Nam quốc sơn hà

Bài thơ mà hiện nay chúng ta quen gọi là “bài thơ NAM QUỐC SƠN HÀ” và đại đa số mặc nhiên cho là của Tướng quân Lý Thường Kiệt vốn nguyên gốc không có tên. Tên gọi Nam Quốc Sơn Hà là do người đời sau lấy từ bốn chữ đầu trong câu thơ đầu tiên (Nam quốc sơn hà Nam đế cư) của bài thơ này đặt ra. Theo năm tháng, bài thơ từ chỗ gắn liền với một thời đại (Lý -Trần), một nhân vật lịch sử (Lý Thường Kiệt), đã trở thành bài thơ cho mọi thời đại, mang tính chất sử thi, và được người đời sau xem là có giá trị như bản “Tuyên ngôn Độc Lập” đầu tiên của nước Việt, bởi bài thơ chỉ có 4 câu mà tiêu biểu cho tinh thần độc lập, kết tinh được hào khí thời đại, khí phách anh hùng, và truyền tải cảm xúc khát vọng của muôn trái tim dân tộc Việt trong buổi bình minh xây dựng một quốc gia độc lập.

Thư tịch đầu tiên có chép bài thơ này là sách ‘Việt Điện U Linh Tập’, tuy nhiên bản chép Nam Quốc Sơn Hà trong ‘Việt Điện U Linh Tập’ không phải là bản được lưu truyền nhiều nhất, phổ biến nhất, mà bản Nam Quốc Sơn Hà ghi trong ‘Đại Việt Sử Ký Toàn Thư’ mới là bản được biết đến nhiều nhất, được phổ cập trong quần chúng nhất. ‘Đại Việt Sử Ký Toàn Thư’ cũng là bộ chính sử đầu tiên có ghi chép bài thơ này.

Bản ghi trong ‘Đại Việt Sử Ký Toàn Thư’ bằng chữ Hán như sau:

南 國 山 河 南 帝 居
截 然 定 分 在 天 書
如 何 逆 虜 來 侵 犯
汝 等 行 看 取 敗 虛

Nguyên văn các bản phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ (Hán – Nôm, Hán – Việt) có khá nhiều bản dịch và dị bản (đã có ít nhất trên 30 dị bản sách và 8 dị bản thần tích được chép trong các tập sử và sách). Dưới đây là vài bản phiên âm và bản Việt dịch được trích dẫn nhiều nhất:

PHIÊN ÂM:

1.
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

2.
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

3.
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư
Như hà Bắc lỗ lai xâm phạm
Bạch nhận thiên thành phá trúc dư.

DỊCH NGHĨA:

1.
Sông núi nước Nam đã có vua nước Nam ở,
Tại sổ trời đã ghi địa phận rõ ràng.
Sao bọn giặc kia lại xâm phạm?
Chúng bay sẽ thấy bị thua to!

2.
Sông núi nước Nam, Nam đế quản trị,
Hiển nhiên đã định phận tại thiên thư.
Cớ sao bọn giặc ngỗ ngược đến xâm phạm?
Mà chúng bay xem ra lại chịu bại ư!

3.
Sông núi nước Nam vua nước Nam ở,
Phân vị rạch ròi đã ghi trong sách trời.
Cớ sao lũ giặc bạo ngược đến xâm phạm?
Chúng bây rồi xem, sẽ chuốc lấy thất bại tan tành!

4.
Núi sông nước Nam thì vua Nam ở,
Cương giới đã ghi rành rành ở trong sách trời.
Cớ sao lũ giặc bạo ngược kia dám tới xâm phạm?
Chúng bay hãy chờ xem, thế nào cũng chuốc lấy bại vong!

DỊCH THƠ:

1.
Sông núi nước Nam vua Nam ở,
Rành rành định phận tại sách trời,
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
(Trần Trọng Kim – Hoàng Xuân Hãn).

2.
Núi sông Nam Việt vua Nam ở,
Vằng vặc sách trời chia xứ sở.
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây?
Chúng mày nhất định phải tan vỡ.
(Lê Thước và Nam Trân).

3.
Sông núi nước Nam vua Nam ở,
Sách trời định phận đã rõ ràng.
Cớ sao giặc dữ dám xâm phạm?
Chờ đấy loài bây sẽ nát tan.
(Nguyễn Tri Tài).

4.
Nước Nam Việt có vua Nam Việt,
Trên sách trời chia biệt rành rành.
Cớ sao giặc dám hoành hành?
Rồi đây bay sẽ tan tành cho coi.
(Nguyễn Đổng Chi).

Về nguồn gốc xuất xứ bài thơ hiện có 2 xu hướng, và xu hướng nào cũng có những sử liệu chứng minh cho lập luận của giả thuyết:

Giả thuyết thứ nhất: Bài thơ ra đời gắn với truyền thuyết Thần đọc thơ ngầm giúp Lý Thường Kiệt trong trận đánh giặc Tống trên sông Như Nguyệt vào năm Bính Thìn (1076), niên hiệu Thái Ninh thứ 5. Truyền thuyết ấy tóm tắt như sau:

“Nam Tấn Vương (Ngô Xương Văn, con thứ hai của Ngô Quyền, trị vì cùng với anh trai là Ngô Xương Ngập. Sử gọi chung đây là thời Hậu Ngô Vương) đánh giặc Lý Huy ở Long Châu, đóng quân ở cửa sông Phù Lan, nằm mộng thấy thần nhân. Thần nhân đến trước vua bái lạy và thưa rằng họ là hai anh em – anh là Trương Hống, em là Trương Hát – tướng của Triệu Việt Vương. Khi Triệu Việt Vương bị Lý Nam Đế cướp ngôi, Nam đế cho vời ra làm quan nhưng hai anh em không theo, ẩn vào núi Phù Long. Nam đế thuê người lùng bắt, hai anh em uống thuốc độc chết. Thượng đế cho hai người làm Thuỷ thần, nay xin được giúp vua phá giặc. Sau đó quả nhiên giặc tan.

Sau khi Long Châu được dẹp yên, Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn cho lập đền thờ và phong cho hai Thần làm Phúc thần một phương. Một là Đại Đương Giang Đô Hộ Quốc Thần Vương, đền thờ ở cửa sông Như Nguyệt. Một là Tiểu Đương Giang Đô Hộ Quốc Thần Vương, đền thờ ở cửa sông Nam Bình.

Thời vua Lý Nhân Tông (1072-1127) quân Tống sang xâm lấn. Vua sai Lý Thường Kiệt lập trại ở ven sông Như Nguyệt để chống giữ. Một đêm Thần hiện lên đọc bài thơ:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên phận định tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Quả nhiên quân Tống bị thua, phải rút hết về nước.”

Truyền thuyết này được văn bản hoá sớm nhất ở sách ‘Việt Điện U Linh Tập’. Ngoài ra còn được ghi lại trong bộ sử lớn ‘Đại Việt Sử Ký Toàn Thư’ và các bộ ‘Việt Sử Tiêu Án’, ‘Việt Sử Tiệp Kính’; và trong các bộ sách khác như ‘Đại Nam Nhất Thống Chí’, ‘Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí’, ‘Đại Việt Sử Ký Tiền Biên’… Mặt khác, truyền thuyết này cũng sớm được chép lại trong ‘Lĩnh Nam Chích Quái’ (với nội dung truyền thuyết khác), trong các tập sử như ‘Việt Sử Quốc Âm’, ‘Việt Sử Diễn Âm’, ‘Thiên Nam Ngữ Lục’ và các sưu tập truyện cổ dân gian khác như ‘Thiên Nam Vân Lục Liệt Truyện’, ‘Mã Lân Dật Sử’…

Khẳng định bài thơ này là của Lý Thường Kiệt, có thể kể một vài bộ sách khảo cứu, tổng hợp tiêu biểu của người đời sau như: ‘Việt Nam Sử Lược’ của Trần Trọng Kim, ‘Lý Thường Kiệt’ của Hoàng Xuân Hãn, ‘Việt Nam Cổ Văn Học Sử’ của Nguyễn Đổng Chi, ‘Việt Nam Văn Học Sử Yếu’ của Dương Quảng Hàm, ‘Tổng Tập Văn Học Việt Nam’ của Văn Tân, ‘Lịch Sử Văn Học Việt Nam’ của Đinh Gia Khánh,… và một số bộ tổng tập lớn như ‘Hợp Tuyển Thơ Văn Việt Nam’, ‘Thơ Văn Lý-Trần’, ‘Tổng Tập Văn Học Việt Nam’ v.v…, và không ít giả thuyết trong số đó ghi rằng: “Lý Thường Kiệt đã viết bài thơ này và đang đêm cho người núp vào đền thờ Trương Hống, Trương Hát ở phía nam bờ sông Như Nguyệt, giả làm Thần đọc vang bài thơ để khích lệ tướng sĩ và uy hiếp tinh thần quân giặc”.

Giả thuyết thứ hai: Bài thơ ra đời gắn với truyền thuyết Thần đọc thơ ngầm giúp Lê Đại Hành trong công cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất, năm Tân Tỵ (981), niên hiệu Thiên Phúc thứ 2. Truyền thuyết ấy tóm tắt như sau:

“Năm Tân Tỵ, niên hiệu Thiên Phúc triều Lê, Tống Thái Tông sai tướng quân Nhân Bảo, Tôn Toàn đem binh xâm lược phương Nam đến cửa biển Đại Than. Vua Lê Đại Hành cùng Tướng quân Phạm Cự Lượng dựng luỹ cầm cự với giặc ở sông Đồ Lỗ. Lê Đại Hành đêm canh ba nằm mộng thấy thần nhân tới bái lạy trên sông thưa rằng: ‘Hai anh em thần, một người là Trương Hống, một người là Trương Hát, trước theo vua Ngô dẹp nghịch tặc bình định được thiên hạ, đến đời hậu chúa Ngô Nam Tấn thì mất nước. Họ Đinh nghe tiếng anh em thần bèn triệu về, bọn thần vì nghĩa không theo bèn uống rượu độc mà chết. Thượng đế thương tình ban tên cho là Thần Bộ Quan, thống lĩnh tướng các âm binh. Nay giặc Tống sang xâm phạm bờ cõi, xin được cùng hoàng đế đánh giặc Bắc Tống để cứu sinh dân’. Vua tỉnh dậy, lập tức thắp hương khấn vái xin được thần nhân trợ giúp, sau đó giết súc vật, đốt vàng mã làm lễ cúng tế. Đêm ấy, vua Lê Đại Hành lại mộng thấy thần nhân thống lĩnh âm binh tiến đánh giặc. Canh ba, đêm tháng mười, trời đất tối đen, mưa to gió lớn đùng đùng, quân Tống kinh hoàng, tháo chạy tán loạn, thần nhân ẩn mình trên không trung lớn tiếng ngâm bài thơ:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư,
Như hà Bắc lỗ lai xâm phạm,
Hội kiến thịnh trần tận tảo trừ.

(Núi sông nước Nam vua Nam ở,
Trời xanh đã định trong sách trời,
Cớ sao giặc Bắc sang xâm phạm,
Sẽ gặp cuồng phong đánh tơi bời).

Quân Tống nghe bài thơ đó đánh giết lẫn nhau rồi mạnh ai nấy chạy tháo thân, đại bại mà về nước. Vua phong thưởng tướng sĩ rồi truy phong công lao hai Thần. Một là Khước Địch Đại Vương, lập đền ở ngã ba sông Long Nhãn. Một là Uy Linh Đại Vương, lập đền ở ven sông Như Nguyệt”.

Truyền thuyết này dựa theo sách ‘Lĩnh Nam Chích Quái’ và cho rằng truyền thuyết Trương Hống, Trương Hát với tiêu đề truyện là Long Nhãn Như Nguyệt Nhị Thần Truyện (Truyện hai vị thần Long Nhãn và Như Nguyệt) và bài thơ ra đời gắn với vua Lê Đại Hành trong cuộc kháng chiến chống quân Tống của quân dân nước Việt vào cuối thế kỷ X – năm Tân Tỵ (981), niên hiệu Thiên Phúc. Lập luận theo xu hướng này thì bài thơ trên là vô danh, đồng thời cho rằng “truyền thuyết của bài thơ không thể xuất hiện muộn hơn năm ra đời sách ‘Việt Điện U Linh Tập (1329)”; và phỏng đoán “truyền thuyết có thể xuất hiện từ thời Ngô và sau đó là thời Đinh – Lê, tức đầu thời tự chủ”. Còn về việc “phong Thần”, có dị bản chép:

a) Về Trương Hống, Trương Hát: “Thượng đế thương họ vô tội cho làm Than Hà Long Quân Phó Sứ, tuần hai sông Vũ Bình và Lạng Giang đến tận trên nguồn, hiệu là Thần Giang Phó Đô Sứ”.

b) Về việc phong Phúc thần và lập đền thờ sau chiến thắng, có bản chép: “Sau khi thắng giặc, vua Lê Đại Hành truy phong cho hai vị thần nhân, một là Tinh Mẫn Đại Vương lập miếu thờ tại ngã ba sông Long Nhãn, hai là Khước Mẫn Đại Vương lập miếu ở ngã ba sông Như Nguyệt”; lại có bản chép: “Vua ban chiếu phong anh là Đại Đương Giang Đô Hộ Quốc Thần Vương, lập đền ở cửa sông Như Nguyệt, còn em là Tiểu Đương Giang Đô Hộ Quốc Thần Vương, lập đền ở cửa sông Nam Bình”.

Tuy có những dị biệt như vậy, nhưng cả 2 truyền thuyết đều có những điểm tương đồng:

1) Thần báo mộng: gắn với nhân vật lịch sử và sự kiện lịch sử.

2) Hành trạng của Thần: đều là bậc trung thần, có công giúp nước và đều tuẫn tiết vì trung nghĩa.

3) Công trạng của Thần: sau khi mất, hiển linh giúp vua chống giặc, cứu dân.

4) Tri ân Thần: sau khi được phù trợ và chiến thắng, được vua truy phong, lập đền thờ tưởng niệm.

Do những tương đồng và dị biệt như vậy nên hiện có thêm một xu hướng thứ ba (dung hợp cả 2 truyền thuyết trên) là bài thơ Nam Quốc Sơn Hà vốn dĩ xuất hiện trong thời vua Lê Đại Hành đánh Tống lần thứ nhất năm Tân Tỵ (981), và về sau đã được Lý Thường Kiệt vận dụng để thắng giặc trong trận đánh giặc Tống trên sông Như Nguyệt vào năm Bính Thìn (1076).

QUANG MAI
Suu tầm – tổng hợp.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.