Tiểu sử Tổ Huệ Quang

 

TIỂU SỬ

TỔ HUỆ QUANG
(1888-1956)

Pháp Chủ Giáo Hội Tăng Già Nam Việt
Phó Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam

oOo

Thiền Sư Huệ Quang húy Thiện Hải, thế danh Nguyễn Văn Ân, sinh năm 1888 tại quận Ô Môn, tỉnh Cần Thơ. Sau đó Ngài theo thân mẫu về sống tại Trà Vinh. Năm 19 tuổi Ngài xuất gia tại chùa Long Thành ở quận Trà Cú và theo học với Thiền Sư Thiện Trí. Gần Thiền Sư Thiện Trí, ngoài kiến thức Phật học, Ngài còn được trao truyền kiến thức y học Đông Phương nữa. Tên Thiện Hải là do Thiền Sư Thiện Trí đặt cho Ngài.

Một hôm đi ngang Tiểu Cần, thấy một ngôi chùa đổ nát, Ngài bèn phát tâm trùng tu lại. Dân chúng ở Tiểu Cần thấy thế sinh lòng kính mến, bèn mời Ngài về làm trụ trì ngôi chùa Long Hòa này và hết sức ủng hộ Ngài trong công việc trùng tu. Chùa Long Hòa trở thành một đạo tràng thanh tịnh.

Năm 1919, Ngài đắc pháp với Thiền Sư Từ Vân, được ban pháp hiệu là Huệ Quang.

Do Ngài đọc tân thư Trung Hoa và báo chí, được biết phong trào Chấn Hưng  Phật Giáo các nước đang trổi lên mạnh. Ở Trung Hoa, Thái Hư Đại Sư xây dựng Phật Học Viện, xuất bản Hải Triều Âm. Bên Nhật, Tommatsu tiên sinh cùng các nhà nghiên cứu Phật học phát huy nền văn học Phật Giáo, chủ trương biên tập lại Đại Tạng Kinh. Ở Thái Lan, Phật Giáo được xem là quốc giáo làm nền tảng đức dục cho quốc dân. Ở Miên, một viện khảo cứu Phật Giáo được thành lập v.v… Ngài bèn hợp tác với Thiền Sư Khánh Hòa và Thiền Sư Khánh Anh để xúc tiến việc chấn hưng Phật Giáo nước nhà.

Trước sắc thái mới của nền Phật Giáo thế giới phục hưng, Hòa Thượng Huệ Quang đã rất tích cực cùng các Hòa Thượng khác ở Nam Kỳ trong việc thành lập Hội Lục Hòa năm 1923, ý muốn mở Phật Học Viện và Thư Xã. Trú sở của Hội được đặt tại chùa Long Hòa do Ngài trụ trì. Hội Lục Hòa là viên đá đầu tiên của nền Phật Giáo chấn hưng tại Nam Kỳ.

Năm 1928, cùng với các Hòa Thượng Khánh Hòa, Khánh Anh, Pháp Hải, Liên Trì, các Thượng Tọa Từ Nhân, Chơn Huệ, Thiện Niệm… Ngài cổ động tạo lập Thư Xã. Tháng 8 năm 1929, các đàn việt thiện tín Trà Vinh chung sức hiến cúng bộ Đại Tạng toàn bản gồm có 750 quyển lớn, chưng bày trong Thư Xã để làm tài liệu căn bản cho việc nghiên cứu.

Năm 1931, Ngài cùng Hòa Thượng Khánh Hòa và các vị cao tăng khác hợp sức với một số cư sĩ hữu tâm, thành lập Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học, đặt trụ sở tại chùa Linh Sơn, đường Douaumont Sài Gòn (nay là đường Cô Giang). Hội đã xuất bản tạp chí Từ Bi Âm làm phương tiện truyền bá giáo lý Phật-đà.

Năm 1934, Ngài bàn với các Hòa Thượng Khánh Hòa, Chánh Tâm, Viên Giác về Trà Vinh lập Liên Đoàn Phật Học Xã để đào tạo Tăng tài, làm nền tảng cho việc trùng hưng Phật Pháp sau này. Học Tăng gia nhập Liên Đoàn tuần tự tu học từng tam cá nguyệt tại các chùa Long Hòa (Trà Vinh), Thiên Phước (Trà Ôn) và Viên Giác (Bến Tre). Về sau thấy sự di chuyển bất tiện, các Hòa Thượng quyết định lập trường Phật học tại Trà Vinh.

Tháng 8 năm 1934, Hội Lưỡng Xuyên Phật Học chính thức được thành lập. Chánh Hội Trưởng là ông Huỳnh Thái Cửu, Hòa Thượng Khánh Hòa là Pháp Sư. Ngài lúc này đã 46 tuổi, làm Giảng Sư kiêm Tổng Lý của Phật Học Đường Lưỡng Xuyên (thành lập năm 1934).

Trong những lần thuyết pháp giảng dạy, Ngài đã vạch rõ sự cần thiết phải thành lập Giáo Hội, xuất bản tạp chí, và kiến tạo Phật Học Đường, Ngài đã tiên liệu và lo lắng rất nhiều cho tương lai của nền Phật Giáo thống nhất.

Lưỡng Xuyên Phật Học Đường đã làm được sứ mạng tuyên dương chánh pháp và đào tạo Tăng tài một cách vẻ vang. Vừa làm chủ nhiệm tờ báo, Ngài vừa hợp lực với các Ngài Khánh Hòa, Pháp Hải, Khánh Anh trong việc quản trị và giáo dục của Phật Học Đường.

Tháng 7 năm 1935, nguyệt san của Hội là tạp chí Duy Tâm được phép xuất bản do Ngài làm chủ nhiệm.

Từ năm 1937, Ngài đã rất chú trọng đến vấn đề thống nhất Phật Giáo Việt Nam. Viết trong tạp chí Duy Tâm số 25 ra ngày 1-10-1937 Ngài đề nghị các tạp chí Phật học trong xứ thương lượng với nhau để định ngày họp Đại Hội Lâm Thời của các Hội Phật Giáo trong nước để đi đến việc thống nhất. Ngài đề nghị Đại Hội này được tổ chức tại miền Trung, và trước ngày đại hội, các Hội phải họp Đại Hội Đồng riêng từng Hội để công cử đại biểu. Ngài lại đề nghị Đại Hội Phật Giáo Toàn Quốc vạch ra chương trình hoạt động thống nhất va bầu ra sáu ban chuyên môn để làm Phật sự; đó là các Ban: Kiểm Duyệt, Đạo Sư Giáo Dục, Luật Sư, Giảng Sư, Hộ Pháp và Thanh Tra. Tờ Duy Tâm đề cập tới vấn đề “thống nhất” gần như mỗi số phát hành.

Năm 1945, chiến tranh xảy ra, Lưỡng Xuyên Phật Học Hội và Lưỡng Xuyên Phật Học Đường phải ngưng hoạt động. Đại chúng ly tán, quân đội Pháp chiếm đóng cơ sở Hội Phật Học. Ngài lui về chùa Linh Sơn ở Tiểu Cần tĩnh tu.

Năm 1948, Ngài đứng ra làm chủ tịch Ủy Ban Phật Giáo Cứu Quốc tỉnh Trà Vinh.

Năm 1951, từ hậu phương Ngài trở về tham dự Phật sự của Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, và cũng trong năm này, Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập. Đại hội tổ chức tại Huế. Bản Tuyên Ngôn thành lập Tổng Hội được chuyển đi khắp nơi.

Theo sự thỉnh cầu của Giáo Hội Tăng Già Việt Nam, ngày 8-3-1953 Ngài được suy tôn làm Pháp Chủ Giáo Hội Tăng Già Nam Việt. (Tập thể Tăng-già Việt Nam đã được thống nhất từ khi Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc được thành lập năm 1951 tại Hà Nội và Thượng Thủ đầu tiên của Giáo Hội là Thiền Sư Tuệ Tạng. Thượng Thủ Tuệ Tạng viên tịch vào năm 1959 tại Hà Nội, năm năm sau khi đất nước bị qua phân. Năm 1959, Đại Hội Tăng Già Toàn Quốc lần thứ hai họp tại chùa Ấn Quang đã suy tôn Thiền Sư Khánh Anh làm Thượng Thủ).

Năm 1954, mười ngày sau khi hiệp định Genève được ký kết, một phong trào đấu tranh đòi hỏi hòa bình và thống nhất đất nước ra đời ở Sài Gòn – Chợ Lớn do những nhân sĩ yêu nước Bắc-Nam khởi xướng. Ngài với cương vị Pháp Chủ Giáo Hội Tăng Già Nam Việt cùng đông đảo các nhà trí thức Phật Tử tích cực vận động Tăng Ni và Tín Đồ hưởng ứng phong trào này nên Ngài đã bị câu lưu tại “bót” Catinat, sau đó được đưa về quản thúc tại chùa Phật Quang ở Chợ Lớn.

Năm 1956, trong Đại Hội Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam lần thứ 2 tại Sài Gòn, Ngài được suy cử Phó Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam và tập san Phật Giáo Việt Nam của Tổng Hội được xuất bản vào tháng 8 dương lịch năm này đã mời Ngài làm chủ nhiệm.

Ngày 10-11-1956, Ngài lãnh đạo phái đoàn Phật Giáo Việt Nam đi dự hội nghị lần thứ tư của Hội Thế Giới Phật Giáo Liên Hữu (World Fellowship of Buddhists) tổ chức tại Népal (từ ngày 15 đến ngày 21 tháng Mười ÂL). Cùng đi với Ngài có Thiền Sư Tịnh Khiết và Cư Sỹ Trần Thanh Hiệp. Tại Calcuta, phái đoàn được Thiền Sư Minh Châu lúc ấy đang du học tại Nalanda, tiếp đón đưa đi thăm Hội Mahabodhi Society và các Phật tích trong vùng. Ngày 13-11-1956, phái đoàn đi Kathmandu, có Thiền Sư Minh Châu tháp tùng. Tại Đại Hội Thế Giới Phật Giáo Liên Hữu, Thiền Sư Huệ Quang đã trình bày bản tham luận “Vai trò đạo Phật trong xã hội loài người”.

Thật bất ngờ! Ngay sau những sự kiện quốc tế đầy vinh dự đó, chùa Ấn Quang nhận được một điện tín do Thiền Sư Tịnh Khiết gửi về báo tin Thiền Sư Huệ Quang đã viên tịch lúc 18 giờ 15 phút ngày 2-12-1956 (nhằm ngày 1 tháng 11 năm Bính Thân) tại bệnh viện Willingdom ở New Dehli, Tăng Ni, Phật Tử thủ đô Sài Gòn hết sức bàng hoàng khi nghe hung tin đó! Thì ra sau lễ Buddha Jayanti, Ngài đã lâm bệnh và được chở vào bệnh viện. Một gân máu đã đứt và các bác sĩ bệnh viện ở Willingdom đã không thể làm gì hơn được.

Thiền Sư Huệ Quang hưởng thọ 68 tuổi đời với 37 năm hoằng hóa. Nhục thân Ngài được an táng tại chùa A Dục Vương tại New Dehli; lễ an táng được tổ chức ngày 3-12-1956. Phái đoàn Phật Giáo Việt Nam trở về Sài Gòn ngày 10-12-1956 nhưng đã thiếu mất một vị Cao Tăng đạo hạnh vào bậc nhất. Linh vị Ngài được cung nghinh về nước. Từ phi trường Tân Sơn Nhất – Sài Gòn, linh vị được rước về chùa Ấn Quang, trụ sở của Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam để thập phương Tăng Ni, Tín Đồ đảnh lễ tưởng niệm. Số Tăng Ni, Phật Tử đi cung nghinh linh vị, trong đó có các phái đoàn từ các tỉnh về, đông đảo đến nỗi chật cả các đại lộ Lý Thái Tổ, Minh Mạng và đường Sư Vạn Hạnh – Sài Gòn.

Năm 1964, một phái đoàn Việt Nam tham dự Đại Hội Thế Giới Phật Giáo Liên Hữu lần thứ 7 tại Ấn Độ đã đến chùa A Dục Vương làm lễ hỏa thiêu nhục thể Thiền Sư Huệ Quang và rước xá-lợi về chùa Long Hòa, nơi mà ngày xưa Ngài đã trụ trì và hành đạo.

Thiền Sư Huệ Quang viên tịch khi tạp chí Phật Giáo Việt Nam mới ra đời được 3 số. Sau khi Ngài viên tịch, vị chủ bút của Phật Giáo Việt Nam là Thiền Sư Nhất Hạnh đã kiêm nhiệm trách vụ chủ nhiệm của tạp chí./.

Di ảnh linh vi và tượng Tổ Huệ Quang thờ tại chùa Long Hòa
ở ấp Hòa Trinh, xã Hùng Hòa, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.
(Hình chụp trong lễ Húy Kỵ lần thứ 63, năm Mậu Tuất – 2018)

 

Nguồn gốc tài liệu: VIỆT NAM PHẬT GIÁO SỬ LUẬN
(Thư Viện GĐPT tu chính, bổ sung)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.