ sức lao động, và do đó thuyền có thể rất lớn, chở nặng được.
Người Ấn Độ ngay từ hồi còn định cư ở lưu vực Indus, phía tây bắc Ấn Độ, đã có truyền thống thương mại hàng hải thuộc biển Ả-rập với các nước Âu Châu rồi. Khoảng 300 năm tr TL, dưới triều đại Maurya, nước Magadha, đại đế Chadragupta trị vì một vương quốc rộng nhất thời bấy giờ. Đến đời cháu đích tôn của đại đế, là thánh quân Asoka của triều đại maurya đã lên đến tuyệt đỉnh vinh quang. Ta cũng nên nhớ rằng, vào khoảng hai thế kỷ cuối cùng trước kỷ nguyên Tây lịch, có một biến cố lớn xảy ra ở Ấn Độ. Đó là con đường thương mại vàng bị cắt đứt; từ trước, Ấn Độ vẫn mua vàng tại Tây bá Lợi Á. Các đoàn lữ hành vận tải vẫn thường dùng con đường Bactrianeđể thông thương bị các phong trào quần chúng Trung Á nổi dậy ngăn chặn con đường thương mại này. Ấn Độ đành phải quay sang phương Tây để mua vàng, thuộc thế giới La Mã. Người Ấn Độ mua các đồng tiền vàng về rồi nấu cho chảy ra để sử dụng theo ý mình; do đó, hoàng đế Vespasian ngăn cản, không cho vàng chảy ra ngoại quốc nữa. Ấn Độ liền quay sang “Kim Thổ” tức là sang bán đảo Ấn – Hoa. Như ta biết là kỹ thuật hàng hải viễn dương lúc ấy rất thuận tiện. Gió mùa đã được sử dụng. Các con đường buôn viễn dương có thể chở được 700 hành khách đã thấy xuất hiện trên các hải đảo rồi. Và, làn sóng di dân có khuynh hướng lan rộng rõ rệt mỗi ngày dồn về phía Đông mạnh hơn, bằng hai ngả đường bộ và đường thủy: Phía bắc Ấn Độ, con “đường buôn lụa” sang tới Trung Hoa là con đường chính mà các nước thuộc vùng Thượng Huyền, vùng Trung Á và Địa Trung Hải buôn bán với Viễn Đông, thuộc Trung Hoa. Con đường này lại hay có nạn bị cướp, thường do các nước có truyền thống văn minh bản xứ lâu đời và hiếu chiến sử dụng. Còn con đường về phương Nam thông với Nam á là con đường biển. Đường biển có lợi là có thể chở được nhiều hàng, nhiều nước ngọt, lương thực và người trên những con thuyền lớn. Hơn nữa, con đường biển nhờ có hệ thống gió mùa định kỳ nên khách hàng có thể yên trí tính toán chương trình nhất định ngày đi về được rất chính xác. Còn một điều này nữa cũng cần để ý, đó là các dân tộc sử dụng, “cong đường buôn lụa” hay có tính bảo tồn bản chất văn hóa Ấn Độ; nhưng nếu sử dụng con đường này để đưa văn minh vào các nước Đông Nam Á Châu thì kết quả mong đợi rất khác xa với kết quả thu được ở những nước do đường biển đưa tới. Những nước phía Đông Nam Á Châu chịu ảnh hưởng bản chất Indonesien và Melanesien nhiều hơn là Mongolique. Do đó, văn minh Ấn Độ thâm nhập vùng Đông Nam Á có vẻ nhộn nhịp hơn. Phong trào di cư của người Ấn Độ trong đó (hẳn nhiên) có các nhà sư ấn Độ đã đem Đạo Phật truyền vào vùng Đông Nam Á, có thể bắt đầu từ thời đại Asoka, nhưng chỉ lẻ tẻ và nhiều đợt, phong trào trở thành rầm rộ thì vào khoảng đầu kỷ nguyên Tây lịch. Các phong trào này dùng đường biển nhiều hơn là đường bộ.
[3] Vua Dục đi: nghĩa là tháp Dục Vương (Asoka) đổ nát.
[4] .Vua sau: nghĩa là tháp Tường Long của vua Lý Thánh Tông cũng đã đỗ nát rồi.
[5] Thích Đức Nghiệp, Đạo Phật Việt Nam, trang 29 – 34.
[6] Lê Mạnh Thát, Nghiên Cứu Về Mâu Tử, trang 1 và 2, Tu Thư Vạn Hạnh xuất bản 1982.
Cách nay khoảng 30 năm, tôi nhớ trên những chuyến đò ngược xuôi, người xẩm mù lòa chuyên đi hát rong và thường mang theo mình cây đàn nhị, hoặc chiếc trống bỏi, có khi một ống sáo, đi kèm bên một em bé dẫn đường, tay cầm chậu thau để xin sự “bố thí” của đồng bào thập phương; anh ta vừa kéo nhị (hoặc đánh trống, thổi sáo) và nghêu ngao hát những câu (giọng khàn khàn) “Phúc đức Tổ ấm, bà ơí! làm duyên làm phúc cho tôi với nào”. Cũng có khi người ta nói: “Phúc đức tại mẫu, bà ơi” {hay ông ơi, anh ơi, chị ơi, cô ơi!).
Hai chữ “phúc đức” quả đã là nguồn sống tràn trề hy vọng mà lẽ nhân quả luân hồi, tội phúc báo ứng của Đạo Phật đã gieo vào tiềm thức sâu thẳm của giống nòi Lạc Việt, để mỗi ngày vun bồi cho cây “Đức” thêm sum suê, tươi tốt.
[7] Trong thơ NGUYỄN CÔNG TRỨ có câu:
“Dân hữu tứ, sĩ chi vi tiên
Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt”.
[8] Chúng tôi đề nghị độc giả nên đọc thêm cuốn “Đạo Phật Với Con Người” của HT. Tâm Châu.
[9] Cuộc Khởi Nghĩa đầu tiên của hai chị em Bà Trưng chống quân Đông Hán vào năm 40 của thế kỷ đầu Tây lịch là do các quan lại Trung Hoa đã không biết tôn trọng quyền tự trị của dân tộc Việt, mà chỉ chuyên chú vào việc khai thác kinh tế, làm giàu cá nhân. Và cuộc khởi nghĩa thứ hai của bà Triệu, năm 248 Tây lịch, chống Đông Ngô, cũng vì Trung Hoa không muốn để dân tộc Việt tự trị, hòng đồng hoá và tiêu diệt người Việt mau hơn. Vì sự tồn tại của giống nòi, người Việt đã phản tỉnh kịp thời, tìm phương đối phó lại với người phương Bắc (Trung Hoa). Hai cuộc khởi nghĩa mang màu sắc quý tộc Lạc hầu, Lạc tướng (đời Bà Trưng) hay màu sắc bình dân hứng khởi tình cảm (Bà Triệu, tức Triệu Thị Trinh) cũng đã gây được cho lớp hậu tiến niềm phấn khởi tự tin: giải phóng quốc gia khỏi gông cùm phương Bắc.
Nhưng từ khi vương triều Bà Trưng đổ thì chế độ quí tộc Lạc hầu, Lạc tướng cũng đổ theo. Cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu mang tính cách quần chúng tự phát, vì các nhà quý tộc có uy tín đã bị tru diệt cả rồi.
Như đã biết: Nước Trung Hoa phần nhiều ít chú trọng tới phương Nam bằng phương Bắc, và hễ bao giờ ở chính quốc có rối loạn thì sự cai trị ở Giao Châu lại càng lỏng lẻo hơn và nhiều khi là không cần thiết. Chỉ bao giờ chính quốc ổn định rồi thì người Trung Hoa mới lại dồn lực quay về phương Nam để thắt chặt thêm vòng xích đô hộ.
Các cuộc khởi nghĩa của Việt Nam đều phải ăn nhịp với các sự biến động tại chính quốc. Do đó có thể phân chia ý thức quốc gia Việt Nam hay nói khác đi, sự đối kháng, sự bảo tồn văn hóa của Việt Nam đối với văn hóa Trung Hoa qua năm thời kỳ:
- THỜI KỲ ĐỐI KHÁNG, tức là thời kỳ bắt đầu từ đời Hồng Bàng lập quốc, từ thời Hùng Vương đến thời hai Bà Trưng.
- THỜI KỲ THỎA HIỆP, tức là thời kỳ bắt đầu từ Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp. Lúc này nước Việt Nam có lác đác vài nhà trí thức như Lý cẩm, Lý Tiến .v.v.. sang Trung Hoa du học, đã đổ đạt và làm quan.
- THỜI KỲ QUẬT KHỞI, Nhà Tiền và hậu Lý Nam Đế (542 – 602) và họ Khúc (906 – 923) đã mở màn cho thời kỳ chế độ tự chủ.
- THỜI KỲ PHẢN TRANH, Nhà Ngô (939 – 965) có công phế bỏ thứ văn hóa nô dịch của người phương Bắc. Tuy nhiên giai đoạn này mới chỉ là “phản tỉnh” tự chủ mà thôi; cho nên trong nước mới phát sinh nạn cát cứ không mấy tốt đẹp.
- THỜI KỲ SÁNG TẠO, ĐỘC LẬP, nhà Đinh (960 – 980) Tiền Lê (981 – 1009) đã mở màn cho giai đoạn quốc gia, độc lập để sau này hai triều đại Lý – Trần phát triển ý thức văn hóa quốc gia hùng mạnh.
Nếp sống vĩ đại của Phật giáo, vốn đã sinh hoạt mạnh mẽ ở Việt nam, qua từng thời kỳ, và rất tế nhị, uyển chuyển để tuỳ duyên tế độ sinh dân. Sang tới triều đại Lý – Trần là thời kỳ Sáng tạo Văn Hóa Độc Lập của quốc gia dân tộc thì Phật giáo công khai dấn thân hoạt động một cách đắc lực hơn bao giờ hết.
Tại Việt Nam, thời thượng cổ, vào giai đoạn thỏa hiệp văn hóa bắt đầu từ Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp, đã có một phong trào chịu ảnh hưởng văn hóa phương bắc, chủ thuyết thần phục Trung Hoa cùng tranh tốn với phong trào cự tuyệt văn hóa “thiên triều”, chủ trương độc lập quốc gia, do các nhà văn hóa thiền sư Việt nam trực tiếp thu nhận từ nguồn văn hóa Đạo Phật dưới thời họ Lý, họ Khúc.
Thời quật khởi kéo dài già nửa thế kỷ (542 – 602) cũng qua đi để nhường cho thời kỳ phản tỉnh sáng tạo. Nhìn tổng quát, ta thấy tư tưởng phương Bắc với ý định tiêu diệt các cơ sở tinh thần Việt Nam, cho nên, sau khi nhà Đông Ngô sụp đổ thì nước ta bị đặt dưới ách đô hộ của nhà Tấn. Nhà Tấn tan rã thì Tống, Tề, Lương thay nhau tuần tự ngự trị đất nước Việt. Nhà Tống vừa bị đổ (479 TL) thì nhà Tề kế vị, và 22 năm sau, nhà Lương hạ nhà Tề, rồi nắm độc quyền thống trị nước Việt. Kể từ khi nhà Tống mất ngôi, nước Trung Hoa rối lọan rất nhiều. Lúc này, vị quan cai trị Giao Châu, là thứ sử Tiêu Tư, lợi dụng tình thế rối ren tại chính quốc liền tung hoành hà hiếp vơ vét của cải người dân thuộc quốc. Đây là cơ hội để người Việt có dịp quật khởi, và cuộc khởi nghĩa của Lý Nam Đế đã diễn ra vào mùa xuân năm 542 (xem mục “Công Cuộc Dựng Nước Tời Tiền Lý”).
[10] Theo PHẠM TIỆP, một văn sĩ kiêm sử gia chính khách Trung Hoa đời Tống, thời đại Nam – Bắc triều thế kỷ thứ V TL, tác giả sách HẬU HÁN THƯ dẫn chứng ở quyển 24, mục Mã Viện Liệt Truyện, do Thượng Hải Trung Hoa Thư Cục, quyển 5, tờ 8b ghi:
“…viện tương lâu thuyền đại tiểu nhị thiên dư sưu, chiến sĩ nhị vạn dư nhân, kích Cửu Chân tặc Trưng Trắc dư đảng Đô Dương đảng, tự Vũ Thiết chí Cự Phong, trảm hoặch ngũ thiên dư nhân; Kiều Nam tức bình. Viện tấu ngôn: Tây Vu huyện, hộ hữu tam vạn nhị thiên, viễn giới khứ Đình thiên dư lý, thỉnh phân vi Phong Khê, Vọng Hải nhị huyện. Hứa chi. Viện sở qua chiếp vi quận huyện, trí thành quách, xuyên cừ quán khái, dĩ lợi kỳ dân, điều tấu Việt luật dư Hán luật hiện thập dư sự; dữ Việt nhân thân minh cực chế, dĩ ước thúc chi; tự hậu, Lạc Việt phụng hành Mã tướng quân cố sự”.
Nghĩa là:
“…viện đem lâu thuyền (thuyền cao hai tầng), lớn nhỏ hơn hai vạn binh sĩ đánh quận Cửu Chân dư đãng của Bà Trưng Trắc là bọn Đô Dương, từ đất Vũ Thiết đến đất Cự Phong, vừa chém, vừa bắt được hơn năm ngàn người; cõi Kiều Nam (tức Lĩnh Nam) đều bình định. Viện tâu lên vua rằng: huyện Tây Vu (thuộc quận Giao Chỉ), có ba vạn hai ngàn nhà, biên giới xa nhất, cách Trung Hoa (huyện Đình) hơn ngàn dặm. Vậy xin chia làm hai huyện Phong Khê và Vọng Hải. Vua Hán y cho lời tâu. Viện đi qua xứ nào, liền đặt ra quận huyện, xây thành quách, đào ngòi tát nước, để làm lợi cho dân. Có điều trần tâu luật của người Việt, so sánh với luật Hán có hơn mười điều. Rồi ban bố rõ phép cũ cho người Việt biết, để bó thúc dân Việt. Từ đó về sau, dân Lạc Việt phải tuân theo phép cũ của Mã Viện”.
Dẫn theo sách Trung Việt Pháp Luật Tỷ Giảo.
[11] HỔ THÍCH VĂN TỔN, tập IV, mục Lăng Già Tông Khảo, tác giả dẫn sách Tục Cao Tăng Truyện, quyển 212, kể sự tích thiền sư ĐÀM THIÊN, đời Tuỳ, có thành lập một Đạo Tràng Thiền Định ở Tây Kinh. Nhà học giả kiêm triết gia Hồ Thích viết về thiền sư Thích Đàm Thiên như sau:
Thiền sư Thích Đàm Thiên, quê ở Thái Nguyên, chuyên nghiên cứu các kinh Hoa Nghiêm, Duy Ma, Lăng Già.. khi gặp nạn nhà Bắc Chu hủy diệt chính pháp, thiền sư đời đến phương Nam học thêm về Duy Thức, Nhiếp Đại Thừa Luận (trong sách không thấy nói là thiền sư đã tham học với vị nào.) và ngài rất tâm đắc “ý chỉ” của hai bộ luận này. Sau thiền sư trở về Bắc, rồi ở hẳn đây mở trường dạy về Nhiếp Đại Thừa Luận, Khởi Tín Luận và Kinh Lăng Già. không bao lâu, thiền sư trở thành một vị đại sư nổi tiếng đương thời. Thiền sư hợp tác cùng vua Văn Đế nhà Tuỳ, khởi sự chấn hưng Phật giáo, xây chùa, dựng tháp ở khắp trong nước…
Thiền sư tịch năm Đại Nghiệp thứ III 9607). Tác phẩm (của thiền sư) còn truyền lại cho đời, có:
– Nhiếp Luận Sớ 10 quyển.
– Lăng Già và Khởi Tín Sớ..
Qua đoạn văn trên: chứng minh lời ngài Thông Biện dẫn chứng Sự tích đại sư Đàm Thiên thuộc đời Tùy là chính xác, chứ không phải đời Tề như tác giả sách PHẬT GIÁO VIỆT NAM Từ Khởi Nguyên Đến Thế Kỷ XIII đã khẳng định: “Đàm Thiên tịch vào khoảng giữa 479 và 483, cuối triều đại nhà Tề” và. là một lời “biện” của Thông Biện? – Bản dịch của Tuệ Sỹ, Ban Tu Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh 1968, xem các trang 49, 52. 2 Nguyên văn bản chữ Hán trong sách Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Lục:
“Án Đàm Thiên pháp sư truyện, Tùy Cao Tổ vị chi pháp dã, Hậu viết: Trẫm niệm Điều Ngự từ bi chi giáo, báo đức vô do. Vị thiểm nhân vương, hoằng hộ Tam bảo, dĩ biến thu di thể xá lợi, nhưng ư quốc nội, lập thụ bảo pháp, phàm tứ thập cửu sở, biểu thế tân lương. Dư nhất bách ngũ thập tự tháp. Ngoại các Giao châu chư xứ kiến lập. Ký tư phúc nhuận, dĩ cập đại thiên. Nhiên bỉ tuy nội thuộc, do hệ cơ mi, nghi tuyển danh đức sa môn vãng bỉ chư xứ hóa độ, linh nhất thiết câu đắc Bồ Đề”.
Pháp sư viết: “Giao Châu nhất phương đạo thông Thiên Trúc, Phật pháp sơ lai Giang Đông vị bỉ; nhi Luy Lâu hựu trùng sáng hưng bảo sát nhị thập dư sở, độ tăng ngũ bách dư nhân, dịch kinh nhất thập ngũ quyền, dĩ kỳ tiên chi cố dã. Vu thời tắc dĩ hữu Tỳ khưu danh: MA HA KỲ VỰC, KHANG TĂNG HỘI, CHI CƯƠNG LƯƠNG, MÂU BÁC chi thuộc tại yên.
Dữ Trung quốc vô dị. Bệ hạ, thị phổ thiên, Từ phụ, dục bình đẳng thí, khả độc khiển sứ tương, dật bỉ hữu nhân yên, bất tu vãng hoá” (Sđd).
[12] Nguyên văn bản chữ Hán trong sách Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Lục:
“Án Đàm Thiên pháp sư truyện, Tùy Cao Tổ vị chi pháp dã, Hậu viết: Trẫm niệm Điều Ngự từ bi chi giáo, báo đức vô do. Vị thiểm nhân vương, hoằng hộ Tam bảo, dĩ biến thu di thể xá lợi, nhưng ư quốc nội, lập thụ bảo pháp, phàm tứ thập cửu sở, biểu thế tân lương. Dư nhất bách ngũ thập tự tháp. Ngoại các Giao châu chư xứ kiến lập. Ký tư phúc nhuận, dĩ cập đại thiên. Nhiên bỉ tuy nội thuộc, do hệ cơ mi, nghi tuyển danh đức sa môn vãng bỉ chư xứ hóa độ, linh nhất thiết câu đắc Bồ Đề”.
Pháp sư viết: “Giao Châu nhất phương đạo thông Thiên Trúc, Phật pháp sơ lai Giang Đông vị bỉ; nhi Luy Lâu hựu trùng sáng hưng bảo sát nhị thập dư sở, độ tăng ngũ bách dư nhân, dịch kinh nhất thập ngũ quyền, dĩ kỳ tiên chi cố dã. Vu thời tắc dĩ hữu Tỳ khưu danh: MA HA KỲ VỰC, KHANG TĂNG HỘI, CHI CƯƠNG LƯƠNG, MÂU BÁC chi thuộc tại yên.
Dữ Trung quốc vô dị. Bệ hạ, thị phổ thiên, Từ phụ, dục bình đẳng thí, khả độc khiển sứ tương, dật bỉ hữu nhân yên, bất tu vãng hoá” (Sđd).
[13] GIẢ ĐẢO, tự Lãng Tiên, trước đi tu làm tăng hiệu là Vô Bản, hay làm thơ, thường gò từng chữ. Một hôm cỡi lừa đi ngoài đường, nghĩ được hai câu thơ: Điều túc trì biên thụ, tăng sao nguyệt hạ môn. Sau muốn đổi chữ sao ra chữ thôi, nhưng còn phân vân chưa biết dùng chữ nào, rồi cứ một tay ra hiệu gõ cửa, một tay ra hiệu đẩy cửa. Gặp quan Kinh triệu doãn là Hàn Dũ đi qua, thấy thế, gọi lại hỏi và bảo nên để chữ sao. Từ đó người ta gọi lối văn gọt dũa từng chữ là lối thôi sao. Ông thi tiến sĩ không đỗ, làm chức Trường giang chủ bạ. (Theo Đường Thi của Lệ thần TRẦN TRỌNG KIM).
[14] Chú thích của dịch giả: Trên con đường về, mưa làm phai lạt mùi hương của chiếc ấn ngài mang theo – áo và ấn đây là tùy thân của tăng sĩ đắc truyền.
[15] Biển vắng không thuyền bè đi lại, làm sao tôi nhận được tin tức của ngài sau này.
[16] Y Vương: Phật được gọi là Y vương, vua của các thầy thuốc, chữa được mọi tâm bệnh. Y vương ở đây có nghĩa là Phật Pháp.
[17] Hổ Khê: Pháp sư Tuệ Viễn ít khi đưa khách qua khỏi khe chảy ngang trước núi. Pháp sư một lần cùng khách đàm luận về Đạo Phật vì vui câu chuyện nên đã đi qua khỏi khe, có một con hổ rống lên vì lấy làm lạ.
[18] Sử chép: “Khi sinh ra ông có hào quang sáng khắp nhà, trên lưng có 3 nốt ruồi, mắt sáng như điện, người xem tướng cho là điềm lạ, bảo rằng ông sau này sẽ làm vua, nhân đấy đặt tên là Quyền. Lớn lên ông làm nha tướng của Dương Đình nghệ, Nghệ gả con gái cho, sai trấn thủ ở Ái Châu. “Vương đã giết giặc trong nước để phục thù cho chúa, giết địch bên ngoài để cứu nạn cho nước, dựng quốc độ, nối lại chính thống, công nghiệp thật là to lớn lắm”.
[19] Năm 965, Ngô Xương Văn đi đánh giặc ở Thái Bình, bị địch thủ bắn chết, cháu là Ngô Xương Xí lên thay, nhưng không ai phục tòng nữa. Thực chất tình trạng lúc ấy đã phân tán, các tướng lĩnh mỗi người chiếm giữ một vùng. Sử gọi là 12 sứ quân:
- Trần Lãm, chiếm giữ Bố Hải Khẩu (Vũ Tiên, Thái Bình).
- Kiều công Hãn, là cháu nội của Kiều Công Tiễn, chiếm giữ Phong Châu (huyện Bạch Hạc).
- Nguyễn Khoan, chiếm giữ Tam Đới (huyện. Vĩnh Lộc).
- Ngô Nhật Khánh, chiếm giữ Đường Lâm (Sơn Tây).
- Lý Khuê, chiếm giữ Siêu Loại (Thuận Thành).
- Nguyễn Thủ Tiệp, chiếm giữ Tiên Du (Bắc Ninh).
- Phạm Bạch Hổ, chiếm giữ Đằng Châu (Hưng Yên).
- Lữ Đường, chiếm giữ Tế Giang (huyện Mỹ Văn).
- Nguyễn Siêu, chiếm giữ Tây Phù Liệt (Thanh Trì, Hà Đông).
- Kiều Thuận, chiếm giữ Hồi Hồ (Cẩm Khê, Sơn Tây).
- Đỗ Cảnh Thạc, chiếm giữ Đỗ Động (huyện Thanh Oai).
- Ngô Xương Xí, con trai Ngô Xương Ngập, rút về cố thủ Nông Cống (Thanh Hoá).
[20] Đinh Tiên Hoàng làm vua được 12 năm. Về sau chính vua và con cả là Nam Việt Vương Đinh Liễn bị cận thần Đỗ Thích giết, rồi sau Đỗ Thích cũng bị bắt và giết đi. Sấm truyền có câu:
“Đỗ Thích giết hai Đinh,
Nhà Lê hiện thánh minh.
Tranh nhau, nhiều kẻ chết,
Đường sá, người vắng tanh”.
(Đỗ Thích thí Đinh Đinh,
Lê gia xuất thánh minh.
Cạnh đầu đa hoạch tử,
Đại lộ tuyệt nhân hành).
Đinh Tuệ, sáu tuổi, lên ngôi vua. Mọi việc triều chính đều do Thập đạo tướng quân Lê Hoàn cùng với Dương thái hậu đảm nhiệm. Các đại thần trung thành với triều vua trước của dòng họ Đinh, như các ông Nguyễn Bặc, Đinh Điền định thanh toán Lê Hoàn nhưng ngược lại bị lê Hoàn phát giác và giết chết. Giữa lúc tình hình trong nước rối loạn; bên ngoài nhà Tống sai Hầu Nhân Bảo đem quân sang định đánh lấy nước ta. Đứng trước tình thế khó xử ấy, Lê Hoàn lại được Thái hậu tư thông, âm mưu với nhau, họp cùng với Phạm Cự Lượng và quân sĩ, tôn Lê Hoàn lên làm vua để đối phó với quân ngoại xâm; bảo toàn nền độc lập tự chủ của quốc gia Đại Cồ Việt. Lê Hoàn (tức Đại Hành hoàng đế) trị vì 24 năm thì mất. Người con cả là Ngân Tích, không được tôn lập, trái lại, người con thứ ba là Long Việt được vua cha ưu ái giao cho quyền bính cai trị muôn dân. Mấy người con của Lê Hoàn tranh nhau ngôi báu, nổi loạn, người thì chết, kẻ còn sống sót. Long Việt chính thức lên ngôi chưa được ba ngày thì Long Đĩnh sai người giết rôì kế vị. Ta cần nên nhớ điều này: khi Long Việt bị hạ sát thì các quan đều hoảng hốt chạy trốn hết, ngoại trừ Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn là người rất trung và rất can đảm còn ở lại trong triều.
Dưới thời Lê Ngọa Triều, người ta phát giác ở châu Cổ Pháp (quê hương Lý Công Uẩn) có cây đa bị sét đánh, ở ruột cây có những hàng chữ:
“Thụ căn diểu diểu
Mộc biểu thanh thanh
Hòn đao mộc lạc
Thập bát tử thành
Chấn cung hiện nhật
Đoàn cung ẩn tinh
Lục thất niên gian,
Thiên hạ thái bình”.
(Gốc cây sâu thăm thẳm,
Ngọn cây cao xanh xanh.
Cây “hòa đao” rụng xuống
Mười tám hạt hình thành
Hướng đông mặt trời mọc,
Phía tây sao náu hình
Trong khoảng sáu bảy năm
Thiên hạ sẽ thái bình).
Đây là một trong những bài thơ “Sấm” xuất hiện vào thời cuối Lê đầu Lý. Lời giải thích của Ngài Vạn Hạnh đoán rằng: “Câu thụ căn diểu diểu thì căn là gốc, diểu là yếu đồng âm nên đọc là yểu (tức là non yểu). Câu mộc biểu thanh thanh thì biểu là ngọn; ngọn là bề tôi. Chữ thanh đồng âm với chữ thanh nên viết là thanh, tức là thịnh. Hòa đao mộc là chữ Lê, Thập bát tử là chữ Lý (.) câu chấn cung hiện nhật, thì Chấn là phương Đông, hiện là hiện ra, nhật cũng giống như thiên tử. Câu Đoài cung ẩn tinh, thì Đoài là phương Tây, ẩn cũng như lặn, tinh như thứ nhân. Mấy câu đó ý nói vua thì non yểu, tôi thì cường thịnh, họ Lê mất thì họ Lý nổi lên, thiên tử ở phương Đông mọc ra thì thứ nhân ở phương Tây lặn mất. Trải qua 6, 7 năm thì thiên hạ thái bình. = Theo trong ĐVSKTT, nguyên văn chữ Hán; Tăng Vạn Hạnh tư tự bình viết:
Thụ căn diểu diểu, căn giả bản dã; diểu yểu âm đồng; diểu đương tác yếu. Mộc biểu thanh thanh, biểu giả mạt dã. Mạt do thần dã; thanh thanh tương cận; thanh đương tác thanh, thịnh dã. Hòa đao mộc: Lê tự, thập bát tử: Lý tự ( §õ ) Chấn cung hiện nhật giả, chấn, đông phương dã; ẩn do một dã; tinh do thứ nhân dã. Thử ngôn quân yểu thần thịnh; Lê lạc Lý thành; đông phương xuất thiên tử, tây phương một thứ nhân. Kinh lục thất niên gian nhi thiên hạ thái bình hĩ.
Dẫn theo sách ĐVSKTT tập IV, phần chữ Hán, tr. 106 – NXB Khoa Học Xã Hội.
Trong dân gian có ghi câu chuyện: “Ở chùa Thiên Tâm, châu Cổ Pháp, có con chó đẻ ra con chó trắng, lưng có lông đen, nổi lên hai chữ ‘thiên tử’, người ta đồn rằng người sinh tuổi tuất sẽ được đại quý. Quả nhiên vua Lý tức Lý Công Uẩn đẻ vào năm Giáp Tuất, niên hiệu Thái Bình thứ 5”. Chép theo Việt Sử Tiêu Án – Và trong Thiền Uyển Tập Anh có ghi lại bài thơ:
Tật Lê trầm Bắc thủy,
Lý tử thụ Nam Thiên.
Tứ phương can qua tĩnh,
Bát biểu hạ hành yên.
(Gốc Lê(1) chìm bể Bắc,
Chồi Lý (2) mọc trời Nam
Bốn phương tan giáo mác,
Tám cõi được bình an).
Bản dịch của Đoàn Thăng – TVLT, tập I.
Qua bài thơ sấm trên cho ta thấy đây là điểm báo trước nhà Lý sẽ lên thay thế nhà Tiền Lê đã hết thời!. Hơn nữa, Long Đỉnh ông vua cuối cùng dòng họ Lê lại rất bạc nhược về cả tinh thần lẫn vật chất: Long Đỉnh là một con sâu rượu, suốt ngày say sưa, cộng thêm sự hoang dâm vô độ. Về thể chất thì Long Đĩnh gần như tê liệt toàn thân, đến nỗi phải có cận thần khiêng ra long sàng để vua cứ nằm bàn bạc việc nước với các quan (do đó có tên Lê Ngọa Triều); về tinh thần thì Long Đĩnh ở ngay giữa buổi chầu, đông đủ văn võ bách quan, lại cho một thằng hề đứng bên cạnh để pha trò, nhạo các đình thần. Đã vậy lại còn chế ra rất nhiều kiểu hành tội các phạm nhân cực kỳ dã man: những người bị đưa ra hành hình thường bị Long Đĩnh, sai lấy cỏ gianh quấn vào người rồi đốt cho chết, hoặc cho nhốt tội nhân trong chiếc cũi rồi đem thả xuống sông cho nước cuốn trôi ra biển, hoặc bắt người bị tội trèo lên cây cao rồi cho chặt gốc hoặc đánh bằng gậy, hoặc cho rắn cắn chết. Long Đĩnh còn thích chọc tiết bò, lợn, có lần sai lính bắt nhà sư Quách Ngang (vì ông dấy loạn chống lại triều đình) đến chầu, hạ lệnh ngồi xuống, rồi tự tay lấy mía róc lên đầu nhà sư, song chốc lát lại giả vờ lỡ tay bổ dao. làm cho máu chảy xối xả để mình cười một cách khoái trá! Đấy là chỉ mới kể có yếu tố nhân sự có tính cách tranh chấp nội bộ cũng như dùng hình luật để TRẤN ÁP. làm cho dân khiếp sợ!. chứ chưa nói đến bất cứ thời nào và lúc nào, cả hai phương Bắc lẫn phương Nam, luôn luôn có nạn ngoại xâm rình rập để thừa dịp tràn vào chiếm đất đai. Nạn ngoại xâm đeo dọa và nạn giết vua đoạt quyền, ở ngay trong nước, là hai ác mộng chính của thời ấy. Nếu kể cả những điều phụ nữa thì rất nhiều, nhưng đại khái thì hầu như chẳng bao giờ Việt Nam thoát được cảnh trộm cướp thành đảng của người phương Bắc lẫn người bản xứ trên miền thượng du Bắc Việt, hoặc tại miền Hoa Nam, và ngay ở cả trong các khu rừng núi rậm rạp, hiểm trở nội địa nữa.
Với sự vừa kể, hẳn không thể chối cãi điều này: Lê Long Đĩnh, ông vua cuối cùng, rất quái dị của dòng họ Lê, tất phải bị thay thế, không do người này thì ắt phải do người khác. Đó là lẽ dĩ nhiên phải xảy ra.
[21] “Khi sứ nhà Tống là Lý Giác sang nước Việt, trong nước không có ai là nho học lỗi lạc, nên vua phải nhờ hai vị Pháp Thuận và Khuông Việt ra tiếp sứ, hai vị cùng Tống sứ làm thơ xướng họa, Tống sứ cũng phải phục tài. Vậy thì dù chữ Hán truyền vào Việt Nam đã từ lâu, nhưng trong mười thế kỷ Bắc thuộc cho đến ba triều độc lập Ngô, Đinh, Tiền Lê, Nho học chưa đào tạo được một nhân tài bác học nào; người giỏi lại xuất hiện ở Thiền môn”.
Trích Việt Nam Văn Học Sử Trích Yếu của Nghiêm Toản.
