Quy Chế Huynh Trưởng GĐPTVN tu chỉnh qua các kỳ Đại Hội

Quy Chế Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử Việt Nam được thiết lập và biểu quyết thông qua lần đầu tiên bởi Ðại Hội Huynh Trưởng GÐPTVN toàn quốc lần thứ III, tổ chức từ ngày 30 tháng 7 đến ngày 1 tháng 8 năm 1955, PL. 2499 tại chùa Linh Sơn, Đà Lạt.

Từ khi được ban hành sau Đại Hội ấy đến nay đã có 3 lần tu chỉnh (chính thức) qua Đại Hội các nhiệm kỳ sau:

– Lần tu chỉnh thứ nhất: Ðại Hội lần thứ V, tổ chức từ ngày 28 đến ngày 30 tháng 6 năm 1964, PL. 2508 tại trường Trung Học Gia Long, thủ đô Sài Gòn.

– Lần tu chỉnh thứ hai: Ðại Hội lần thứ VI, tổ chức từ ngày 29 tháng 7 đến ngày 1 tháng 8 năm 1967, PL. 2511 tại Trung Tâm Văn Hóa Phật Giáo (Văn phòng Tổng Vụ Thanh Niên, số 294 đường Công Lý), thủ đô Sài Gòn.

– Lần tu chỉnh thứ ba: Ðại Hội lần thứ VIII, tổ chức từ ngày 29 đến ngày 31 tháng 7 năm 1973, PL. 2517 tại chùa Tỉnh Giáo Hội Phật Giáo Đà Nẵng (chùa Pháp Lâm).

* Chú thích thêm: Cũng đã có một lần tu chỉnh nhỏ trong Đại Hội lần thứ IV, tổ chức từ ngày 26 đến ngày 28 tháng 12 năm 1961, PL. 2505 tại chùa Xá Lợi, thủ đô Sài Gòn nhưng sau đó do ảnh hưởng Pháp Nạn 1963 nên chưa công bố, in ấn và phát hành bản Quy Chế với những tu chỉnh này nên được xem như đó là lần tu chỉnh không chính thức.

Những thay đổi chính yếu qua các lần tu chỉnh

1) Năm 1955, Đại Hội Huynh Trưởng toàn quốc lần thứ III biểu quyết thông qua bản Quy Chế Huynh Trưởng đầu tiên được thiết lập; ấn định 3 phần chính:

  • Các cấp Huynh Trưởng.
  • Kỷ luật Huynh Trưởng.
  • Trách vụ Huynh Trưởng.

2) Năm 1964, Đại Hội Huynh Trưởng toàn quốc lần thứ V đã tu chỉnh dựa vào các nguyên tắc và nhận định rằng:

  • Bản Quy Chế cũ có quá nhiều chi tiết nên không thể áp dụng trên thực tế.
  • Quy Chế Huynh Trưởng mới nên giản dị hóa để áp dụng trong giai đoạn hiện thời.

Quy Chế Huynh Trưởng được tu chỉnh trong Đại Hội năm 1964 khá hoàn thiện, đã hệ thống hóa nguyên tắc cũng như sinh hoạt của Huynh Trưởng và đặt thời gian “chuyển tiếp”, “điều chỉnh” tình trạng tu học, huấn luyện, cấp bậc và xét, xếp cấp cho hàng ngũ Huynh Trưởng hiện hữu.

3) Năm 1967, Đại Hội Huynh Trưởng toàn quốc lần thứ VI biểu quyết thay đổi các điểm sau đây trong bản Quy Chế tu chỉnh lần này:

  • Loại bỏ hẳn phần “thời gian chuyển tiếp” vì đã được thực hiện hoàn tất và kết thúc.
  • Thêm vào các điều khoản về Cựu Huynh Trưởng và Tương tế Huynh Trưởng. Tuy nhiên hai phần này chưa được chính thức ghi vào bản Quy Chế hiện hành vì đang trong giai đoạn áp dụng thí nghiệm, thu thập hiệu quả và kinh nghiệm thực tế để thi hành.

4) Năm 1973, Đại Hội Huynh Trưởng toàn quốc lần thứ VIII tại Đà Nẵng một lần nữa đã tu chỉnh toàn phần nội dung Quy Chế Huynh Trưởng. Trong kỳ tu chỉnh này nhiều điều khoản được ấn định, bổ chính và sắp xếp lại một cách cụ thể và khoa học hơn:

  • Cụ thể hóa chương trình tu học trường kỳ Huynh Trưởng các cấp.
  • Thống nhất chương trình huấn luyện Huynh Trưởng các cấp.
  • Bổ sung mục Giao tế Tương trợ vào Quy Chế Huynh Trưởng.

Căn cứ vào những quy định tu chính lần này, kể từ ngày 1-1-1974 (trở về sau) Ðoàn viên GÐPT được “gia nhập” vào hàng Huynh Trưởng đều phải đã trúng cách Trại huấn luyện Huynh Trưởng Lộc Uyển và đã làm lễ phát nguyện Huynh Trưởng.

Cũng từ thời điểm tu chỉnh có hiệu lực, xác định thành phần được tuyển chọn (bao gồm nhiều điều kiện) để đào tạo thành Huynh Trưởng chính thức; xóa bỏ quan điểm đã trúng cách các chương trình tu học, huấn luyện đào tạo Đoàn trưởng, Đoàn phó thực thụ thì “đương nhiên” là Huynh Trưởng chính thức.

Toàn văn bản Quy Chế Huynh Trưởng sau lần tu chỉnh này (được ấn ký phổ biến ngày 20 tháng 2 năm 1974), gồm có Chương mở đầu và 4 chương (tổng cộng 5 chương), 18 mục, 63 điều. Nội dung các điều khoản nhằm vào các mục tiêu như đã được minh thị trong phần kết Chương Mở Đầu; tóm lược cụ thể như sau:

– Chương Mở Đầu – Minh định sứ mệnh của Huynh Trưởng GĐPTVN.

– Chương thứ Nhất – Nhằm mục đích thăng tiến Tổ chức (có 5 mục, 16 điều):

  • Mục 1: Quy định về cấp bậc trong GĐPTVN (định danh cấp bậc và tiêu chí xếp cấp).
  • Mục 2: Thể thức gia nhập hàng Huynh Trưởng; điều kiện và thể thức xếp cấp Tập.
  • Mục 3: Điều kiện và thể thức xếp cấp Tín.
  • Mục 4: Điều kiện và thể thức xếp cấp Tấn.
  • Mục 5: Điều kiện và thể thức xếp cấp Dũng.

– Chương thứ Hai – Để san định bổn phận, quyền hạn và trách nhiệm của Huynh Trưởng (có 4 mục, 8 điều):

  • Mục 6: Nhiệm vụ, bổn phận, quyền hạn và quyền lợi Huynh Trưởng cấp Tập.
  • Mục 7: Nhiệm vụ, bổn phận, quyền hạn và quyền lợi Huynh Trưởng cấp Tín.
  • Mục 8: Nhiệm vụ, bổn phận, quyền hạn và quyền lợi Huynh Trưởng cấp Tấn.
  • Mục 9: Nhiệm vụ, bổn phận, quyền hạn và quyền lợi Huynh Trưởng cấp Dũng.

– Chương thứ Ba – Nhằm thống nhất tư tưởng, ý chí và hành động của Huynh Trưởng (có 5 mục, 26 điều):

  • Mục 10: Ấn định danh hiệu và phân cấp tổ chức các Trạị huấn luyện Huynh Trưởng.
  • Mục 11: Điều kiện Trại sinh; hình thức, nội dung trại và điều kiện trúng cách trại Lộc Uyển.
  • Mục 12: Điều kiện Trại sinh; hình thức, nội dung trại và điều kiện trúng cách trại A Dục.
  • Mục 13: Điều kiện Trại sinh; hình thức, nội dung trại và điều kiện trúng cách trại Huyền Trang.
  • Mục 14: Điều kiện Trại sinh; hình thức, nội dung trại và điều kiện trúng cách trại Vạn Hạnh.

– Chương thứ Tư – Để liên kết Huynh Trưởng lại thành một khối thống nhất (có 4 mục, 13 điều):

  • Mục 15: Định danh, xác lập chức trách và phần hành Ủy Ban Quản Trị Huynh Trưởng.
  • Mục 16: Thành phần, tổ chức, điều hành và nhiệm kỳ Ủy Ban Quản Trị Huynh Trưởng Trung Ương.
  • Mục 17: Thành phần, tổ chức, điều hành và nhiệm kỳ Ủy Ban Quản Trị Huynh Trưởng cấp tỉnh.
  • Mục 18: Ấn định mục đích, quyền hạn và các biện pháp xử lý của Hội Đồng Kỷ Luật Huynh Trưởng.

Thay lời kết

Nếu tinh ý một chút, chúng ta sẽ nhận định rõ một điểm rất đặc biệt của Quy Chế Huynh Trưởng GĐPTVN (kể từ khi thiết lập đến nay) là: Huynh Trưởng GĐPTVN có quyền lợi (về tu học, thăng tiến cấp bậc) và có thể sẽ bị áp dụng biện pháp xử lý kỷ luật nếu có sai phạm (điều 62, 63, mục XVIII), nhưng trong Quy Chế tuyệt nhiên không hề có điều mục nào ấn định về “khen thưởng” cho Huynh Trưởng. Điều này cho thấy rằng Huynh Trưởng GĐPT là những người phát tâm tự nguyện đến với Tổ chức để thực hiện mục đích ‘đào luyện thanh thiếu đồng niên’ và ‘góp phần xây dựng xã hội’ của GĐPT đề ra, chứ không nhằm mục tiêu để thăng tiến cấp bậc hay chức vụ, hoặc thụ hưởng những quyền lợi tinh thần hay vật chất [không tưởng] từ cấp bậc, chức vụ hay những đặc quyền, đặc lợi nào đó trong GĐPT.

Quy Chế Huynh Trưởng GĐPTVN được thiết lập và ban hành năm 1955, tu chỉnh lần sau cùng năm 1973 là văn kiện hiện hành làm căn cứ pháp quy áp dụng cho hàng Huynh Trưởng trong GĐPTVN cho đến hiện nay.

Kể từ sau Đại Hội 1973, liên tiếp những diễn biến chiến sự khốc liệt và các biến động quân sự, chính trị, xã hội năm 1975, nên cũng như Nội Quy GĐPTVN, văn kiện Quy Chế Huynh Trưởng  GĐPTVN cho đến nay chưa có thêm lần tu chỉnh chính thức nào tiếp theo. Những thay đổi nếu có, với lập luận là “văn bản dưới luật”, nếu chưa được biểu quyết thông qua trong một Đại Hội Huynh Trưởng GĐPTVN toàn quốc “chính danh”, hoặc không được ban hành bởi một văn bản điều chỉnh của cấp trung ương Ban Hướng Dẫn GĐPT “chính danh” có quyền hạn thay đổi, tu chỉnh – như đã được ghi trong các điều khoản của chính những văn kiện ấy – nên được coi như là những thay đổi phi nguyên tắc và phi truyền thống nhất thời mà thôi./.

oOo

Quảng Mẫn NGUYỄN QUANG MAI

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.