TVGĐPT – Bài “Vấn đề Nghi lễ Phật giáo Việt Nam” dưới đây do Thượng Tọa Thích Mật Nguyện (1911-1972) – nguyên là Ủy viên Nghi Lễ của Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam viết, đã đăng trong Nguyệt san Phật Giáo Việt Nam số Kỷ yếu Đại Hội Phật Giáo Toàn Quốc kỳ III (1959) do Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam xuất bản và ấn hành.
Hiện nay đọc lại bài này của Thầy, có thể nói chúng ta hình dung được nội dung bản văn thực sự như là một đề án về Nghi lễ Phật giáo Việt Nam tại giai đoạn bấy giờ của phần hành mà Thầy đang đảm nhiệm. Xin nhớ, chữ “nghi lễ” Thầy dùng ở đây không chỉ là nghi thức lễ lượt, khoa nghi kinh kệ cần thống nhất hay cải cách để thống nhất, mà còn bao hàm cả hình thức pháp phục, trang phục của Tăng Ni tu sĩ trong Tổng Hội.
Đáng nể hơn, vào thời điểm (1959) ấy, mà Thầy đã có những đề nghị rất khoa học và tiến bộ: Thành lập tại mỗi phần[1] (miền) một Ban Nghiên Cứu Nghi Lễ để “sưu tầm, kê cứu, ghi chép vào giấy, vào đĩa hát, vào phim, vào tranh ảnh những gì thuộc về nghi lễ Phật giáo trong quá khứ và hiện tại” nhằm “phổ biến, trao đổi lẫn nhau những tài liệu kinh nghiệm đã thu thập được” cho “những ai không có phương tiện đi xa”, và “những tài liệu về nghi lễ sưu tầm được nhưng không áp dụng” cho sự thống nhất nghi lễ vào thời điểm ấy “sẽ ghi và lưu lại ở Viện bảo tàng Văn hóa Phật giáo” […] Ngoài ra, việc đề nghị tổ chức một “đại hội toàn quốc về nghi lễ” để thảo luận, và “mở những lớp huấn luyện tại trung ương và các địa điểm xét ra cần thiết” để thúc đẩy tiến trình thống nhất nghi lễ “được thực hiện đúng đắn và mau chóng”, quả thật cũng là một tầm nhìn vượt thời gian đáng để cho chúng ta hiện nay thán phục.
Vì những lẽ ấy Thư Viện GĐPT xin ‘ôn cố tri tân’, đăng tải lại toàn văn bài viết này và giữ nguyên vẹn văn cách, văn phạm, chính tả của thời điểm lúc bấy giờ, hầu giúp độc giả ngược dòng thời gian trở về một giai đoạn Phật giáo Việt Nam thuần túy và đoàn kết; một thời kỳ Phật giáo Việt Nam khai phóng, sáng tạo, sẵn sàng tiếp nhận nền văn minh để phát triển nhưng không hướng ngoại, mất gốc, luôn trân trọng gìn giữ, bảo tồn những giá trị tinh thần truyền thống của mọi Tông môn, Hệ phái trong ngôi nhà chung Phật giáo…
VẤN ĐỀ NGHI LỄ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Mặc dù đạo Phật xuất phát từ Ấn-độ, nhưng Phật giáo Việt Nam không trực tiếp chịu ảnh hưởng của Phật giáo Ấn-độ, mà lại hoàn toàn chịu ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa. Nhất là về phương diện nghi lễ, từ việc làm chùa xây tháp, sự thờ phụng, hành lễ, cho đến quy củ tùng lâm, cách phục sức của tăng, ni, v.v… Phật giáo nước ta đều theo Phật giáo Trung Hoa.
Tuy theo Trung Hoa, nhưng trong ba phần[1] Việt Nam, mỗi nơi đều có những điểm sai biệt, như:
– Về thường phục: Bắc Việt, tăng ni thường mặc áo dài toàn màu nâu sồng; Trung Việt, áo tràng, áo nhật bình có cổ ướm, thân áo vừa, không dài như ở Bắc; Nam Việt, áo tràng ngắn ngang gối, áo nhật bình ngắn, không có ướm.
– Về lễ phục: Bắc Việt dùng pháp phục toàn màu nâu; Trung và Nam Việt dùng y vàng, áo tràng mực, áo hậu (áo lễ) màu vàng hay may kiểu lát chả nhiều sắc, mang giày Trung Hoa; ở Trung, tăng, ni khi vào điện lễ Phật, buộc túm phía dưới ống quần; còn ở Nam và Bắc thì không buộc.
– Về khoa nghi hành lễ: Cách tụng, tán, xướng, kệ, đến thọ giới, an cư v.v… mỗi nơi đều không giống nhau.
Tình trạng sai khác ấy, trong quá khứ đã gây nhiều dư luận cho người trong và ngoài nước. Tuy đồng một đạo, mà uống nước chia nguồn, nghi lễ đại khái khác nhau hết thảy.
May thay, mùa thu năm 1952, ba giáo hội Trung, Nam, Bắc đã họp Giáo hội Tăng-già Toàn quốc Hà Nội để cùng nhau thực hiện việc thống nhất nghi lễ. Từ ấy đến nay, việc thờ tự trong các chùa tuy chưa triệt để cải cách, nhưng cũng đã chỉnh đốn được phần nào. Nghi lễ Phật giáo hiện thời ở Bắc, vì bị đứt liên lạc, chúng tôi không biết rõ như thế nào. Còn ở Trung và Nam thì đã chỉnh đốn nhiều. Nhưng ở Trung cũng như ở Nam, có lối hành lễ quá đơn giản là tụng và nói pháp ngữ trong suốt buổi lễ. Nếu trong Phật giáo chúng ta bỏ những điệu tán tụng, cách nhịp thì cũng là một việc đáng tiếc lớn.
– Về phục sức của tăng, ni, hiện nay thi hành cũng chưa triệt để. Theo quy chế, thì thường phục của tăng là màu nâu, của ni là màu lam, nhưng một số quý vị tăng vẫn còn mặc màu lam, và các ni vẫn còn mặc nâu.
– Về lễ phục đối với giai đoạn trước, thì hiện nay được khả quan hơn: dùng toàn áo tràng lam; tuy thế y vải vàng đa số chưa giống nhau. Khi hành đại lễ, thì lễ phục trọng thể cũng chưa được duy nhất.
Tóm lại, nghi lễ của Phật giáo ba miền, mặc dù đã được phần nào sửa đổi cho giống nhau, nhưng thật ra cũng chưa hoàn toàn thống nhất từ đại cương đến chi tiết. Ba giáo hội còn phải cố gắng nhiều hơn nữa, mới thực hiện được như ý muốn.
Sự cố gắng trong vấn đề này là một điều bắt buộc, không ai có thể viện lý do gì để thối thác được. Đối với mọi tôn giáo, nghi lễ là một vấn đề quan trọng, từ bề sâu đến bề rộng. Nghi lễ là một lối hành pháp về sự tướng, làm cho phần đông tín đồ dễ phát đạo tâm hơn là sự diễn giảng.
Cũng như các tôn giáo khác, xét trong lịch sử hoằng pháp của Phật giáo, chúng ta thấy rằng: Trừ những phương tiện hoằng pháp bằng cách giảng dạy, phần đông dân chúng đã nhờ chùa, nhờ tháp, nhờ tiếng tụng tán thiền vị v.v… mà phát khởi và duy trì đạo tâm của họ. Và Phật giáo còn tồn tại giữa thế gian này, một phần nhờ giáo tướng ấy.
Cho nên Tổng hội Phật giáo Việt Nam, và nhất là Giáo hội Tăng-già Toàn quốc, phải đặt trọng tâm cải tiến vào vấn đề này. Mặc dù đây là một vấn đề sự tướng, hình thức, nhưng cần phải có một tinh thần thống nhất chặt chẽ như thế nào mới có thể phát lộ ra ngoài hình thức giống nhau được.
Chúng tôi công nhận rằng vấn đề nghi lễ rất phức tạp và khó mà thực hiện có kết quả trong một thời gian ngắn, vì nó gặp những trở ngại về tâm lý địa phương, tập quán, nếp sống, giọng nói, khiếu thẩm mỹ v.v.. Nhưng công nhận như thế không phải là để thối lui, đầu hàng trở lực, nhưng đừng chủ quan, khinh suất và đặt vấn đề một cách giản dị, nông nổi.
Vấn đề nghi lễ, không chỉ là một vấn đề thống nhất sự tướng, mà còn là một vấn đề cải cách nghi lễ cho thích hợp với chân tinh thần Phật giáo, dân tộc tính, tâm lý của từng hạng tín đồ, khiếu thẩm mỹ của thời đại mới, thích hợp với ý nghĩa của từng buổi lễ, từng hoàn cảnh, từng sinh hoạt. Do đó, chúng ta không hy vọng rằng nghi lễ của Phật giáo toàn quốc nhất nhất phải giống nhau, nhưng ít ra trong những điểm chính phải được duy nhất như về lễ văn, thờ tự, lễ nhạc, lễ phục, thường phục, các lễ vía v.v…
Để thực hiện sự thống nhất các điểm chính trên, chúng tôi đề nghị tiếp tục thi hành kế hoạch mà vị ủy viên nghi lễ của Tổng hội trong nhiệm kỳ vừa qua, Thượng tọa Tâm Châu, đã vạch ra, nhưng chưa thực hiện được:
1. Thành lập ở mỗi phần[1] một ban nghiên cứu nghi lễ để sưu tầm, kê cứu, ghi chép vào giấy, vào đĩa hát, vào phim, vào tranh ảnh, những gì thuộc về nghi lễ Phật giáo, trong quá khứ và hiện tại.
2. Phổ biến, trao đổi lẫn nhau những tài liệu kinh nghiệm đã thu thập được để những ai không có phương tiện đi xa sẽ nhận chân được cái hay, cái đẹp, cái dở của từng nơi, hầu dễ dàng cho sự thống nhất nghi lễ về sau.
3. Họp đại hội toàn quốc về nghi lễ để bàn cãi tham chước và quyết định một nghi lễ duy nhất.
4. Khi đã có nghi lễ duy nhất do Tổng hội ấn định các tập đoàn nhất luật phải tuân theo thực hành.
5. Khi đã có quyết định duy nhất rồi, cần mở những lớp huấn luyện tại Trung ương và các địa điểm xét ra cần thiết, để sự thống nhất nghi lễ được thực hiện đúng đắn và mau chóng.
6. Những tài liệu về nghi lễ sưu tầm được, nhưng không áp dụng cho sự duy nhất này, sẽ ghi và lưu lại ở Viện bảo tàng Văn hóa Phật giáo.
Muốn thực hiện những điểm trên, tất nhiên phải có tài chánh, và nhất là thiện chí và từ bỏ tâm lý địa phương./.
THÍCH MẬT NGUYỆN
Uỷ viên Nghi lễ
oOo
[1] “Phần” tức là miền, theo cách gọi lúc bấy giờ: Bắc Phần, Trung Phần, Nam Phần… (Thư Viện GĐPT chú thích thêm).
Nguồn: Trích nguyệt san Phật Giáo Việt Nam – Số kỷ yếu Đại Hội Phật Giáo toàn quốc kỳ III (năm 1959), Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam ấn hành.