
GIÁO DỤC HIẾU THẢO VỚI MẸ CHA
(Kinh Nuôi Dưỡng Mẹ)
Nguyên Siêu
Tinh thần giáo dục hiếu thảo là một công hạnh thiết thực cao thượng. Có Cha có Mẹ mới có ta. Nếu không Cha không Mẹ thì làm gì có thân ta ngày hôm nay để mà góp mặt với đời, có được quyền cao tước cả, địa vị phú quý vinh hoa. Có được thân này mới có được phương tiện để tu tập và chứng đắc Thánh quả. Đây chính là con đường giáo dục hướng thượng, ngõ hầu con người nỗ lực tiếp cận để vun bồi thiện tâm làm con có hiếu có thảo với Mẹ Cha ngàn đời yêu quý. Chúng ta nghe Phật dạy:
“Phụng dưỡng Cha và Mẹ
Là công đức tối thượng.”
Hay là:
“Tâm hiếu là tâm Phật
Hạnh hiếu là hạnh Phật.”
Chúng ta có phụng dưỡng tức là có chăm sóc miếng cơm, ly nước, chiếc áo, chiếc khăn. Khi Cha Mẹ cần giúp đỡ thì người con phải vui vẻ xin làm một cách hoan hỷ, làm một cách tự nguyện chân thành mà không phải khó khăn câu nệ. Biểu tỏ tấm lòng, thương Mẹ thương Cha, dù phải sớm hôm cận kề, thăm Cha viếng Mẹ. Có được vậy mới đúng như lời Phật dạy: “Phụng dưỡng Cha Mẹ có công đức tối thượng”. Từ đây chúng ta rút ra bài học làm người một cách thực tế là chứng tỏ trong các việc làm, lời nói và tư duy luôn đứng trên tinh thần hiếu thảo để làm cho Cha Mẹ vui. Mà Cha Mẹ vui là con có phước. Làm Cha Mẹ buồn là con mất phước, tổn đức, sẽ bị lầm lũi trong cuộc đời. Người bất hiếu với Cha Mẹ là người nghèo khổ, bần cùng, không được xã hội kính trọng, và từ đó sẽ mất tất cả. Sự yêu thương quý mến của bạn bè làng nước. Do vậy, sự hiếu thảo vô cùng quan trọng đối với người con. Hiếu thảo là một bông hoa đẹp, là rặng núi xanh, là cánh lúa vàng, là làn hơi ấm… nuôi lớn đời con trong tình tự giống nòi. Vậy thì, sao ta lại không có hiếu thảo với Mẹ Cha được. Ai được khôn lớn, có chút suy tư, có chút hiểu biết thì đều tỏ ra mình là người biết thương Cha kính Mẹ một cách tự nhiên như trời có nắng, như đêm có trăng, như biển có sóng, như núi có mây, như ngày có vui, người người chung sống. Hiếu thảo là tính giáo dục toàn diện, toàn cầu, toàn nhân loại. Hễ là con người là phải có hiếu thảo, không phân biệt Đông – Tây, kim – cổ. Xưa nay phải là như vậy. Đông – Tây là phải vậy. Có hiếu thảo như lời Phật dạy: “Hiếu là sự giàu có. Hiếu là mặt trời giữa trưa. Như đêm trăng trong sáng. Như áng mây trời huyền diệu kỳ vĩ dệt thành hình tượng siêu nhiên. Hiếu là một tâm hồn thánh thiện, có nhiều tình thương và ân sủng.”
Đích thực là vậy, tâm hiếu thảo với Mẹ Cha là tâm của Chư Phật. Cái tâm đó hiển bày trong tiền thân Phật là con chim hiếu – chim Oanh Vũ – đã nuôi Mẹ Cha già yếu, mù lòa một cách siêng năng, cần mẫn. Hình ảnh con chim hiếu là hình ảnh cho ta một bài học làm người; là bổn phận làm con cháu luôn thương Mẹ kính Cha, tưởng nhớ ân đức sinh thành của Tổ tiên, dòng tộc. Đó chính là nền văn hóa dân tộc: ‘Uống nước nhớ nguồn’. ‘Ăn trái nhớ kẻ trồng cây’. ‘Chim có tổ người có tông’. Tâm Phật là như vậy. Hạnh Hiếu là thuyết pháp hóa độ mẫu thân. Là kê vai khiêng quan tài của Cha đến nơi trà tỳ. Cái tâm Phật, cái hạnh Phật có ai bàn đến không, mà tự ngàn xưa, bài học đó còn vang vọng, mãi cho đến hôm nay, đã quyện vào nền văn hóa dân gian, con người trên thế giới, lấy đó làm hương vị sống để nuôi lớn tinh thần đạo đức hiếu thảo.
Tâm Phật là tâm Từ Bi. Hạnh Phật là hạnh Từ Bi, luôn thể hiện việc làm ban vui cứu khổ. Ban vui cho Cha Mẹ. Cứu khổ cho Cha Mẹ mà chúng ta đã thấy trong kinh, đã nghe những bài thuyết giảng của Chư tôn đức. Vậy trong kinh thấy gì? Chúng ta hãy đọc ‘Kinh Nuôi Dưỡng Mẹ’ trong Nikaya – Pali Tạng.
“Nhân duyên ở Savatthi. Rồi Bà-la-môn Mataposaka đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời chào đón, hỏi thăm, rồi ngồi xuống một bên, và nói với Thế Tôn:
Thưa Tôn Giả Gotama, con tìm món ăn thiết thực theo thường pháp. Sau khi tìm món ăn thiết thực theo thường pháp con nuôi dưỡng Mẹ Cha. Thưa Tôn Giả Gotama, con làm như vậy, con có làm đúng trách nhiệm không?”
Tâm tư của người con có hiếu, biết tìm món ăn thiết thực đúng pháp để hiến dâng cho Cha Mẹ là một việc làm đúng, việc làm đáng kính trọng, việc làm trong ý thức hiếu thảo của người con. Trong đời sống hôm nay, tất cả ai ai đều làm được như vậy. Làm được bằng cách sớm viếng, tối thăm ân cần thưa hỏi Cha Mẹ. Dâng miếng ăn vật lạ để cúng dường. Đây là tinh thần hiếu thảo mà Đức Thế Tôn khuyến thỉnh các hàng đệ tử hãy phụng hành. Biểu tượng của sự phụng hành cho thấy Tôn giả Đại Mục Kiền Liên được tôn xưng là Đại Hiếu.
Đại Hiếu Mục Kiền Liên đã dâng bát cơm cho Mẹ ở thế giới của loài quỷ đói. Đại Hiếu Mục Kiền Liên đã kiền thỉnh Đức Thế Tôn rõ bày phương pháp cứu Mẹ trong dịp Đại lễ Vu Lan – Mùa báo hiếu trong truyền thống Phật giáo Việt Nam – mà ngày nay đã trở thành một đại lễ ăn sâu vào nền văn hóa dân tộc Việt Nam.
Trước khi thị tịch, Tôn giả Xá Lợi Phất đã về nhà Mẹ của mình để hóa độ Mẹ. Bằng mọi cách dẫn dụ, thuyết pháp, thị hiện bằng mọi phương tiện để cho Mẹ được giác ngộ. Thật vậy, Mẹ của Tôn giả Xá Lợi Phất đã đắc quả Thánh ngay trong đêm đó, trước khi Tôn giả Xá Lợi Phất nhập Niết-bàn A La Hán.
Cách trả hiếu của các bậc Thánh là vậy đó, hướng dẫn Mẹ mình sớm quay về nẻo thiện, phát khởi hạnh lành, tu nhân tích đức để được giác ngộ giải thoát ngay trong đời này mà không chờ đợi đến kiếp lâu xa nào khác. Các bậc Thánh trả hiếu cho Mẹ Cha được vậy, chứng tỏ rằng các Ngài đã thẩm thấu được công ơn trời biển Mẹ Cha vô vàn. Cho nên mỗi khi nghe Đức Thế Tôn nói về hiếu thảo đối với Cha Mẹ, thì các Ngài phải quyết chí đền đáp ân nghĩa sinh thành của hai đấng song thân. Vì các Ngài quán thấy Cha Mẹ chịu cực khổ với con, mang nặng đẻ đau. Bú mớm mà lớn. Ẵm bồng mà khôn. Do vậy mà các Ngài không thể không đền đáp ơn sâu, nghĩa dày của Cha Mẹ.
Con đường giáo dục hiếu thảo là con đường giáo dục con người, vì hiếu thảo là một cái Đạo. Cái đạo làm người. Cái đạo nuôi dưỡng dòng máu tổ tông; truyền thừa giòng giống con cháu. Cái đạo đích thực của nền văn hóa nhân bản.
“Sau khi nghe Bà-la-môn Mataposaka hỏi như trên, Đức Thế Tôn trả lời:
Này Bà La Môn, người làm như vậy, có làm đúng trách nhiệm. Này Bà La Môn, ai tìm đồ ăn thiết thực theo thường pháp. Sau khi tìm đồ ăn thiết thực theo thường pháp, lại nuôi dưỡng Mẹ Cha, người ấy được nhiều công đức.”
Lời Đức Thế Tôn khen ngợi, ai làm được như vậy, là người có được nhiều công đức. Khi chúng ta nghe và hiểu để làm là một nhân duyên lớn đối với đời mình, còn hầu như phần lớn thì quá ít. Quá ít để có hiếu thảo với Mẹ Cha.
“Ra đi bỏ Mẹ ở nhà
Gối nghiêng ai sửa kỷ trà ai dâng.”
Còn có chút lòng nghĩ tưởng là may mắn lắm rồi:
“Đêm đêm khấn vái Phật Trời
Cầu cho Cha Mẹ sống đời với con.”
Lời kệ, Đức Thế Tôn dạy:
“Người nào theo thường pháp
Nuôi dưỡng Mẹ và Cha
Chính do công hạnh này
Đối với Cha và Mẹ
Nhờ vậy, bậc Hiền Thánh
Trong đời này tán thán
Sau khi chết được sinh
Hưởng an lạc chư Thiên.”
Con đường giáo dục ở nơi đây chúng ta thấy rõ, ai có lòng nuôi dưỡng Mẹ Cha đúng như pháp thì được các bậc Hiền Thánh trong đời tán thán, ngợi khen lòng hiếu thảo, rồi sau khi chết còn được sinh Thiên để hưởng phước lạc.
“Khi được nghe nói như vậy, Bà La Môn Maaposaka bạch Thế Tôn:
Vi diệu thay Tôn Giả Gotama. Thật vi diệu thay Tôn Giả Gotama. Tôn Giả Gotama như người dựng đứng lại những gì bị ngã đổ; phơi bày ra những gì bị che kín; chỉ đường cho những kẻ bị lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối, cho người có mắt thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Vậy nay con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y Tăng, mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, trọn đời quy ngưỡng.”
Đọc vào đoạn kinh này, chúng ta thấy vị Bà-la-môn này thật dễ thương quá. Người có hiếu với Mẹ Cha, tìm đồ ăn đúng pháp để nuôi dưỡng Cha Mẹ mà lại còn có một niềm tin sâu xa nơi Phật-Pháp-Tăng, để xin quy y và trọn đời gìn giữ. Ở đây chúng ta có thể hiểu phương cách giáo dục của Đức Phật là ấn chứng những gì đúng sự thật và khuyến khích người làm đúng theo sự thật đó. Còn tin hay không tin, làm theo hay không làm là tùy thuộc nơi họ, mà Đức Phật không bắt buộc. Con đường giáo dục thực tại khách quan. Phần còn lại để cho người thẩm định và quyết định. Thẩm định và quyết định là tinh thần giáo dục người đánh thức tự kỷ. Hiểu vấn đề để giải quyết vấn đề một cách khách quan trong sáng, mẫn tiệp, làm chủ lòng mình rõ ràng của ý thức giáo dục.
Con đường giáo dục hiếu thảo trong đạo Phật có nhiều vô vàn, trong tự thân của mỗi người, trong tự mỗi môi trường, hoàn cảnh… Căn cơ nào trình độ nào cũng đều được Đức Thế Tôn ân cần chỉ dạy. Những tưởng tinh thần giáo dục “Hiếu Thảo – Nuôi Dưỡng Mẹ” này được mở rộng qua các kinh văn Đại Thừa, để có được cái nhìn phổ quát, trải nghiệm cho tự thân mà hoàn thành bổn phận làm con trong muôn một.
Trong kinh Vu Lan Báo Hiếu Phụ Mẫu Ân:
Trên đường đi hóa độ cùng với hàng Thánh đệ tử, Đức Phật thấy bên vệ đường có một đống xương khô, Ngài bèn bước tới và sụp lạy ba lạy trước sự chứng kiến của hàng đại chúng. Tôn giả A Nan liền bạch Phật:
“Thầy là Từ Phụ ba phương bốn loài
Ai ai cũng kính Thầy dường ấy
Cớ sao Thầy lại lạy xương khô?”
Nghe Tôn giả A Nan hỏi như vậy, Đức Phật giảng giải, quả thật A Nan không biết gì hết, chẳng liễu tri, thẩm thấu bao nhiêu nhân duyên của kiếp người. Chẳng hiểu con đường sanh tử chồng chất bao đời sống rồi chết, chết rồi sống vô lượng kiếp không thể tính đếm, nhớ quên theo trí tuệ của con người thế gian. Kiếp này làm Mẹ, kiếp sau làm con. Kiếp này làm người, kiếp sau làm loài vật… Cứ thế vòng luân hồi vô tận. Đức Phật dạy:
“Đống xương dồn dập bấy lâu
Cho nên trong đó biết bao cốt hài
Chắc cũng có ông bà cha mẹ
Hoặc thân ta hoặc kẻ ta sanh
Luân hồi sanh tử, tử sanh
Lục thân đời trước thi hài còn đây
Ta lễ bái kính người tiền bối
Và ngậm ngùi vì nhớ kiếp xưa.”
Vì nhớ kiếp xưa đã là con của Mẹ. Mẹ bế! Mẹ bồng! Mẹ ru! Mẹ hát con ngủ, cho con của Mẹ chóng ăn, chóng ngủ, chóng lớn, chóng khôn mà thành người hữu dụng cho đời, không uổng công Mẹ tảo tần hôm sớm vì con. Như Lai sụp lạy đống xương vì kính người tiền bối, vì kính trọng ông bà, cha mẹ, kiếp trước đã sinh tiền thân của Như Lai, nhưng rồi đã chết; đống xương hỗn tạp còn đây, còn bên lề đường, không hương không khói, không người trông coi, không ai cúng quảy, hoang tàn, điêu linh.
Tinh thần hiếu thảo này, không phải chỉ có hiện đời mà còn có cả lục thân quyến thuộc, cửu huyền thất tổ, cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp trong quá khứ cho đến hôm nay và mãi mãi cha mẹ trong tương lai. Trả hiếu thảo cho cha mẹ trong quá khứ, vì quá khứ chúng ta đã có cha mẹ. Trả hiếu cho cha mẹ hiện đời, vì thân ta đang có hôm nay và cha mẹ còn đang sống với chúng ta hôm nay. Trả hiếu cho cha mẹ trong tương lai vì ta sẽ được cha mẹ sinh ra trong ngày tháng ở tương lai. Như vậy, ba thời chúng ta đều phải nhớ công ơn sinh thành của cha mẹ mà đền đáp công ơn hiếu thảo. Chúng ta đã nuôi dưỡng Mẹ trong quá khứ. Chúng ta đang nuôi dưỡng Mẹ trong hiện tại. Và chúng ta sẽ nuôi dưỡng Mẹ trong tương lai. Không có cha mẹ làm sao có thân ta chào đời, làm sao ta được lớn khôn thành vóc nên hình, có quyền cao tước cả, có tiếng tăm lừng lẫy trên đời. Do vậy, Đức Thế Tôn dạy ‘Kinh Nuôi Dưỡng Mẹ’ là tinh thần giáo dục Hiếu Thảo, chúng ta phải phụng hành.
Để thấy rõ tiến trình hình thành thân của người con, Đức Phật đã dạy:
“Thân đàn bà nhiều bề cực nhọc
Sanh được con thập ngoạt cưu mang
Tháng đầu, thai đậu tợ sương
Mai chiều gìn giữ sợ tan bất thường
Tháng thứ nhì dường như sữa đặc
Tháng thứ ba như cục huyết ngưng
Bốn tháng đã tượng ra hình
Năm tháng ngũ thể hiện sinh rõ ràng
Tháng thứ sáu lục căn đều đủ
Bảy tháng thì đủ bộ cốt xương
Lại thêm đủ lỗ chân lông
Cộng chung đến số tám muôn bốn ngàn
Tháng thứ tám hoàn toàn tạng phủ
Chín tháng thì đầy đủ vóc hình
Mười tháng thì đến kỳ sinh.”
Sự hình thành của một đứa con là vậy đó, những ai xem thường công đức của Mẹ mang thai con trong lòng, thì hãy nên ăn năn sám hối; nhớ đừng bất hiếu với Mẹ mà phải cưu mang tội đồ, con đường đến ba cõi dữ sẽ không xa đâu, đang mở cửa để chào đón những ai bất hiếu ngỗ nghịch với mẹ, như câu chuyện ‘Quả báo làm Mẹ đau khổ’.
Công ơn của Mẹ mang con trong lòng, công ơn của Mẹ sinh con rồi nuôi con lớn. Công ơn của Mẹ dựng vợ gả chồng nên bề gia thất cho con được an nhàn là cả một thời gian công lao của Mẹ. Ngôn ngữ trần gian không thể nói sao cho đủ. Đọc đoạn kinh trên đủ cho chúng ta một bài học làm được thân người là khó. Vậy mà hôm nay ta đã được công ơn của Mẹ mà thành tựu. Do vậy, làm con phải có hiếu thảo với Mẹ Cha.
Đức Phật dạy trong các kinh về sự phụng dưỡng Cha Mẹ rất rõ ràng. Nhân đây, chúng ta hãy đọc qua những lời dạy ấy. Những tinh thần giáo dục Hiếu Thảo ngàn đời luôn trong sáng và mới mẻ trong con.
Kinh Tâm Địa Quán:
“Ở đời mẹ hiền chịu thai con
Mười tháng cưu mang luôn chịu khổ
Với năm dục lạc tình không đắm
Tùy thời ăn uống cũng chung đồng
Ngày đêm canh cánh lòng thương xót
Đi đứng nằm ngồi chịu khổ đau
Đến thời mãn nguyệt sinh con dại
Đau tựa dao gươm cắt ruột gan
Mê mẩn Đông Tây không phân biệt
Khắp thân đau đớn khó nhẫn kham…”
Kinh Bổn Sự:
“Cha mẹ đối với con, công đức cao nặng sâu dày: ân đức sản sinh từ tâm bú mớm, ân đức tắm giặt nuôi nấng trưởng thành, ân đức cung cấp các món cần dùng, ân đức chỉ dạy cách sống ở đời. Cha mẹ luôn luôn muốn con rời khổ được vui, không bao giờ xao lãng, nhớ con thương con như bóng theo hình.”
Kinh Tâm Địa Quán:
“Ân cha hiền lớn như núi cả, ân mẹ hiền to như bể rộng, không gì hơn một niềm hiếu thuận, đem vật nhỏ mọn nuôi dưỡng mẹ lành, ở đời lấy gì làm sáng, lấy gì làm tối? Mẹ hiền còn sống gọi là mặt trời giữa trưa chói sáng, mẹ hiền khuất bóng gọi là mặt trời đã lặn; mẹ hiền còn sống gọi là mặt trăng sáng tỏ, mẹ hiền mất rồi gọi là đêm tối âm u.”
“Quả đất ở đời gọi là nặng
Mẹ hiền ơn nặng quá hơn nhiều
Tu Di người đời gọi là cao
Mẹ hiền ân cao quá hơn nhiều
Gió lốc ở đời gọi là mau
Nhất niệm mẹ hiền mau hơn nhiều.”
Kinh Hiếu Tử:
“Làm con phụng dưỡng cha mẹ, dùng trăm vị cam lồ dâng cúng cha mẹ, dùng thiên nhạc vi diệu làm vui lòng cha mẹ, sắc phục tôn quý nhất chói sáng thân cha mẹ, hai vai tự cõng cha mẹ đi cùng khắp bốn biển, trọn đời đáp ân nuôi dưỡng cha mẹ, như vậy chưa gọi là hiếu. Cha mẹ không kính thờ Tam Bảo, làm con phải biết hướng dẫn cha mẹ có niềm tin sâu sắc và dốc lòng tu tập theo lời Phật dạy, như vậy mới gọi là hiếu.”
Long Thư Tịnh Độ:
“Lấy món cam lồ phụng dưỡng cha mẹ là hiếu thế gian. Khuyên cha mẹ tu tịnh giới là hiếu xuất thế gian. Hiếu thế gian thì cha mẹ chỉ hưởng phước trong một đời, báo hiếu như vậy không lớn. Hiếu xuất thế gian giúp cha mẹ hưởng phước vô tận, vì cha mẹ được sinh Tịnh Độ phước thọ trải vô lượng kiếp, như vậy mới là đại hiếu.”
Khi kiết Bồ Tát Giới, Đức Phật dạy rằng: “Hiếu thuận với Cha Mẹ, Sư Tăng, Tam Bảo. Hiếu thuận là pháp chí đạo. Hiếu gọi là Giới, cũng gọi là Cấm Giới.”
Dẫn chứng vài kinh luật như thế, để tất cả chúng ta thấy được công ơn của cha mẹ to lớn mà giữ lòng hiếu thảo, trọn phận làm con./.

Nguồn: Tập san Chánh Pháp số 166 – tháng 9-2025.