
TVGĐPT – Với một văn phong bình dị mà sinh động, sử dụng ngôn ngữ bình dân mộc mạc, trong sáng mà đượm chất hiện thực và nhân văn, “Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc” do nhà Chí sĩ – Thi hào Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) chấp bút là tiếng khóc bi tráng cho một thời kỳ lịch sử đau thương nhưng oai hùng, oanh liệt của dân tộc Việt; là thiên anh hùng ca bất hủ và bất tử về những người “Nghĩa sĩ nông dân” Cần Giuộc đã anh dũng chiến đấu và hy sinh vì Tố quốc, non sông.
Bài “Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc” được cụ Nguyễn Đình Chiểu viết bằng chữ Nôm, gồm 30 liên, tức 60 vế đối biền ngẫu, theo thể phú Đường luật, có vần có đối; nội dung bi thiết, trầm hùng. Điểm độc đáo của bài văn tế là ngôn ngữ chuyển tải những chi tiết dung dị, quen thuộc trong đời sống thường nhật, câu chữ rặc chất Nam Kỳ mà đã gợi lên vô cùng rõ nét hình ảnh sống động và có sức cổ vũ rất cao của một thế hệ những người kháng chiến yêu nước vào thời kỳ gian khó ấy.
Nhưng trước tiên chúng ta hãy tìm về thời điểm và căn nguyên xuất xứ bài văn tế đặc sắc của người xưa mà nay đã trở thành một áng văn chương để đời, vượt lên thành một tác phẩm văn học ấn tượng trong nền văn học sử, và có thể nói không ngoa là “hằng triệu người dân Việt đã biết đến hoặc chí ít là đã nghe nói đến”…

Viện cớ Triều đình nhà Nguyễn cấm đạo Thiên Chúa và bắt bớ, giết hại giáo sĩ, ngày 31-8-1858 liên quân Pháp – Tây Ban Nha từ hải cảng Tourane (Đà Nẵng) đã dùng đại bác trên các chiến hạm nã những phát súng xâm lăng đầu tiên vào Đà Nẵng, chiếm cứ các đồn binh cả một vùng bán đảo Sơn Trà – An Hải – Non Nước. Tuy nhiên gặp sự kháng cự dai dẵng trong gần một năm của quân dân triều Nguyễn, thực dân Pháp chia quân, rút 2/3 quân số (chừng 2.000 quân) và 8 chiến thuyền theo đường biển tiến về Nam. Ngày 10-2-1859 tàu Pháp nã đại bác vào Ô Cấp (Vũng Tàu), rồi tiếp tục tiến vào biển Cần Giờ (11-2-1859) bắn phá và sáng ngày 16-2-1859 thì bắt đầu công phá thành Gia Định. Sau khi chiếm được thành Gia Định (17-2-1859), hạ được đại đồn Kỳ Hoà, quân Pháp bắt đầu chiến lược mở rộng cuộc tấn công ra các vùng lân cận… Năm 1861, Pháp tiến quân đánh Mỹ Tho, hạ được thành và chiếm thị xã Gò Công cùng hai xứ Tân An, Cần Giuộc.
Căm phẫn trước hành động xâm lăng ngang ngược của chế độ thực dân, các Chí sĩ yêu nước: Trương Công Định, Hồ Huấn Hiệp, Phan Văn Đạt, Cai tổng Bùi Quang Là v.v… tổ chức lực lượng Nghĩa binh ở Tân An, Chợ Lớn, Gò Công nổi lên chống Pháp. Dưới sự chỉ huy của Cai tổng Là, vào đêm Rằm tháng 11 năm Tân Dậu (16-12-1861), Nghĩa quân – chỉ toàn là những nông dân chất phát yêu nước – khí giới thô sơ, với giáo mác, gậy gộc, cuốc cào, dao rựa, đòn xóc tầm vông đã sớm làm nên trận chiến thắng đầu tiên: Tập kích chợ Trường Bình ở Cần Giuộc (tức quận Cần Giuộc, nay thuộc tỉnh Long An), hạ sát viên trung uý Pháp trưởng đồn, gây thương vong cho 50 lính Pháp, 1 viên Tri huyện và đốt cháy một dãy nhà của Việt gian cộng tác với Pháp. Tuy trận thắng của lực lượng “Nghĩa quân nông dân” làm nức lòng đồng bào miền sông nước và âm vang khắp Nam Kỳ lục tỉnh, ra đến Trung Kỳ, vào tận kinh đô Huế, nhưng lực lượng Nghĩa binh đã có 15 người (có tài liệu khác ghi 27 người) hy sinh đền nợ nước.
Sau trận đánh, Tuần phủ Gia Định là Đỗ Quang ra lệnh cho Bùi Quang Là (Cai tổng Là) tổ chức một lễ tế [tại chùa Tôn Thạnh (?)] để truy điệu những Nghĩa binh tử trận. Bùi Quang Là nhờ cụ Nguyễn Đình Chiểu (lúc bấy giờ đang ở quê vợ tại làng Thanh Ba – nay thuộc xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc) chấp bút cho bài văn tế. Sau đó Tuần phủ Đỗ Quang cho sao lại bài văn tế này gởi kèm theo báo cáo về triều đình Huế. Khi triều đình Huế nhận được bài văn tế, vua Tự Đức đã ra lệnh sao ra gởi tới các tỉnh Trung – Bắc Việt, sai phổ biến rộng rãi để khích lệ tướng sĩ và đồng bào. Bài văn tế loan ra, Miên Thẩm – Tùng Thiện Vương (cũng là một nhà thơ) đã có thơ ca ngợi rằng “thư sinh giết giặc bằng ngòi bút”, còn Mai Am nữ sĩ viết là “Quốc ngữ một thiên truyền mãi mãi”; nhiều văn nhân, thi sĩ trong nước đã bày tỏ sự xúc động và kính trọng của mình theo nhiều cách, không chỉ vào thờ điểm ấy mà còn đến tận bây giờ…

VĂN TẾ
NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
Tác giả chấp bút: Nguyễn Đình Chiểu
oOo
Hỡi ơi!
Súng giặc đất rền;
Lòng dân trời tỏ.
Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;
Một trận nghĩa đánh Tây, thân tuy mất tiếng vang như mõ.
Nhớ linh xưa:
Cui cút[1] làm ăn;
Riêng lo[2] nghèo khó.
Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung[3];
Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ[4].
Việc cuốc việc cày, việc bừa việc cấy, tay vốn quen làm;
Tập khiên[5] tập súng, tập mác tập cờ, mắt chưa từng ngó.
Tiếng phong hạc[6] phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn mong mưa;
Mùi tinh chiên[7] vấy vá[8] đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.
Bữa thấy bòng bong[9] che trắng lốp, muốn tới ăn gan;
Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.
Một mối xa thư[10] đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu[11];
Hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó[12].
Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình[13];
Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ[14].
Khá thương thay:
Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ[15], theo dòng[16] ở lính diễn binh[17];
Chẳng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ[18].
Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;
Chín chục trận binh thư, đâu chờ bày bố.
Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi đeo bao tấu[19] bầu ngòi[20];
Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu[21] nón gõ[22].
Hỏa mai[23] đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;
Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.
Chi nhọc quan quản gióng trống kỳ trống giục, đạp rào lướt tới coi giặc cũng như không;
Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào liều mình như chẳng có.
Kẻ đâm ngang người chém dọc, làm cho mã tà[24] ma ní[25] hồn kinh;
Bọn[26] hè trước lũ[27] ó sau, trối kệ tàu thiếc tàu đồng súng nổ.
Ôi!
Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;
Đâu biết xác phàm[28] vội bỏ.
Một giấc sa trường rằng chữ hạnh[29], nào hay da ngựa bọc thây[30];
Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ[31].
Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;
Nhìn chợ Trường Bình[32], già trẻ hai hàng luỵ[33] nhỏ.
Chẳng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh[34] đánh giặc cho cam tâm;
Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực[35] theo quân cho đáng số.
Nhưng nghĩ rằng:
Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi[36] cho nước nhà ta;
Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.
Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;
Vì ai xui hào luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió?
Sống làm chi theo quân tả đạo[37], quăng vùa hương[38] xô bàn độc[39], thấy lại thêm buồn;
Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.
Thà thác mà đặng câu địch khái[40], về theo tổ phụ[41] cũng vinh;
Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di[42] rất khổ.
Ôi thôi thôi!
Chùa Tân Thạnh[43] năm canh ưng[44] đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;
Đồn Lang Sa[45] một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc[46] trôi theo dòng nước đổ.
Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;
Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ[47] trước ngõ.
Ôi!
Một trận khói tan;
Nghìn năm tiết rỡ.
Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm cho bốn phía mây đen;
Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ[48].
Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;
Thác mà ưng[49] đền miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.
Sống đánh giặc thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;
Sống thờ vua thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.
Nước mắt anh hùng[50] lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân[51];
Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ[52].
Hỡi ơi! Thương thay!
Có linh xin hưởng!

CHÚ GIẢI:
* Xin lưu ý: Cũng như những tác phẩm cỗ khác được lưu truyền nhiều trong dân gian, bài văn tế này cũng có nhiều (ít nhất là 3) dị bản khác nhau một vài chi tiết (chữ – nghĩa) nhỏ trong nội dung, tuy tổng thể không có sự dị biệt.
[1] Cui cút làm ăn có nghĩa là làm ăn lẻ loi, thầm lặng một cách tội nghiệp.
[2] Có bản chép là ‘toan lo’.
[3] Chỗ đánh nhau.
[4] Làng xóm. Có bản chép là ‘làng hộ’.
[5] Thứ mộc hình tròn đan bằng mây dùng để đỡ mũi giáo đối phương khi xung trận.
[6] Lấy ở câu “Phong thanh hạc lệ, thảo mộc giai binh”, nghĩa gốc là nói sự hồi hộp lo lắng, nghe tiếng gió thổi hạc kêu, thấy cây cỏ cũng tưởng là giặc đuổi đánh. Ở đây, “tiếng phong hạc” có nghĩa là nghe tin kẻ địch đến.
[7] Tanh hôi, chỉ thực dân Pháp.
[8] Dây dính bậy bạ.
[9] Giống cây dây leo có nhiều râu (tay leo). Ở đây chỉ những lều và buồm vải có nhiều dây của quân Pháp.
[10] Cỗ xe và chữ viết, do chữ “xa đồng quỹ, thư đồng văn”, nghĩa là xe cộ cùng một đường (quỹ: dấu xe đi), sách viết cùng một thứ chữ, ý nói sự thống nhất hoàn toàn.
[11] Đến chiếm cướp, lấy tích Lưu Bang cướp ngôi nhà Tần. Cả vế “một mối… đuổi hươu” có nghĩa: đất nước ta là một khối thống nhất, không thể nào để kẻ nào đến chiếm cướp.
[12] Ý từ “treo thịt dê, bán thịt chó”, chỉ phường lừa lọc cướp phá không có luân thường đạo lý.
[13] Chém cá kình.
[14] Bắt hổ.
[15] Các loại lính (như binh chủng quân đội) thời phong kiến.
[16] Dòng dõi cha ông.
[17] Luyện tập việc binh.
[18] Tuyển trên cơ sở tình nguyện (chiêu: vời, mời; mộ: cầu, tìm).
[19] Bao kiếm.
[20] Bầu đựng ngòi nổ.
[21] Dao dài lưỡi.
[22] Nón của người lính thời xưa.
[23] Mồi lửa để bắn súng ngày trước.
[24] Theo tiếng Mã Lai (Malaysia) là cảnh sát.
[25] Lính của Tây Ban Nha mộ ở Phi Luật Tân (Mani: Manila thủ đô Phi Luật Tân).
[26] [27] Bọn, lũ: trước đây chỉ cho số nhiều người, không có nghĩa là coi thường. Ở đây chỉ các nghĩa quân.
[28] Xác của con người trần tục.
[29] Hạnh là may, ý nói may được cứu sống. Quy: về, ở đây là chết.
[30] Chỉ việc hy sinh nơi chiến trường. Do câu nói của Mã Viện đời Hán (Trung Quốc): Kẻ làm trai nên chết ở chốn biên thuỳ, lấy da ngựa bọc thây mà chôn mới là đáng trọng, chứ sao lại chịu nằm ở xó giường, chết ở trong tay bọn đàn bà con trẻ thì có hay gì.
[31] Theo tích một nghĩa sĩ thời Chiến Quốc không thỏa được chí mình, trước khi chết, dặn con treo gươm trên mộ để tỏ chí khí.
[32] Thuộc Cần Giuộc.
[33] Lệ (nước mắt).
[34] Làm lính.
[35] Làm hết sức để chuộc tội (hiệu: hết sức), hoặc có tội phải đi làm những việc nguy hiểm để chuộc tội.
[36] Vun đắp (tài: trồng cây, bồi: vun thêm).
[37] Đạo bất chính, ở đây chỉ đạo Gia-tô. Bấy giờ bọn cướp nước lợi dụng đạo Gia-tô để chia rẽ đồng bào ta và mượn cớ đi truyền đạo để do thám. Các chí sĩ của ta chưa nhận rõ đâu là kẻ theo địch, đâu là người theo đạo nên chủ trương “bài đạo” nói chung.
[38] Lư hương.
[39] Bàn thờ Tổ tiên.
[40] Tinh thần chống lại kẻ mình căm giận.
[41] Ông nội, người sinh ra cha. Ở đây chỉ Tổ tiên nói chung.
[42] Mọi rợ, ở đây chỉ giặc Pháp.
[43] Một ngôi chùa ở Chợ Lớn. Có những bản chép là ‘chùa Tôn Hạnh’, ‘chùa Lão Ngộ’.
[44] Phải chịu.
[45] Đồn Pháp. Có sách chép ‘đồn Tây Lương’.
[46] Phận mỏng.
[47] Vất vơ vất vưởng.
[48] Chữ Hán là “xích tử”, trẻ con mới đẻ còn đỏ hỏn. Nghĩa bóng là dân chúng (cần được chăm sóc như chăm sóc đứa trẻ mới đẻ).
[49] Được, muốn, muốn được.
[50] Phải hiểu là nước mắt khóc người anh hùng.
[51] Dân của trời, như thiên tử: con trời.
[52] Đất của vua, lấy trong Kinh thi. Ở đây dùng với ý trách nhà vua: dưới gầm trời đâu cũng là đất của vua, trong bốn bể ai cũng là bề tôi của vua, thế mà dân chúng, đất đai ấy lại bị đấng quân vương để rơi vào tay giặc.
