Pháp thoại của 5 Đại Tăng xứ Huế

Đúng một giờ trôi qua, đồng hồ đánh hai tiếng, bốn Ngài cùng đứng dậy, cúi đầu chào nhau ra khỏi phòng khách. Pháp thoại của năm Đại Tăng chấm dứt! Phải chăng các Ngài đang sử dụng pháp thoại Vô Ngôn Bất Động theo Công Án Thiền giữa nhà vua và Thiền Sư Nhật Bổn ghi trong tập Thiền Luận của Ông Daisetz Teitaro Suzuki…

43 Công án Trần Thái Tông

Là vị vua đầu của triều Trần, đồng thời là đệ tử của Thiền Sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ông vừa làm vua, vừa thực tập thiền và cũng từng thực tập Thiền Công Án. Trong bài là 43 công án vua đưa ra để cùng thực tập với Tăng thân của vua, cả giới xuất gia và tại gia. Thầy Thích Nhất Hạnh đã dịch những công án này ra tiếng Việt và tiếng Pháp năm 1968…

Kinh Ngũ Bách Danh Quán Thế Âm (Quảng Minh dịch Việt & chú giải)

Kính nghe, đấng Viên Thông Giáo Chủ, vẻ từ ái trăng rằm, hầu Di Đà miền Cực Lạc hương quê, giúp Thích Ca cõi Ta Bà kham nhẫn, trú ở núi lưu ly châu báu, ngồi tòa sen ngàn cánh hồng tươi. Quá khứ Chánh Pháp Minh Vương, hiện tiền Quán Âm Tự Tại, ba mươi hai thân ứng hóa, rộng độ quần sinh, bảy tai nạn hai mong cầu, nhiều phương ứng vật…

Hạnh nguyện Bồ Tát Quán Thế Âm

Quán Thế Âm! Đấng mẹ hiền trên tất cả mẹ hiền, trên tất cả thánh nhân được tôn xưng là mẹ hiền. Quán Thế Âm! Danh hiệu của tình thương bao la không bờ bến, bao la rộng khắp cõi hư không. Quán Thế Âm! Gắn liền với tim óc của nhân loại, của muôn loài chúng sanh…

Kinh Tạp A-hàm (Hán tạng – Bắc truyền) – Tập 3

KINH TẠP A-HÀM, Phạn ngữ là Samyuktàgama, Pàli ngữ là Samyutta-Nikàya, do Ngài Cầu-na Bạt-đà-la dịch sang Hoa ngữ (Hán ngữ) vào đời Lưu Tống; được xếp vào Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (tập 2). Nội dung Kinh Tạp A-hàm tương đương với Tương Ưng Bộ, bản Pàli, thuộc hệ Nam truyền…

Kinh Tạp A-hàm (Hán tạng – Bắc truyền) – Tập 2

KINH TẠP A-HÀM, Phạn ngữ là Samyuktàgama, Pàli ngữ là Samyutta-Nikàya, do Ngài Cầu-na Bạt-đà-la dịch sang Hoa ngữ (Hán ngữ) vào đời Lưu Tống; được xếp vào Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (tập 2). Nội dung Kinh Tạp A-hàm tương đương với Tương Ưng Bộ, bản Pàli, thuộc hệ Nam truyền…

Kinh Tạp A-hàm (Hán tạng – Bắc truyền) – Tập 1

KINH TẠP A-HÀM, Phạn ngữ là Samyuktàgama, Pàli ngữ là Samyutta-Nikàya, do Ngài Cầu-na Bạt-đà-la dịch sang Hoa ngữ (tiếng Trung Quốc) vào đời Lưu Tống; được xếp vào Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (tập 2). Nội dung Kinh Tạp A-hàm tương đương với Tương Ưng Bộ, bản Pàli, thuộc hệ Nam truyền…

Tiểu dẫn và mục lục các kinh Tạp A-hàm

Trong bài này là bản “Tiểu dẫn” của Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ chú giải cho bộ KINH TẠP A-HÀM do Hòa Thượng Thích Đức Thắng dịch Việt – Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ hiệu đính và chú thích – mà Ban Biên Tập chúng tôi đang đăng tải trên Thư Viện GĐPT tại chuyên mục Tạp A Hàm…

Giới thiệu Kinh Tạp A-Hàm – Thích Nguyên Chứng

Tạp A-hàm (Skt. Samyukta-āgama), truyền thống của phần lớn các học phái sơ kỳ Phật Giáo, ngoại trừ Hữu Bộ, liệt kê là bộ thứ ba trong bốn A-hàm, tương đương với Samtutta thuộc bộ thứ trong năm bộ Nikāya (Pāli), được biên tập trong đại hội kết tập lần thứ nhất…

Kinh Tăng Nhất A-hàm (Hán tạng – Bắc truyền)

Kinh TĂNG NHẤT A-HÀM, tiếng Phạn là Ekttarikàgama, tiếng Pàli là Anguttara-Nikàya, do Ngài Cù-đàm-tăng-già Đề-bà dịch vào đời Đông Tấn (317-419), Trung Quốc, được xếp vào Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh tập 2…