Đế hệ thi & Phiên hệ thi

TVGĐPT – Nhằm mục đích để giữ sự nghiệp lâu dài cho mình và con cháu, dòng tộc nhiều đời sau, vào năm Minh Mạng thứ 4 (Quý Mùi – 1823), vua Minh Mạng đã đặt ra phép đặt tên đôi và sắc ban bài “Đế hệ thi” cùng 10 bài “Phiên hệ thi” để quy định các chữ đệm đặt tên cho con cháu (trai) các thế hệ sau.

Quy định này thật ra là làm theo nhưng chi tiết hóa thêm truyền thống trước đó của triều Nguyễn từ đời vua Gia Long. Vua Gia Long quy định cách viết Tộc phả nhà Nguyễn là: Con cháu Nguyễn Hoàng vào Nam thì chép theo họ Tôn thất Nguyễn Phúc; con cháu của Nguyễn Hoàng ở Bắc và các Chi trước Nguyễn Hoàng ở Thanh Hóa thì thuộc về họ Nguyễn Hựu.

Về nguồn gốc của quyết định này, tương truyền rằng Minh Mạng dựa vào thuyết “Chính danh” của Khổng Tử trong “Luận ngữ”, sai Khê đình hầu Đinh Hồng Phiên (Đinh Nguyễn Phiên) làm ra bài Đế hệ thi và bộ Phiên hệ thi đã nói trên. Ngoài ra vua Minh Mạng còn đặt ra bài “Nhật tự bộ nhị thập” (hai mươi chữ bộ Nhật), để khi một vua mới  lên ngôi, chọn trong đó một chữ làm tên của mình, nhưng xét thấy không còn cần thiết nên chúng ta không đề cập thêm ở đây để tránh dài dòng.

Theo phép đặt tên đôi nói trên của vua Minh Mạng, người kế nghiệp khi nối ngôi vua, có thể lấy một chữ làm tên, lấy một chữ trong bộ chữ ‘Nhật’ (Hán ngữ) làm nghĩa, tượng trưng ngôi vua. Dòng ‘đế’ (Đế hệ) được kế thừa đế nghiệp và dòng ‘thân’ (Phiên hệ) là để bảo vệ Đế hệ.

ĐẾ HỆ THI

Bài Đế hệ thi gồm 20 chữ với ý nghĩa tốt lành và khá uyên bác, dùng làm chữ lót tên cho mỗi thế hệ từ vua Minh Mạng trở về sau:

綿 洪 膺 寶 永
保 貴 定 隆 長
賢 能 堪 繼 述
世 瑞 國 嘉 昌

Phiên âm:

Miên Hồng (Hường) Ưng Bửu Vĩnh
Bảo Quý Định Long Trường
Hiền Năng Kham Kế Thuật
Thế Thụy Quốc Gia Xương.

Tạm dịch nghĩa:

Huân nghiệp lớn do Tổ Tiên gầy dựng,
Gắng giữ gìn cho xứng ân sau, phồn vinh thịnh đạt dài lâu.
Anh tài hiền đức cùng nhau bảo toàn,
Đời đời nối nghiệp tiền nhân, nước nhà hưng vượng muôn phần phát huy.

Và bài thơ chiết tự giải nghĩa từng chữ như sau:

Miên trường cửu phước duyên trên hết
Hường (Hồng) oai hùng đúc kết thế gia
Ưng nên danh xây dựng sơn hà
Bửu (Bảo) bối báu lợi tha quần chúng
Vĩnh bền chí hùng anh ca tụng
Bảo ôm lòng khí dũng bình sanh
Quý cao sang vinh hạnh công thành
Định tiền quyết thi hành oanh liệt
Long vương tướng Rồng Tiên nối nghiệp
Trường vĩnh cửu nối tiếp giống nòi
Hiền tài đức phúc ấm sáng soi
Năng gương nơi khuôn phép bờ cõi
Kham đảm đương mọi cơ cấu giỏi
Kế hoạch sách mây khói cân phân
Thuật biên chép lời đúng ý dân
Thế mãi thọ cận thân gia tộc
Thoại (Thụy) ngọc quý tha hồ phước lộc
Quốc dân phục nằm gốc giang san
Gia muôn nhà Nguyễn vẫn huy hoàng
Xương phồn thịnh bình an thiên hạ.

Theo phép đặt tên này, tất cả con trai của vua Minh Mạng tên đều phải có chữ trước là Miên, chữ tiếp sau là tên do Hoàng gia đặt; con trai của thế hệ Miên tên đều phải có chữ trước là Hồng (Hường), chữ tiếp sau là tên do Hoàng gia đặt…, cứ thế cho đến hết 20 chữ của bài Đế hệ thi.

Với bài Đế hệ thi, vua Minh Mạng mong muốn sau mình, vương triều Nguyễn sẽ truyền nối tới 20 đời, khoảng chừng 500 năm; nhưng cuối cùng chỉ dừng lại ở chữ Vĩnh – đời thứ 5 (đời vua thứ 13 triều Nguyễn)[1].

Quy định cho các Hoàng nữ:

Các quy định trong Đế hệ thi và Phiên hệ thi chỉ dành đặt tên cho các Hoàng nam (Hoàng tử), còn đối với Hoàng nữ thì đặt tên theo quy tắc sau:

– Thế hệ thứ nhất: Các Hoàng nữ đặt tên thời Gia Long còn theo chữ Ngọc (玉), nhưng về sau đều theo ý nghĩa mà đặt. Khi đến tuổi trưởng thành, các Hoàng nữ (皇 女) sẽ nhận danh hiệu Công Chúa (公 主).

– Thế hệ thứ hai: Cháu gái của Hoàng đế, tức là con gái của những Công chúa và các Hoàng tử, được gọi là Công Nữ (公 女) và đặt 2 chữ này trước tên riêng.

– Thế hệ thứ ba: Chắt gái được gọi là Công Tôn Nữ (公 孫 女) và đặt 3 chữ này trước tên riêng.

– Thế hệ thứ tư: Chắt (chút) gái được gọi là Công Tằng Tôn Nữ (公 曾 孫 女) và đặt 4 chữ này trước tên riêng.

Để cho tên được gọn, đa số họ khi xưng tên thường rút ngắn lại thành Tôn Nữ (với ý nghĩa là cháu gái của các Hoàng đế). Các Tôn nữ không có phong hiệu.

PHIÊN HỆ THI

Vua Minh Mạng ban cho dòng họ (từ các con của Gia Long, tức anh em đồng hàng với vua) 10 bài Phiên hệ thi, nhưng một số hoàng thân chết sớm không có con nên không được ban. Phiên hệ thi gồm 10 bài thơ, là tên phiên hệ dùng cho thứ tự đặt tên các Hoàng tử. Chữ lót của mỗi đời dùng một chữ trong bài thơ, nhưng tên ở mỗi đời thì phải dùng một bộ trong Ngũ hành theo thứ tự: Thổ, Kim, Thủy, Mộc, Hỏa và quay trở lại, vì thế tên của tất cả đời thứ nhất dùng bộ Thổ.

10 bài Phiên hệ thi đều do Khê đình hầu Đinh Hồng Phiên thảo tấu và bài nào cũng được vua đọc rất kỹ, thêm hai chữ đầu bài, sửa chữa chỉ một câu hoặc vài ba chữ. Tuy nhiên 10 bài Phiên hệ thi sau đó còn được anh em vua và các Hoàng tử con vua Minh Mạng là những nhà thơ cự phách như Miên Thẩm, Miên Trinh…, góp ý sửa chữa, nội dung chính thức cuối cùng như sau:

1) Anh Duệ hệ:

美 睿 增 彊 壯
聯 輝 發 佩 香
令 儀 咸 巽 順
偉 望 表 坤 光

Mỹ Duệ Tăng Cường Tráng
Liên Huy Phát Bội Hương
Linh Nghi Hàm Tốn Thuận
Vỹ Vọng Biểu Khôn Quang.

2) Kiến An hệ:

良 建 寧 和 術
攸 行 率 義 方
飬 怡 相 式 好
高 宿 彩 為 祥

Lương Kiến Ninh Hòa Thuật
Du Hành Suất Nghĩa Phương
Dưỡng Di Tương Thực Hảo
Cao Túc Thể Vi Tường.

3) Định Viễn hệ:

靖 懷 瞻 遠 愛
景 仰 茂 淸 珂
儼 恪 由 衷 逹
連 忠 集 吉 多

Tịnh Hoài Chiêm Viễn Ái
Cảnh Ngưỡng Mậu Thanh Kha
Nghiễm Khác Do Trung Đạt
Liên Trung Tập Cát Đa.

4) Diên Khánh hệ:

延 會 豐 亨 合
重 逢 雋 朗 宜
厚 留 成 秀 妙
衍 慶 適 芳 徽

Diên Hội Phong Hanh Hiệp
Trùng Phùng Tuấn Lãng Nghi
Hậu Lưu Thành Tú Diệu
Diễn Khánh Thích Phương Huy.

5) Điện Bàn hệ:

信 奠 思 維 正
誠 存 利 妥 貞
肅 恭 承 友 誼
榮 顯 襲 卿 名

Tín Diện Tư Duy Chánh
Thành Tồn Lợi Thỏa Trinh
Túc Cung Thừa Hữu Nghị
Vinh Hiển Tập Khanh Danh.

6) Thiệu Hóa hệ:

善 绍 期 循 理
聞 知 在 敏 猷
凝 麟 才 至 樂
廸 道 允 孚 休

Thiện Thiệu Kỳ Tuần Lý
Văn Tri Tại Mẫn Du
Ngưng Lân Tài Chí Lạc
Địch Đạo Doãn Phu Hưu.

7) Quảng Oai hệ:

鳳 符 徴 啓 廣
金 玉 卓 標 奇
典 學 期 加 志
敦 彝 克 自 持

Phụng Phù Trưng Khải Quảng
Kim Ngọc Trác Tiêu Kỳ
Điển Học Kỳ Gia Chí
Đôn Di Khắc Tự Trì.

8) Thường Tín hệ:

常 吉 遵 家 訓
臨 莊 粹 盛 躬
愼 修 彌 進 德
受 益 懋 新 功

Thường Cát Tuân Gia Huấn
Lâm Trang Túy Thạnh Cung
Thận Tu Dy Tấn Đức
Thọ Ích Mậu Tân Công.

9) An Khánh hệ:

欽 從 稱 懿 範
雅 正 始 弘 規
愷 悌 騰 勤 譽
眷 寧 共 緝 熙

Khâm Tùng Xưng Ý Phạm
Nhã Chánh Thủy Hoằng Quy
Khải Dễ Đang Cần Dự
Quyên Ninh Cộng Tráp Hy.

10) Từ Sơn hệ:

慈 采 揚 瓊 錦
敷 文 藹 耀 陽
百 支 均 輔 翼
萬 葉 效 匡 襄

Từ Thể Dương Quỳnh Cẩm
Phu Văn Ái Diệu Dương
Bách Chi Quân Phụ Dực
Vạn Diệp Hiệu Khuông Tương.

Kim sách Đế hệ thi:

Bài Đế hệ thi được khắc vào một cuốn sách bằng vàng (kim sách) thường gọi là “Kim sách Đế hệ thi”, có tên chính thức là “Thánh chế mạng danh kim sách”. Kim sách này được thiết kế theo khổ chữ nhật đứng 23,2×13,7cm; dày 1,6cm; trọng lượng 4.232gram, gáy đóng bằng 4 khuyên tròn cũng bằng vàng. Sách gồm 13 tờ; 11 tờ ruột khắc chạm sách văn bài Đế hệ thi và 10 bài Phiên hệ thi (Hán tự) trên các phiến vàng gập đôi; bìa trước và sau chạm nổi hình rồng bay trong mây, xung quanh viền hoa lá cách điệu rất tỉ mỉ. Tại tờ thứ 7 chạm mặt ấn “Minh Mạng thần hàn” (明 命 宸 翰) trong khung chữ nhật kép. Bên cạnh mặt ấn ckạm 8 chữ: 明 命 肆 年 正 月 元 旦 (Minh Mạng tứ niên chính nguyệt Nguyên Đán, nghĩa là ngày mồng 1 tháng Giêng, năm Minh Mạng thứ 4).

[1] Chú thích:
– Thế hệ đầu theo Đế hệ thi là Hoàng đế thứ 3 Thiệu Trị – Nguyễn Phúc Miên Tông.
– Thế hệ thứ 2: Tự Đức – Nguyễn Phúc Hồng Nhậm; Hiệp Hòa – Nguyễn Phúc Hồng Dật.
– Thế hệ thứ 3: Dục Đức – Nguyễn Phúc Ưng Chân; Kiến Phúc – Nguyễn Phúc Ưng Đăng; Hàm Nghi – Nguyễn Phúc Ưng Lịch; Đồng Khánh – Nguyễn Phúc Ưng Kỷ.
-Thế hệ thứ 4: Thành Thái – Nguyễn Phúc Bửu Lân; Khải Định – Nguyễn Phúc Bửu Đảo.
– Thế hệ thứ 5: Duy Tân – Nguyễn Phúc Vĩnh San và Bảo Đại – Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy.

QUANG MAI sưu tầm & biên tập.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.